Thứ Hai, 31 tháng 10, 2011

RFI. GS Tương Lai : "Phải trưng cầu dân ý về điều 4 Hiến pháp"

Nguồn RFI

Thanh Phương

Sau nhiều lần đình hoãn, Việt Nam bắt đầu chuẩn bị sửa đổi Hiến pháp 1992. Theo dự kiến, dự thảo Hiến pháp sửa đổi sẽ được Quốc hội thông qua vào tháng 10/2013. Phiên họp thứ nhất của Uỷ ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã diễn ra vào đầu tháng 8/2011 dưới sự chủ toạ của chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng.

Chưa biết Hiến pháp sẽ được sửa đổi như thế nào, nhưng trong phiên họp hôm đầu tháng 8/2011, ông Nguyễn Sinh Hùng đã tuyên bố là việc biên soạn dự thảo phải bám sát thực tế, lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân, nhưng đồng thời phải " bám sát Cương lĩnh, đường lối chủ trương của Đảng". Ông Nguyễn Sinh Hùng còn yêu cầu là hoạt động của ủy ban phải " bảo đảm nguyên tắc sự lãnh đạo của Đảng". Trước khi trình cho Quốc hội vào tháng 10 năm 2012, bản dự thảo Hiến pháp còn phải được báo cáo cho Bộ Chính trị.

Trong điều kiện như vậy, việc sửa đổi Hiến pháp liệu có sẽ dẫn đến những thay đổi căn bản về thể chế ở Việt Nam? Hiến pháp cần phải được sửa đổi như thế nào để thật sự có tam quyền phân lập, để Nhà nước thật sự là cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân?

Đối với giáo sư Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, những bản Hiến pháp sau này của Việt Nam coi như đã đi thụt lùi so với bản Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đây là bản Hiến pháp được coi là rất dân chủ, nhất là vì nó bảo đảm tam quyền phân lập và quy định quyền phúc quyết Hiến pháp của người dân. Cho nên, theo giáo sư Tương Lai, việc sửa đổi Hiến pháp 1992 dĩ nhiên phải đáp ứng những yêu cầu mới của thế kỷ 21, nhưng phải dựa trên căn bản là tinh thần của bản Hiến pháp 1946.

Sau đây mời quý vị nghe phần phỏng vấn với giáo sư Tương Lai từ Sài Gòn:

 

Giáo sư Tương Lai
 
28/10/2011
by Thanh Phương
 
 

RFI: Kính thưa giáo sư Tương Lai, theo giáo sư, trong việc sửa đổi Hiến pháp 1992, điều gì là trọng yếu nhất?

Giáo sư Tương Lai: Việc sửa đổi Hiến pháp là một điều đáng mừng, vì đó là đòi hỏi của đời sống. Vấn đề đặt ra là phải sửa như thế nào để đáp ứng nguyện vọng của dân. Tôi cho là sửa Hiến pháp tương đối dễ, vì đã có một cái chuẩn, đó là Hiến pháp 1946 của Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam DCCH, được thông qua cách đây 65 năm, tháng 11 năm 1946.

Theo đánh giá của các chuyên gia, Hiến pháp 1946 là Hiến pháp tiến bộ nhất, mẫu mực nhất. Đó là một Hiến pháp dân chủ, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng chính phủ, một ngày sau khi tuyên bố độc lập 2/9:  "Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ". Hiến pháp 1946 là làm theo hướng thượng tôn pháp luật để đảm bảo quyền lợi của dân.

Đương nhiên là đã 65 năm rồi, thời cuộc có thay đổi và phải cập nhật với tinh thần của thế kỹ 21 này, nhưng về cơ bản thì phải dựa trên Hiến pháp 1946, theo tinh thần Tuyên ngôn độc lập: "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ có những quyền không ai xâm phạm được. Trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Hiến pháp 1992 nếu có được sửa đổi thì phải theo được tinh thần đó.

RFI: Thưa Giáo sư, Hiến pháp 1946 là mẫu mực vì nó phân định rạch ròi tam quyền phân lập: hành pháp, lập pháp và tư pháp?

Giáo sư Tương Lai: Cái mà tôi nói là có một mô hình tương đối chuẩn là Hiến pháp 1946 không phải là ý kiến cá nhân. Tôi có tham dự cuộc họp của hội đồng xét duyệt thẩm định các đề tài sửa đổi Hiến pháp 1992, do Văn phòng QH và Bộ Khoa học Công nghệ triệu tập. Trong Hội đồng đó, tất cả các thành đều nhận định rằng Hiến pháp 1946 là một Hiến pháp mẫu mực, mà những Hiến pháp về sau đó không đạt được. Vậy thì đổi mới có khi lại là quay trở lại cái trước đây. Trước đây làm đúng quy luật, nhưng sau đó người ta lại không làm đúng quy luật, gây nên những trở ngại.

Nếu tôi nhớ không nhầm thì Hiến pháp 1946 gồm có 70 điều, nội dung có nhiều, nhưng chỉ tập trung vào hai vấn đề: xác lập quyền của công dân, quyền của Nhà nước và quyền giữa các cơ quan Nhà nước với nhau. Mà ở đây nổi bật lên hai điểm quan trọng nhất: ngăn cấm sự lạm quyền của quyền lực Nhà nước và đảm bảo quyền tự do dân chủ của công dân.

Hiến pháp 1946 làm nổi bật lên nguyên tắc cơ bản là đặt pháp quyền lên trên Nhà nước và quyền phúc quyết Hiến pháp là thuộc về dân. Nhà nước pháp quyền phải được tổ chức theo nguyên tắc là tam quyền phân lập, để kiểm tra lẫn nhau. Trong Nhà nước pháp quyền ấy, Nhà nước và công chức chỉ được phép làm những gì luật pháp cho phép, còn người dân thì được làm tất cả những điều gì luật pháp không cấm. Những yếu tố pháp quyền đặt lên trên nguyên tắc quyền lực và tổ chức quyền lực là điều mà các Hiến pháp sau này không làm rõ. Bây giờ sửa đổi thì phải quay trở về với tinh thần, nội dung và những nguyên tắc mà Hiến pháp 1946 đã đạt được.

RFI: Thưa giáo sư, có một điểm trước đây không có trong Hiến pháp 1946, đó là vai trò lãnh đạo của Đảng, như quy định của điều 4 Hiến pháp 1992. Vậy thì khi sửa đổi Hiến pháp, có nên xóa bỏ điều 4 hoặc sửa đổi điều khoản này?

Giáo sư Tương Lai: Về điểm này thì theo tôi, tốt nhất là thực hiện ngay tinh thần mà tôi nêu lên trong Hiến pháp 1946, đó là quyền của người dân được phúc quyết Hiến pháp.

Đảng khẳng định là vai trò lãnh đạo của đảng đã được nhân dân tôn trọng. Tôi nhớ là gần đây, bạn tôi, giáo sư Chu Hảo, trong một bài báo có đặt ra vấn đề như thế này: điều 4 Hiến pháp quy định về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vậy thì để khẳng định một lần nữa là ý đảng hợp với lòng dân, chỉ việc đưa ra trưng cầu dân ý, theo tinh thần quyền phúc quyết thuộc về dân. Nếu đúng là dân tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của đảng, thì quyền phúc quyết Hiến pháp ấy của dân sẽ có sức mạnh lớn lao và làm uy tín lãnh đạo của đảng tăng lên, đồng thời trở thành vấn đề mang tính pháp lý nữa. Vậy thì hãy mạnh dạn đưa vấn đề này ra để người dân phúc quyết.

Cho nên, không nên đặt ra vấn đề là xóa bỏ hay không xóa bỏ điều 4. Ai có quyền làm điều đó? Chỉ có dân mới có quyền mà thôi.

RFI: Thưa giáo sư, ở Việt Nam có một số văn bản luật bị xem là trái với Hiến pháp. Trong Hiến pháp có quy định những quyền tự do như quyền tự do ngôn luận, nhưng trong Bộ luật hình sự Việt Nam lại có điều 88 về tội danh "Tuyên truyền chống Nhà nước". Làm sao phân biệt được ranh gìới giữa tự do ngôn luận và tội danh này?

Giáo sư Tương Lai: Ở đây có vấn đề: Những điều quy định trong Hiến pháp, những điều quy định trong luật, hay là trong nghị quyết, với quá trình thực hiện đó, thì bao giờ cũng có một khoảng cách. Khoảng cách đó có thể ngắn, mà cũng có thể dài.

Vấn đề đặt ra là nếu tinh thần thượng tôn pháp luật, "sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật", được thực thi một cách nghiêm túc, thì mọi văn bản luật hay dưới luật đều không được mâu thuẩn với bộ luật tối cao nhất, đó là Hiến pháp, vì Hiến pháp là ý chí của dân tuyên bố trước thế giới về thể chế Nhà nước của mình và cũng là tuyên bố khẳng định là dân sẽ chấp hành trên tinh thần đó.

Quá trình đưa những vấn đề đã quy định trong Hiến pháp, trong luật pháp vào thực tế bao giờ cũng có những mâu thuẩn. Chuyện này phải được khắc phục dần. Để khắc phục nó thì không gì khác hơn là phải làm thế nào để ý thức thượng tôn pháp luật được thực thi một cách nghiêm chỉnh, từ trong dân và trước hết là từ những người cầm quyền.

RFI: Thưa giáo sư, Việt Nam có nên thành lập Tòa án Hiến pháp hay Tòa Bảo Hiến để giám sát tính hợp hiến của các văn bản luật?

Giáo sư Tương Lai: Trong phiên họp thẩm định về đề tài sửa đổi Hiến pháp, chúng tôi, những thành viên trong Hội đồng, cũng đã đề xuất vấn đề này. Phải có Tòa án Hiến pháp để kiểm tra việc thực thi Hiến pháp. Đó là điều phù hợp với xu thế chung của thế giới. Vấn đề đặt ra là Việt Nam, nếu muốn đi vào quỹ đạo chung của thế giới, thì phải làm theo điều này. Nếu những gì trước nay chưa làm được, thì bây giờ làm đi! Đơn giản thế thôi. Vấn đề đặt ra là: Người dân Việt Nam và những người cầm quyền có muốn thực thi Hiến pháp theo đúng quỹ đạo của thế giới văn minh này hay không?

RFI: Nhưng nếu những thành viên của Tòa án Hiến pháp này cũng là do đảng chỉ định thì làm sao có thể bảo đảm được tính độc lập của cơ chế này?

Giáo sư Tương Lai: Đây là vấn đề nan giải đây. Nhưng bất cứ cái gì cũng đòi hỏi từng bước quá độ. Một lúc mà đòi hỏi ngay thì tôi cho đó là ảo tưởng. Nhưng xu thế chung là xu thế thực thi dân chủ. Dân chủ đang là đòi hỏi mang tính bức xúc của toàn xã hội và về phía đảng lãnh đạo, những người cầm quyền đều thấy rằng, chỉ trên cơ sở mở rộng dân chủ, thực thi dân chủ thì vận hành xã hội mới có thể thông suốt.

Trong việc thực thi Tòa án Hiến pháp, bao giờ cũng có cách thành lập và đề cử, rồi thông qua. Vấn đề là cái quy trình đó phải bảo đảm tính chất dân chủ. Cái quy trình dân chủ đó buộc đảng lãnh đạo, cũng như Nhà nước quản lý phải theo đúng mô hình đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ. Đó là cái đã được rao giảng từ rất lâu rồi, bây giờ phải thực thi điều đó. Trong đó, phải nhấn mạnh là nhân dân làm chủ như thế nào. Nhân dân phải làm chủ bằng quyền phúc quyết Hiến pháp, bằng trưng cầu dân ý, bằng việc phản biện và đề đạt nguyện vọng của mình mà không bị xem là lực lượng thù địch hay những phần tử muốn "diễn biến hòa bình". Những vấn đề đó phải được đặt ra một cách công khai, minh bạch trong đời sống xã hội. Đó là để bảo đảm thành công cho việc sửa đổi Hiến pháp, cũng như cho những việc mà hiện nay Nhà nước đang cố gắng làm.

RFI: Xin cám ơn giáo sư Tương Lai.

Lê Dũng : Hà nội không còn thanh lịch.(bởi nỗi ám ảnh biểu tình yêu nước?)

Nguồn quehuongcualua

NGÀY 30 THÁNG 10 NĂM 2011


  Thông báo khẩn !
     Sau vụ bị đám cô hồn cướp máy ảnh, đập nát và dùng đòn có nghề để tấn công tôi ngay ban ngày giữa phố Bà triệu hồi 10AM 30 sáng nay thì bận bởi vụ bóng đá nên giờ mới về viết lại để bà con rõ.
    Sáng, 9 giờ như thường lệ 6 năm nay, từ khi tôi xây cái Bảo việt năm 2005 nên chỉ ngồi quán Bonbon Bảo khánh - quán của chị Hằng nhà hát Tuổi trẻ. Hôm nay tỗi vẫn ra ngồi, biết em Phương và Phương Bích cũng ra hồ uống ca fe nên gọi đến đó ngồi cho vui. Mấy chị em đến đang ngồi thì xe AN kéo đến vài cái, vài chú vào rỉ tai chủ quán và dẹp hết hè. Chủ quán vào lạy chị em tôi và bảo : xin các bác tuần sau đừng vào quán em, cho em làm ăn.Thương quá nên chị em bảo nhau sang Thủy tạ cho dù biết ca fe bên đó mất cả gần nửa tạ thóc. AN bu đông như kiến xung quanh, quay phim, chụp hình.
   Có cả U Trâm ra hồ nên mời U vào ca fe luôn , U bảo : tuần trước U ra hồ một mình, đang ngồi ghế đá thì bị hai xe máy bắt cóc U mang về phường, con bé Nga phó chủ tịch phường cứ xin U là thôi đừng ra Bờ hồ ! U bảo : hôm nay có 4 đứa đến chặn cửa không cho chồng U đi đâu. U trốn từ hôm trước nên ra hồ được, mong gặp bà con cho đỡ nhớ. Nhà cứ Chủ nhật là có đứa mang dây đồng đến buộc cửa.
10 am 30, mọi người bảo nhau về còn việc nhà, chiều còn đá giải NO - U.
   U Trâm bảo có gần chục đứa cứ theo U, sợ có việc gì nên mình bảo : U cứ về, con đi xe máy theo U xem sao.
   Về đến chỗ U gửi xe ở đầu Bà triệu thì U lấy xe, mình đi sau, chụp ảnh xung quanh chỗ đám cưới. Biết là có hai đứa trai gái đi bộ theo từ Thủy tạ, 3 xe máy chở hai nữa. Mình đang chụp thẳng vào cái rạp đám cưới thì một thằng cỡ tuổi mình đội mũ bảo hiểm lao vào với cú đá song phi điêu luyện. Chỉ kịp né và để xe máy đổ xuống đường. Nó lao vào bồi tiếp mấy cú đấm móc, đấm vòng , cũng né không tự vệ. Một cú vả kêu chát một cái do mình đỡ bằng đao tay trái đặt bên tai phải. Nó giằng được máy ảnh và ba thằng nữa ra can kiểu dọn đường. Mình tóm một thằng bảo anh tao là sếp an ninh. Nó ra can đám kia lại, nhà đám cưới đang ăn đổ ra em. Mình bảo : tôi đang chụp ảnh cái rạp cưới thì tay kia ra cướp và đánh tôi như bà con biết đấy. Tên này ở đâu, là ai ? bà con bảo : à, anh này chúng tôi biết mà, thôi bác về đi, chúng nó gọi thêm ra mà mình bác thì rách việc.
  Cái máy IXY - 650 cannon nó giằng và đập ngay trước đám đông. 
   Hậu quả còn lại: gốc ngón tay cái đang bị đơ, sưng to và tím, hy vọng không vỡ xương. Mai đi chụp phim, lấy hồ sơ, sẽ gửi thư và hồ sơ cho anh Nhanh nhà mình . Bà con chỗ Bà Triệu đã nhặt cái máy giập nát đưa U Trâm, U vừa gọi sẽ gửi tận nhà.
    Mấy bà con chỗ Bà triệu biết mình từ năm 95 khi lắp trạm điện khu ấy, mấy em gọi bảo em có ảnh và clip chụp rõ mặt thằng cướp máy ảnh của anh và đánh anh. Mình cũng lạ gì mấy đứa đó nhưng cũng xin ảnh để đối chiếu. Biết đâu lại gặp mấy anh em Ứng Hòa quân anh Nhanh đồng hương nhà mình ?
Nợ gì trả đó, của Bụt mất 1 đền 10, không quịt được.

     Tuy nhiên, Hà nội đã không còn tí nào văn hóa và an toàn nữa. Đó là điều đau lòng hơn cả. Côn đồ hay cô hồn ở từng góc phố, nơi mình lang thang và lớn lên, kiếm ăn suốt hơn 20 năm nay. 
     Kính báo để bà con biết, cẩn thận khi ra phố chủ nhật, chụp ảnh hay quay phim ở đó.

RFI. Kinh tế Việt Nam gặp khủng hoảng về niềm tin

Nguồn RFI.

Thanh Phương

Việt Nam đang nỗ lực kềm chế lạm phát và ngăn chận đà sụt giá của tiền đồng, nhưng ngoài những mất cân đối lớn này, chính quyền Hà Nội còn phải chống một kẻ thù nguy hiểm hơn, đó là sự mất niềm tin của các tác nhân kinh tế. Đó là nhận định chung của hãng tin AFP hôm nay, 30/10/2011, trong bài nhận định về kinh tế Việt Nam.

Vào đầu năm nay, đảng Cộng sản Việt Nam đã thi hành một chính sách khắc khổ nhằm kềm chế lạm phát, mà trong tháng 9 đã lên tới 23% , giảm mức thâm thủng thương mại ( 12,4 tỷ đôla trong năm 2010 ) và giữ vững tiền đồng vốn đã bị phá giá đến 4 lần trong vòng 15 tháng qua.

Với lãi suất tín dụng hiện đã lên tới hơn 20%, các chuyên gia dự báo là tình hình trong 18 tháng tới sẽ rất là phức tạp. AFP trích dẫn một nhà đầu tư ngoại quốc ở Sài Gòn cho rằng : « Vấn đề hiện nay ở Việt Nam là sự khủng hoảng niềm tin. Cái giá phải trả rất lớn ». Theo nhà đầu tư này, chính sách khắc khổ là cần thiết.

Từ 20 năm nay vẫn chú tâm đạt mức tăng trưởng cao, vì ganh tỵ với thành công của nước Trung Quốc láng giềng, Việt Nam đã đối phó với khủng hoảng tài chính 2008 bằng cách bơm thêm tiền vào nền kinh tế.

Các bong bóng đầu cơ hình thành khắp nơi. Biểu tượng cho sự phá sản của quốc gia, tập đoàn Vinashin đã đầu tư vào đủ mọi lĩnh vực để rồi cuối cùng rơi vào tình trạng gần như phá sản, với món nợ lên tới 4,4 tỷ đôla.

Trong khi đó, thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, được khai trương một cách long trọng năm 2000, đã chạm đáy. Tháng 8 vừa qua, chỉ số VN-Index đã rơi xuống mức thấp nhất từ trước đến nay, thấp hơn ba lần so với mức kỷ lục của năm 2007 khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới.

Ông Jonathan Pincus, hiệu trưởng trường đại học tư Fulbright Economics, được AFP trích dẫn, ghi nhận : « Cũng như đối với các định chế khác, các cải tổ đã không theo kịp nhịp độ của nền kinh tế. Ai cũng thấy là cần phải có một chiến lược mới, nhưng họ không có một cơ cấu chính trị nhất quán ».

Trong một quốc gia mà chuyện gì cũng không minh bạch, khó ai có thể biết được thực trạng của nền kinh tế. Về mặt chính thức, lượng ngoại tệ dự trữ của Việt Nam chỉ đủ bảo đảm hai tháng nhập khẩu. Nhiều ngân hàng quốc doanh hiện đang kẹt rất nhiều nợ xấu và một số nhà quan sát lo ngại về hậu quả của một « Vinashin mới ».

Phòng Thương mại châu Âu vừa công bố chỉ số về môi trường kinh doanh, giảm sụt trong ba quý liên tiếp, cho thấy là « các biện pháp được thi hành để ổn định kinh tế hiện giờ đã không trấn an được giới doanh nghiệp ».

Hãng tin AFP nhắc lại là trong tháng Giêng vừa qua, chính quyền Việt Nam đã thừa nhận là cần phải có một mô hình kinh tế mới, nhưng lại không đưa ra hướng đi cụ thể nào.

Trước đây vẫn được mô tả là « con rồng châu Á » tương lai, Việt Nam đã phát triển kinh tế dựa trên việc khai thác tài nguyên và nguồn nhân công dồi dào. Nhưng cho tới nay Việt Nam vẫn chưa chuyển sang giai đoạn kế tiếp. Chuyên gia Jonathan Pincus phân tích : « Việt Nam vẫn cứ lao vào sản xuất thêm nhiều cà phê, gạo, hạt điều, áo thun và giày dép, nhưng vẫn chưa chuyển đổi sang một nền sản xuất có trị giá gia tăng cao ».

Về phần ông Dominic Scriven, chủ tịch tổng giám đốc quỹ đầu tư Dragon Capital thì cảnh báo : « Trong 5 năm trở lại đây, mô hình kinh tế đã bị mất cân đối. Vấn đề là tất cả mọi người có nhận ra điều đó hay không ».

Theo AFP, người dân Việt Nam thì dường như không mấy tin tưởng vào nền kinh tế và trong những tháng gần đây họ đã đua nhau mua vàng và đôla. Theo một nguồn tin ngoại quốc, ngay cả các ngân hàng nay cũng bán đi đồng tiền quốc gia.

Như nhận định của một nhà doanh nghiệp, xin được miễn nêu tên, « chính quyền Việt Nam nay đã bị dồn vào chân tường trước yêu cầu khôi phục cân đối kinh tế. Họ còn phải làm nhiều việc để chứng tỏ họ xứng đáng với trọng trách được giao ».

HOÀNG PHƯƠNG LOAN : Nhà nước có dám bỏ kinh doanh?

Nguồn tuanvietnam


Bàn về đổi mới tư duy để có thể tái cấu trúc nền kinh tế, nguyên Thường trực Ban Bí thư Phan Diễn cho hay, nhận thức của chính ông về kinh tế nhà nước đã khác so với hơn 1 năm trước.

"Nhận thức đã khác"

Ông cho hay, đầu năm 2010, thảo luận về vị trí của kinh tế Nhà nước, ông cho rằng, nói kinh tế nhà nước là chủ đạo vẫn đúng. Bởi lẽ chúng ta cần một lực lượng trong tay nhà nước, giúp nhà nước thực hiện các ý đồ, định hướng nền kinh tế, làm những việc mà các thành phần kinh tế khác không làm được.

Thế nhưng, qua những chuyến đi khảo sát ở các nước, "nhận thức của tôi  (Phan Diễn - pv) về vị trí của kinh tế Nhà nước đã khác".

"Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế rất quan trọng nhưng kinh tế Nhà nước thì chưa chắc", nguyên Thường trực Ban Bí thư nói.

Hàn Quốc là bài học thực tế tạo nên bước chuyển nhận thức ấy.

Đánh giá cao vài trò của Chính phủ trong việc định hướng phát triển kinh tế, đề ra nhiều chủ trương, chính sách, nhưng Hàn Quốc thực hiện được những ý định không phải dựa vào lực lượng kinh tế quốc doanh mà chính là vào lực lượng tư nhân.

Ngay cả tư nhân, nhà nước cũng không quá o bế đối với lĩnh vực cần ưu đãi, và cũng không nên nuông chiều, ưu đãi quá lâu. Hàn Quốc đã từng trả giá khi o bế các cheabol.

Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan cho rằng "Gốc gác của vấn đề là nhiều tư duy không ổn mà ta ít nhắc tới.

Tư duy của vị trí nhà nước trong nền kinh tế thị trường của ta còn khác nhau và chưa rõ, kể cả nhà nước trung ương và nhà nước địa phương. Ở các nước, chính quyền chủ yếu lo quản lý hành chính nhà ước, không ai đi làm kinh tế cả.

Ông nêu vấn đề: Với các nước GDP là câu chuyện của DN, đâu phải là của nhà nước lo. Ở ta thì khác. Các địa phương được đánh giá qua thành tích tăng trưởng, qua các con số như GDP, và hệ quả tất yếu là họ chạy, xin đầu tư, là chạy theo tư duy nhiệm kì. Mỗi tỉnh là một pháo đài, một đơn vị kinh tế hoàn chỉnh. Không gian kinh tế quốc gia vì thế bị chia cắt thành không gian kinh tế tỉnh, nền kinh tế bị xé lẻ.

Trách nhiệm lo phúc lợi xã hội của Nhà nước cũng thông qua DNNN, tức là vẫn là nhà nước làm kinh doanh, bởi tiền ngân sách rót qua DNNN tới dân.

Thực tế, nền kinh tế VN đang phải trả giá cho những bất cập trong phân vai giữa nhà nước và tư nhân trong kinh tế.

Theo Ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp, khu vực này hiện đang sở hữu 70% tổng tài sản cố định của nền kinh tế, chi phối 20% vốn đầu tư của toàn xã hội, 60% tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại, 50% vốn đầu tư nhà nước và 70% nguồn vốn ODA.

Được bảo hộ lớn và ưu đãi nhiều, thế nhưng, khu vực này chỉ tạo ra 25% doanh thu, 37% lợi nhuận trước thuế và 20% giá trị sản xuất công nghiệp.

"Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế rất quan trọng nhưng kinh tế Nhà nước thì chưa chắc"

Hơn nữa, khu vực này dựa vào vay nợ lớn để đầu tư. Không kể 9 tập đoàn, tổng công ty nhà nước chưa có số liệu, con số nợ của các DNNN đã lên tới 54,2% GDP, TS Phan Thanh Hà, Vụ phó Vụ tài chính và tiền tệ, Bộ Kế hoạch đầu tư dẫn lại thống kê của Ban đổi mới và phát triển DN.

"Khi một quốc gia đưa phần lớn vốn đầu tư nhưng lại không đưa được lực lượng lao động vào một khu vực, và khu vực này lại không thể tự tạo ra được ngân lưu hay không duy trì được tỷ phần đóng góp của mình vào sản lượng của nền kinh tế dù đó được bảo hộ và những lợi thế khác, thì đó không phải là biểu hiện của quản lý kinh tế tốt", GS David Dapice từng cảnh báo như vậy trong một nghiên cứu của ông năm 2003.

"Một khi tư duy không thay đổi, chúng ta sẽ chứng kiến kế hoạch mà Chính phủ đang trình, Quốc hội đang bàn sẽ không thể thay đổi được...Sẽ chẳng có tái cấu trúc đâu", ông Vũ Khoan nói.

Cưỡng lại "xu thế"?

Bàn về chuyện tái cấu trúc, các chuyên gia đều nhấn mạnh nhu cầu xác định rõ chức năng, nhiệm vụ kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường: cái gì cần nhà nước đầu tư, cái gì tư nhân đầu tư. Vốn đầu tư nhà nước sẽ không đổ vào những ngành nghề mà khu vực tư nhân làm được.

Nhà nước không nên sử dụng doanh nghiệp nhà nước như một công cụ điều tiết vĩ mô, điều tiết thị trường hay thực hiện chính sách xã hội.

Điều nghịch lí là, ở Việt Nam, khi tư nhân hào hứng đầu tư thì nhà nước cũng lao vào cạnh tranh, và ngược lại. Việc đầu tư ở cảng Thị Vải - Cái Mép là một ví dụ, khi có tới 3 dự án cảng thuộc liên doanh của Tân Cảng Sài Gòn.

Theo TS Vũ Thành Tự Anh, chương trình kinh tế Fulbright, nên giới hạn hoạt động của DNNN ở mấy lĩnh vực: an ninh, quốc phòng; độc quyền tự nhiên; hàng hóa, dịch vụ thiết yếu và công nghiệp trụ cột. Chỉ cần nêu rõ những ngành ấy là có thể loại bỏ một loạt DNNN hiện nay đang chèn lấn khu vực tư nhân, triệt tiêu cạnh tranh của nền kinh tế.

Chúng ta cần buộc DNNN cạnh tranh bình đẳng; đẩy mạnh cổ phần hóa, kể cả các tập đoàn lớn; chấm dứt DNNN đầu tư tràn lan ra ngoài ngành.

Hơn nữa, "cần hạn chế bắt DNNN phải gánh trách nhiệm phi kinh tế", TS Tự Anh nhấn mạnh. Chúng ta không nên xem việc trách nhiệm ấy là mặc định DNNN phải gánh. Hiện nay, đó là cái cớ để họ vin vào mỗi khi bị thổi còi về tính kém hiệu quả. Những trách nhiệm chính trị - xã hội nếu có, sẽ được áp dụng bằng một hợp đồng riêng với nhà nước với những ràng buộc cụ thể.

Vấn đề là, "chúng ta có dám rũ bỏ chuyện nhà nước kinh doanh không?", nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan nêu câu hỏi.

TS Vũ Thành Tự Anh lấy ví dụ, ngay cả khi cơ quan tham mưu như Bộ KH-ĐT đã nhận diện ra vấn đề, thì việc thay đổi cũng khôn dễ. Chuyện các khu kinh tế ven biển là một ví dụ.

Khi thảo luận, chính Bộ KHĐT cho rằng, con số 15 khu kinh tế ven biển là quá nhiều, mà chưa có khu nào đáng gọi là khu kinh tế. Đến lúc VN phải xem lại, chọn lựa một vài khu kinh tế biển để "làm cho ra hồn"

Thế nhưng, cũng chính Bộ KHĐT lại không cưỡng được xu thế, ít lâu sau lại trình thêm 3 khu kinh tế biển nữa, thành 18 khu, mà mỗi khu chỉ cách nhau 40-50km.

Sự thay đổi ấy, "phải dũng cảm mới có thể thực hiện được", TS Tự Anh nói.

Nguyễn Hường : 'Thôi đừng cãi nhau về triết lý giáo dục nữa'

Nguồn vietnamnet

 - "Thôi đừng cãi nhau về triết lý giáo dục nữa...Trên thế giới, trong lịch sử nhân loại, chỉ một vài người có khả năng tư duy và tư tưởng kiệt xuất mới có thể đưa ra được một triết lý giáo dục."- TS Phạm Anh Tuấn, dịch giả tác phẩm "Dân chủ và giáo dục" nhấn mạnh. 

GS Chu Hảo tại buổi giới thiệu cuốn sách ngày 28/10
Những mái đầu bạc trắng theo cải cách giáo dục
 
Có thể gặp được ở buổi giới thiệu cuốn sách "Dân chủ và giáo dục" của triết gia thực dụng luận và nhà giáo dục người Mỹ lừng danh John Dewey (NBX Tri thức) gương mặt quen thuộc của các nhà khoa học lâu nay kiên trì với ý tưởng đổi mới giáo dục như GS Vũ Thế Khôi, GS Chu Hảo, GS Phạm Khiêm Ích, nhà giáo Phạm Toàn và các thành viên nhóm Cánh Buồm, …Hầu hết các giáo sư, mái tóc đã bạc trắng nhưng khi nói về cải cách giáo dục, giọng nói vẫn sang sảng và đầy cảm xúc.

Trong khán phòng chỉ khoảng hơn 30 người có gương mặt của một số bạn trẻ. GS Chu Hảo nhân dịp này điểm danh lại những đề án cải cách giáo dục của các trí thức lớn từng đề xuất. 

Mở đầu là seminar "hướng về giáo dục" khởi xướng năm 2004, tập hợp 23 nhà khoa học, giáo dục và văn hóa, hầu hết là Việt kiều ở Mỹ, Pháp, Nhật, Bỉ, Úc…do GS Hoàng Tụy đứng đầu.

Năm 2005, đề án do GS Chu Hảo và NXB Tri thức tổ chức nghiên cứu trong một năm, với 18 chuyên đề giáo dục và 4 trang kiến nghị được viết bởi những nhà khoa học đầu ngành.  GS Nguyễn Kế Hào phụ trách phần giáo dục tiểu học, giáo dục trung học là GS Hoàng Duyên Hải, GD dạy nghề là GS Phạm Danh Ánh, GD đại học là GS Nguyễn Xuân Hãn.

Kiến nghị thứ 3 là của một nhóm các nhà khoa học Việt Kiều, đứng đầu là các trí thức nổi tiếng Vũ Quang Việt, Trần Hữu Dũng, Nguyễn Ngọc Giao… được sự khuyến khích và chỉ đạo của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Vào những năm 2007-2009, nhóm của Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, lãnh đạo cũ của ngành giáo dục cũng đã đề nghị một chương trình cải cách.

Cho đến năm 2009, một bản kiến nghị với tinh thần canh tân giáo dục của GS Hoàng Tụy và một nhóm trí thức lại tiếp tục gửi lên quốc hội, chính phủ.

Nhưng, sự rộn ràng của những kiến nghị cải cách giáo dục này được GS Chu Hảo kết luận bằng một thông tin khiến người nghe thở dài: 

"Chỉ có Bộ GD-ĐT được phép nghiên cứu triết lý giáo dục thôi, chỉ mỗi Bộ mới được phép nghiên cứu SGK thôi. Chính điều ấy làm tiêu diệt khả năng sáng tạo của rất nhiều tầng lớp, bỏ phí nguồn chất xám của xã hội" - Phạm Anh Tuấn, dịch giả "Dân chủ và giáo dục"
"Cho đến bây giờ, không có một trả lời nào của cấp cao nhất lẫn Bộ GD-ĐT. Bộ GD không bao giờ đối thoại với chúng tôi, không bao giờ trả lời, không bao giờ tranh luận." 

Ngần ấy đề án giáo dục đã rơi vào sự thờ ơ, theo GS Vũ Thế Khôi, bởi vì "chưa bao giờ có một cuộc cải cách thực sự".

Nếu tiếp tục như thế, những cố gắng của GS Hồ Ngọc Đại suốt 30 năm qua hay của nhóm Cánh Buồm trong những năm gần đây sẽ mãi mãi là những thử nghiệm, những tài liệu để tham khảo mà thôi.

Điều ấy đồng nghĩa với độc quyền trong khoa học giáo dục, điều mà TS Phạm Anh Tuấn, người dịch John Dewey ra tiếng Việt chia sẻ trong bức xúc:

"Chỉ có Bộ GD-ĐT được phép nghiên cứu triết lý giáo dục thôi, chỉ mỗi Bộ mới được phép nghiên cứu SGK thôi. Chính điều ấy làm tiêu diệt khả năng sáng tạo của rất nhiều tầng lớp, bỏ phí nguồn chất xám của xã hội."

GS Phạm Khiêm Ích: "Chúng ta đã hiểu về John Dewey và thế giới quá lạc hậu"

"Thôi đừng cãi nhau về triết lý giáo dục nữa"

Câu chuyện về Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu được chia sẻ trong bối cảnh Việt Nam vẫn đang loay hoay đi tìm triết lý giáo dục. 

Ông đã nói: "Nếu Singapore đối mặt với vấn đề nào đó thì chắc chắn ở đâu đó trên trái đất này, người ta đã từng đối mặt với vấn đề tương tự. Tôi sẽ tìm đến họ và hỏi kinh nghiệm là gì. Nhưng tôi sẽ không áp dụng nó một cách máy móc mà sẽ mang kinh nghiệm đó về Singapore và sẽ phải sửa nó như thế nào để phù hợp với hoàn cảnh của Singapore."

"Thôi đừng cãi nhau về triết lý giáo dục nữa. Chúng ta đang bỏ rất nhiều tiền của, thời gian để nghiên cứu triết lý giáo dục nhưng liệu có mang lại hiệu quả gì không? Thực ra, trên thế giới, trong lịch sử nhân loại, chỉ một vài người có khả năng tư duy và tư tưởng kiệt xuất mới có thể đưa ra được một triết lý giáo dục."- TS Nguyễn Anh Tuấn nhấn mạnh. 

"Trong khi đó, những tư tưởng lừng danh như triết lý giáo dục của John Dewey, với "Dân chủ và Giáo dục" là biên bản đánh dấu cuộc chia tay vĩnh viễn với nhà trường cổ truyền, suốt 100 năm qua vẫn tiếp tục được học hỏi và phát triển ở hầu hết các nhà trường phổ thông hiện đại trên thế giới, không biết những người đứng mũi chịu sào của ngành giáo dục đã từng quan tâm nghiên cứu hay chưa?

Tôi sợ rằng họ không có thời gian, không có thói quen đọc sách hoặc không đủ năng lực về triết học để có thể đánh giá đúng về nó. Nên những cuốn sách như thế này không đến được tay những người đáng ra cần phải đọc nhất" -  Một cán bộ từng công tác nhiều năm ở Bộ GD-ĐT và các tổ chức phi chính phủ thể hiện sự tiếc nuối.

Số báo Thanh Nghị giới thiệu về John Dewey của cụ Vũ Đình Hòe

Thực tế, tư tưởng triết học của John Dewey không có gì xa lạ với các nhà khoa học giáo dục Việt Nam.

GS Vũ Thế Khôi cho biết, ngay từ năm 1941, cụ thân sinh ra ông là GS Vũ Đình Hòe đã viết bài giới thiệu về John Dewey trên tờ báo nổi tiếng của giới trí thức lúc bây giờ là tờ Thanh Nghị, bằng những nhận xét hết sức xác đáng với tiêu đề: "Một lối dạy hóa theo cá tính", nhấn mạnh ý tưởng "đưa nhà trường sát nhập vào hoàn cảnh xã hôi", tạo cho trẻ thơ niềm vui thích khi đến trường.

John Dewey bị hiểu sai ngay trong chính"Từ điển Bách khoa Việt Nam" tập 1, Hà Nội, 1995 trang 82 vì thói quen làm khoa học một cách "lôm côm" của những người biên soạn được GS Phạm Khiêm Ích chỉ ra. Ông gọi đó là một cách hiểu "vô cùng lạc hậu" về thế giới, về John Dewey.
Điều ấy cũng có nghĩa là, trong thời gian cụ Vũ Đình Hòe làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục, đề án giáo dục mà cụ và các trí thức đưa ra trình Quốc hội, chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất có thể đã in đậm dấu ấn của tư tưởng John Dewey. Tiếc rằng, vì hoàn cảnh lịch sử, cụ Vũ Đình Hòe không còn tiếp tục cương vị Bộ trưởng Giáo dục, ý tưởng của ông cũng bị bỏ lỡ.

Nhưng đáng lưu tâm là, John Dewey bị hiểu sai ngay trong chính "Từ điển Bách khoa Việt Nam" tập 1, Hà Nội, 1995 trang 82 vì thói quen làm khoa học một cách "lôm côm" của những người biên soạn được GS Phạm Khiêm Ích chỉ ra. Ông gọi đó là một cách hiểu "vô cùng lạc hậu" về thế giới, về John Dewey.

"Các bạn trẻ đừng tiếp tục cách làm khoa học như thế này. Chúng ta phải đầu tư hơn nữa để có một lý luận hiện đại, xuất phát từ chính thực tiễn cuộc sống của đất nước, dân tộc ta trong hiện tại"- Các GS nhắn nhủ những người trẻ trong buổi gặp gỡ. 

Nhiều bạn trẻ bắt đầu thể hiện nỗi băn khoăn muốn được tìm hiểu, học hỏi về giáo dục nhưng không có điều kiện để tiếp xúc với những "người già", giàu kinh nghiệm. Các bạn bộc lộ với các GS và NXB Tri thức một mong muốn: sẵn sàng bắt tay với NXB để tổ chức những buổi gặp gỡ với số lượng đông đảo hơn.

Hưng Việt : Nhìn 3 ngành: Giác dục, Y tế, Công an để đánh giá đạo đức xã hội

Nguồn danlambao

Hưng Việt (DanLamBao) - Trong thời gian gần đây liên tiếp xảy ra các vụ tấn công bác sĩ, công an. Rồi những vụ bê bối, nhơ nhuốc trong ngành giáo dục Việt Nam làm không ít người tự hỏi: Vì đâu đạo đức xã hội ngày cành xuống cấp ?

Xã hội tốt phải xây dựng trên nền tảng nền giáo dục tốt. Khi cướp chính quyền từ tay nhà Nguyễn, Đảng Cộng Sản đã xóa bỏ tôn ti đạo đức cũ là: Quân – Sư – Phụ.

Việc xóa bỏ hình ảnh nhà Vua (quân) trong xã hội quân chủ để thay đổi chế độ Cộng hòa thì có thể chấp nhận được, nhưng việc xóa bỏ vai trò Sư (Thầy giáo) và Phụ (Cha) là không thể chấp nhận được. Đó là hành động vô luân. Việc Đảng CS đưa khẩu hiệu ngày mới cướp chính quyền: "Trí, Phú, Địa, Hào đào tận gốc, trốc tận rễ" đã thể hiện sự coi thường tri thức khi Trí thức (Trí) là đối tượng đầu tiên để họ tiêu diệt. Cùng với việc tiêu diệt Trí thức, Đảng CS đã thay đổi hoàn toàn đường lối giáo dục khi bộ máy tuyên truyền của họ chỉ dùng để ca ngợi lãnh tụ CS Hồ Chí Minh.

Vậy là nền tảng đạo đức của Dân tộc mấy ngàn năm bị thay thế bằng sự tôn thờ chủ nghĩa cá nhân. Vậy là người Dân Việt Nam không cần biết tới Tổ tiên, ông bà, thầy giáo mà chỉ biết có HCM. Mặt khác, thay vì giáo dục con người lương thiện, vị tha, CS lại giáo dục Nhân dân sự thù hằn, nghi kỵ, chia rẽ.

Từ tiểu học các thiếu nhi đã được dạy căm thù, giết người, nghi ngờ nhau. Cái lợi trước mắt của việc giáo dục vô luân này giúp CS chia rẽ Nhân dân để trị, trong xã hội CS con người tự biến mình thành mật thám, nhòm ngó nhà hàng xóm có khách không? Ăn gì?...


Cái hại lâu dài là người Dân dần mất lòng tin với nhau, mất sự tương trợ, bảo vệ nhau, biến người xung quanh thành kẻ thù, xã hội của những con người vô cảm. Sự tôn trọng nhau biến mất trở thành "dân chủ quá trớn", thầy chẳng còn là thầy, trò chẳng còn là trò. Đó là chưa kể tới những người thầy nói ngọng, kiến thức nông cạn (10+1, 10+2) viết không đúng một chữ chính tả, hỏi làm sao bắt học trò phải kính trọng.

Bên cạnh đó, thích ứng với việc muốn tiến thân phải là Đảng viên ĐCS, con người làm tất cả mọi điều (kể cả những điều phi đạo đức nhất) để vào đảng. Xã hội đã mất dần những người thầy như Chu Văn An mà chỉ còn những thầy như Sầm Đức Xương. Thầy không lấy giáo dục làm phương châm, không lấy đạo đức làm căn bản mà lấy sự chạy chọt để leo cao.

Trong mấy ngàn năm lịch sử chưa bao giờ Dân tộc lại lắm thầy mua dâm, gạ dâm học trò như bây giờ. Chưa bao giờ sự bạo hành trong nhà trường, với học sinh lại xảy ra nhiều như bây giờ. Chưa bao giờ nạn tham nhũng, trù dập nhau giữa các nhà giáo lại xảy ra nhiều như bây giờ. Đó là hệ quả tất yếu của việc thay đổi tình yêu (chân chính) đối với Quê hương, Tổ tiên, Cha mẹ bằng tình yêu (giả dối) dành cho HCM (dù ông ta đã chết 40 năm).

Rồi những thầy chẳng lấy kết quả học tập của học sinh làm trọng mà chỉ chú trọng tới phụ huynh là ai. Phụ huynh quan tâm nhiều (bao thơ nhiều), đóng góp nhiều là học sinh được ưu ái. Thầy lợi dụng phụ huynh để được nâng đỡ, tiến thân thì thử hỏi lúc đó đạo đức làm thầy có trong sáng, đáng tôn trọng. Chính vì vậy, lâu dần hình ảnh người thầy trong mắt phụ huynh và học sinh xuống cấp dần. Không ít người thầy đã dựa thế để trù dập học sinh và cũng chính vì sự không trong sáng đó nên đã không ít học sinh và phụ huynh không kìm chế được nên đã xảy ra nhiều chuyện đánh đập, trả thù gây hình ảnh xấu trong xã hội. Đạo đức thì suy đồi, năng lực thì yếu kém.

Chỉ trong mấy chục năm dưới chế độ CS Việt Nam từ một nước mạnh nhất khu vực (Thời Pháp thuộc, các nước Đông dương muốn có bằng phải về Hà Nội học) đã trở thành một nước yếu kém (về mọi mặt) và nhất là giáo dục. Trong khu vực hiện nay bằng cấp do Việt Nam đào tạo không được chấp nhận bất cứ nơi nào. Để có thể vươn lên Việt Nam cần khoảng 30 nữa mới bằng Thái Lan, 50 năm mới ngang hàng Singapore (nếu bắt đầu ngay từ bây giờ). Hỡi các vị Cộng Sản với "đỉnh cao trí tuệ" của Hồ Chí Minh, các vị đã làm gì để Dân tộc Việt Nam thụt lùi như ngày hôm nay?

Từ nền tảng đạo đức không có, sự giáo dục của Cộng Sản làm ảnh hưởng tới tất cả các ngành khác. Chúng ta không ai không phải chịu cảnh "hành là chính" của các "quan cách mạng" (kể từ anh bảo vệ, chị văn thư, cô bán hàng…). Nhưng trong phạm trù bài này chúng ta chỉ bàn tới ngành Giáo dục, Y tế và Công an. Liên tục trong những ngày qua là các vụ tấn công Bệnh Viện, Bác Sĩ xảy ra. Vụ việc thì đã khép lại rồi, người chết cũng đã chết rồi, công an "còn đảng còn tiền" đã bắt bớ mấy chục người gây bạo loạn rồi. Nhưng thực chất nguyên nhân sâu xa bắt nguồn từ đâu?

Thiếu nữ 17 tuổi chết tức tưởi vì sự vô trách nhiệm của bác sĩ bệnh viện Đa Khoa Năm Căn - Cà Mau

Không ai muốn phải vào bệnh viện để nhờ vả bác sĩ, nhưng nếu lỡ phải vào thì không ai chịu được thái độ của các bác sĩ, y tá, hộ lý... gọi chung là nhân viên y tế (NVYT). Những vị này tự cho mình cái quyền là cha thiên hạ (ai cũng phải nhờ vả mà) nên thái độ lúc nào cũng cau có, nhăn nhó, quát tháo. Nếu nói họ nhăn nhó vì nhành y vất vả thì tạm coi được, chứ vì ngành y thu nhập thấp thì xin thưa rằng: không! Ngành y tại Việt Nam là một trong những ngành thu nhập cao nhất nước. Trừ các ngài tham nhũng thì khó có ngành nào thu nhập cao bằng ngành y. Phần lớn các bác sĩ đều có phòng mạch riêng, đi làm bằng xe hơi, thu nhập chính thức ngót nghét 100 triệu/ tháng. Do đó cau có là bệnh nghề nghiệp. Cũng như những sản phẩm của nền giáo dục cộng sản, họ chỉ yêu bác Hồ (cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng) còn tất cả đều không có giá trị gì hết. Cũng như các công chức khác của chế độ Cộng Sản họ tự coi mình là "cha mẹ Dân" chứ không phải "công bộc của Dân". Họ không hiểu được rằng người Dân ngoài đóng thuế - để nuôi họ và các ngành khác - tới khi tới Bệnh viện, khám bệnh vẫn mất tiền chứ không hề xin xỏ họ. Vậy nhưng họ vẫn coi Dân như lũ ăn bám, muốn mắng, muốn chửi sao cũng được.

Tâm lý con người khi có bệnh thì "vái tứ phương" nên phần lớn đều rất nể, phục, kính trọng NVYT. Thế nên dù mất tiền Dân vẫn cứ "bao thư" cho NVYT, mổ cũng "bao thư", chích cũng bao thư, thậm chí mỗi lần tái khám lại "bao thư", quà cáp. Vậy không thể tự nhiên có chuyện vô cớ người nhà bệnh nhân tấn công bác sĩ, tấn công bệnh viện. Thử hỏi ai chịu nổi khi người thân mình "thập tử nhất sinh" mà mấy vị "quan y tế" này cứ ngồi gọt hoa quả ăn hay đang ngủ chưa tỉnh giấc. Ngoài bị đè nén, nhục mạ, cái chết của người thân là "giọt nước tràn ly" nên hậu quả đã xảy ra. Chỉ có anh công an "còn đảng còn tiền" là không biết tìm ai nên cứ bắt mấy chục người để xử cho "đã tay". Mà các anh công an này cũng quá coi thường Dân mình nên cứ kết luận xưng xưng: do kẻ xấu xúi giục (giống như mấy người đi dạo ở bờ hồ Hà Nội cũng bị kẻ xấu xúi giục). Không hiểu có khi nào các anh tự hỏi mình là chắc kẻ xấu tự chết để lấy lí do xúi giục, hay tại mấy bác sĩ đang ngồi ăn hoa quả tự nhiên bị người nhà bệnh nhân đâm chết???

Dù kết luận sao, cũng xin nhắc các NVYT nhớ câu: "lương y như từ mẫu" chứ đừng để Nhân dân bảo rằng: "lương y như đao phủ". Làm nghề y là nghề tích đức, trước khi học đã biết lời thề Hypocrat. Nghề y có trước đảng (bất cứ đảng nào) chứ đừng học anh công an "còn đảng còn mình" thì hậu quả chắc không tránh khỏi.

Cuối cùng là mấy anh "còn đảng còn mình". Ngày mới lập nước thì mấy anh này ấu trĩ còn chấp nhận được. Nhưng sau mấy mươi năm được đảng, bác dìu dắt khối anh đã có bằng cử nhân, tiến sĩ (tuy là có bằng giả, có bằng thật nhưng học giả..) mà các anh này lại có câu slogan ngu đến thế. Thế theo các anh đảng, bác của các anh có trước Dân tộc, trước Vua Hùng à? Cái quốc hiệu Việt Nam là của đảng, bác các anh đặt ra à? Thế thì các anh phải hiểu các anh phải làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật (dù 2 cái này cũng do đảng các anh bày ra).


Mặt khác đảng của các anh cũng đang ăn bám vào tiền thuế của Nhân dân chứ với mấy cái đồng đảng phí các anh đóng có đủ cho đảng các anh phè phỡn vậy không? Việc nữa, cha mẹ các anh sinh ra các anh, Nhân dân nuôi sống các anh thế nếu đảng bảo các anh bắn vào cha mẹ các anh, bắn vào Nhân dân các anh cũng làm à?

Sở dĩ các anh còn lắm chuyện vô luân lắm là bởi đảng các anh cũng là quân cướp (cướp chính quyền, thanh trừng thủ tiêu các đảng đối lập) mà thôi. Thử xem bắt cướp thì các anh để Nhân dân làm còn các anh chỉ mỗi việc bắt người dân vô tội, tra tấn và thủ tiêu. Trong một năm có bao nhiêu người vô tội chết dưới tay công an. Người không đội mũ bảo hiểm có đáng đánh chết không? Vài ba cái lốp xe có cần giết đi một mạng người không?

Còn bao nhiêu, bao nhiêu nữa… trên Dân tộc đau thương này. Có bao giờ các anh tự hỏi tại sao Dân lại tấn công vào lực lượng công an ngày càng nhiều không? Có bao giờ các anh tự hỏi tại sao Dân lại ghét lực lượng công an không? Tại sao Dân lại gọi: "Anh bộ đội, thằng công an" chứ không ai gọi "anh công an, thằng bộ đội"? Tội ác các anh đã trải đầy trên đất nước này rồi. Từ Bắc vào Nam, từ Cao nguyên đến đồng bằng đâu đâu Nhân dân cũng chống các anh. Tại sao? Lực lượng thù địch nào xúi giục? Hình ảnh của các anh đã quá xấu xa, CSGT thì ăn hối lộ, CSKV thì đánh chết người, CSĐT thì rủ vợ nạn nhân đi KS…Đạo đức cách mạng của các anh là đó sao? Bản thân ngành CA đã là 1 chiến trường, nội bộ không tin vào nhau, giết nhau… thử hỏi có ngành nào đưa nhau ra xử nhiều như ngành CA không? Hiện đảng CS đang sử dụng các anh như công cụ chống lại Nhân dân. Chúng cho các anh một chút lợi nhuận để biến các anh thành rô bốt. Hãy tỉnh táo để nhìn chúng đối xử với đồng chí của chúng: những Võ Nguyên Giáp, Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái, Trần Độ, Bùi Quốc Huy, Cao Ngọc Oánh...

Hãy dùng súng của Nhân dân bắn vào những kẻ ra lệnh chống Dân. Hãy nhìn Gadafi và những kẻ chống lại Dân chủ, Dân tộc ở Châu Phi trong năm qua. Đừng để hậu quả xấu xa đến với mình và gia đình. Sao các anh không sớm "phản tỉnh" "quay đầu lại là bờ"?

Xã hội CS còn rất nhiều điều đáng bức xúc, nhưng thử nhìn vào 3 ngành cần đạo đức nhất thì bây giờ là vô đạo đức nhất. Đó chính là hệ quả của sự vô luân trong nền tảng giáo dục của CS. Đó chính là câu trả lời vì sao đạo đức xã hội xuống cấp, suy đồi.