Thứ Năm, 25 tháng 10, 2012

Họ đang đưa đất nước vào ngõ cụt và đêm đen (Nguyễn Gia Kiểng)

http://ethongluan.org/index.php?option=com_content&view=article&id=1888:h-dang-dua-d-t-nu-c-vao-ngo-c-t-va-dem-den-nguy-n-gia-ki-ng&catid=44:tham-lunNguồn ethongluan

"...ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam quyết định quay lưng lại với dân chủ, và tái khẳng định quan hệ lệ thuộc đối với Trung Quốc..."

 

 

 

 

Từ gần ba năm qua nhiều người đã hy vọng rằng đất nước đang chuyển động để ra khỏi thế lệ thuộc Trung Quốc đồng thời tăng cường quan hệ và tiến dần đến thế hợp tác chiến lược với Hoa Kỳ và các nước dân chủ. Hy vọng này đang tan biến nhanh chóng từ vài tháng qua.

Nó phát sinh từ niềm tin là quan hệ Việt Trung không thể tiếp tục như trước. Từ năm 2007 Trung Quốc đã tích lũy những lộng hành trên Biển Đông. Bắn giết hay bắt và xử phạt ngư dân Việt Nam trước sự bất lực của chính quyền cộng sản Việt Nam; lập huyện Tam Sa bao gồm các đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã đánh chiếm của Việt Nam; đơn phương tuyên bố "quyền lợi cốt lõi" (nghĩa là quyền lợi phải bảo vệ bằng chiến tranh nếu cần) trên một vùng lưỡi bò chiếm gần hết Biển Đông; ngang ngược cát dây cáp của tầu nghiên cứu địa chấn Việt Nam ngay trong hải phận Việt Nam v.v. Những hành động đó đã gây phẫn nộ lớn không chỉ trong quần chúng Việt Nam mà ngay cả trong đa số đảng viên cộng sản, buộc những người cầm quyền phải phần nào chấp nhận để những phẫn nộ đó được bộc lộ qua những cuộc biểu tình ở tầm vóc giới hạn, thí dụ như trong dịp rước đuốc Thế Vận mùa hè 2008. Thêm vào những lộng hành của Trung Quốc là những điều mà dư luận cho là chính quyền CSVN đã phải nhượng bộ trước áp lực dù rất nguy hiểm cho Việt Nam như dự án khai thác bô-xit tại Tây Nguyên, hay thỏa hiệp cho Trung Quốc thuê dài hạn nhiều khu rừng có vị trí chiến lược. Những phản đối này được sự đồng tình của cả những cựu cán bộ cao cấp lão thành, đôi khi được cả sự khuyến khích của một số lãnh đạo cao cấp muốn gây khó khăn cho đối phương của mình trong cuộc tranh giành quyền lực. Tất cả đóng góp tạo ra một phong trào đòi đối đầu với Trung Quốc thay vì nhượng bộ.

Mùa hè 2010 phong trào này đã đạt tới cao điểm với hội nghị ASEAN tại Hà Nội trong đó ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton công khai phủ nhận những tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông, kể cả Hoàng Sa và Trường Sa. Lập trường của Hoa Kỳ rõ ràng là  bênh vực Việt Nam, nó càng mạnh mẽ vì trước đó bà Clinton đã dõng dạc tuyên bố tại Bangkok là  "Hoa Kỳ đã trở lại Đông Nam Á".Thực ra người Mỹ không có nhu cầu "trở lại" Đông Nam Á. Họ chưa hề ra đi và còn đang hiện diện rất mạnh tại đây. "Trở lại Đông Nam Á" đối với Hoa Kỳ chỉ có nghĩa làtrở lại Việt Nam. Tiếp theo là những tiếp xúc dồn dập với Hoa Kỳ và các nước dân chủ, kể cả một cuộc viếng thăm của bộ trưởng quốc phòng Pháp Hervé Morin với kết quả là thỏa hiệp theo đó Pháp sẽ cung cấp thiết bị và giúp đào tạo các sĩ quan không quân và hải quân Việt Nam. Tàu sân bay George Washington đến thăm cảng Đà Nẵng. Tháng 6 vừa qua cả ngoại trưởng lẫn bộ trưởng quốc phòng Mỹ tới Việt Nam. Đó chỉ là một số trong nhiều sự kiện tạo ra niềm tin rằng Việt Nam đang thay đổi chính sách đối ngoại. Sự chuyển hướng đột ngột của Miến Điện - giữa một làn sóng dân chủ mới đang trào dâng trên khắp thế giới - lại càng làm cho niềm tin này thêm mạnh mẽ.

Một chọn lựa hiển nhiên, hợp tình, hợp lý

Về mặt lý luận chọn lựa sáp lại với Hoa Kỳ và ra khỏi thế lệ thuộc Trung Quốc quá hiển nhiên. Việt Nam có rất nhiều điều - văn hóa cũng như khoa học, kỹ thuật và phương pháp - để học hỏi ở Hoa Kỳ và các nước phương Tây, hơn hẳn so với Trung Quốc; ngoại thương với Hoa Kỳ đem lại cho nước ta một thặng dư lớn, 12,3 tỷ USD năm 2011, trong khi với Trung Quốc ta bị thâm thủng 13,8 tỷ. Hai con số này khi đem so sánh với kết số thâm thủng 9,5 tỷ USD của ngoại thương Việt Nam năm 2011 cho thấy quan hệ với Hoa Kỳ là một phúc lợi lớn trong khi hợp tác với Trung Quốc là một thiệt hại nặng. Mặt khác Hoa Kỳ là một cường quốc thương mại, hàng không và hàng hải, muốn tìm kiếm thị trường và đối tác chứ không có văn hóa lấn chiếm như Trung Quốc. Dù có hợp tác chặt chẽ với Hoa Kỳ đến đâu đi nữa cũng không sợ bị mất đất mất biển, trong khi ngược lại Trung Quốc đã bày tỏ quá rõ ý đồ muốn làm chủ Biển Đông, mà Biển Đông lại quá quan trọng đối với Việt Nam, mất Biển Đông thì Việt Nam sẽ không còn là Việt Nam nữa. Hoa Kỳ cũng có thừa sức mạnh ngoại giao cũng như quân sự để bảo vệ Việt Nam; một quan hệ đồng minh với Hoa Kỳ, vì thế, là điều kiện cần để có thể sống chung hòa bình với Trung Quốc. Hàn Quốc và Đài Loan đã giữ được quan hệ hòa bình và hợp tác với Trung Quốc nhờ sự che chở của Hoa Kỳ. Hàn Quốc giữ được eo biển Hoàng Hải, Đài Loan giữ được các đảo Kim Môn và Mã Tổ chỉ cách lục địa Trung Quốc vài cây số.

Sau cùng, nhưng cũng rất quan trọng, đối với các chuyên gia thì dù chế độ CSVN có muốn tiếp tục dựa vào Trung Quốc để tồn tại cũng không được nữa. Bối cảnh thế giới đã thay đổi, mô hình kinh tế Trung Quốc sắp phá sản - có thể nó đã phá sản nhưng chưa được thú nhận - và nội tình Trung Quốc cũng sắp bất ổn.

Chọn lựa này quá hợp tình hợp lý đến nỗi người ta không thể tưởng tượng là chính quyền CSVN có thể ngoan cố tiếp tục một thế lệ thuộc vừa nhục nhằn vừa tai hại.

Nguy cơ đã gần kề

Nhưng đó chính là mối nguy đã hiện rõ từ ba tháng nay. Nó đang tới gần và chắc chắn sẽ tới nếu không gặp một chống đối quyết liệt. Phải nhìn nhận rằng trong những năm vừa qua đã có nhiều dấu hiệu đáng lo ngại mà nhiều người, trong đó có chính kẻ viết bài này, đã không đánh giá đúng mức độ nghiêm trọng. Có thể nói từ năm 2009 trở đi, khi quyền lực của Nguyễn Tấn Dũng trở thành mạnh đến nỗi lấn át cả đảng cộng sản, chính sách đàn áp những người dân chủ đã thô bạo hẳn lên. Nguyễn Xuân Nghĩa bị xử 6 năm tù vì treo biểu ngữ "Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam"; cô Phạm Thanh Nghiên bị tù 4 năm chỉ vì ngồi phản kháng Trung Quốc tại nhà; Trần Huỳnh Duy Thức 16 năm vì tham gia Đảng Dân Chủ và tố cáo Nguyễn Tấn Dũng tham nhũng; Nguyễn Hoàng Quốc Hùng 9 năm và cô bạn gái Đỗ Thị Minh Hạnh 7 năm vì rải truyền đơn nói lên tinh thần dân tộc vào dịp kỷ niệm một nghìn năm Thăng Long; Vi Đức Hồi 5 năm và Cù Huy Hà Vũ 7 năm chỉ vì những bài viết ôn hòa. Trước đó những trường hợp như vậy chỉ bị "làm việc" qua loa hoặc bị xử tối đa một hai năm tù trong trường hợp thô bạo nhất. Sự gia tăng đàn áp này tự nó đủ để chứng tỏ đảng cộng sản, hay ít nhất phe nắm quyền trong đảng, không có ý định tiến lại gần Hoa Hỳ và các nước dân chủ, bởi vì nếu như thế phải ngừng, hoặc ít nhất giảm mức độ đàn áp chứ không gia tăng một cách hung bạo.

Với những ai còn cố bám vào hy vọng một chuyển hướng về phương Tây vụ án Câu Lạc Bộ Các Nhà Báo Tự Do đã là một cải chính dứt khoát. Điếu Cày là trường hợp đầu tiên mà một tổng thống Mỹ nêu đích danh một tù nhân chính trị Việt Nam để yêu cầu trả tự do. Cũng cần lưu ý là Điếu Cày viết rất ít, anh chỉ bị bắt vì bị coi là người chủ chốt trong những cuộc biểu tình chống ngọn Đuốc Thế Vận qua Việt Nam bởi vì ngọn đuốc này cũng ghé Hoàng Sa và Trường Sa. Điếu Cày không có tội gì cả và đã ở tù bốn năm. Bản án 12 năm tù cho Điếu Cày, và 10 năm cho Tạ Phong Tần, là một thách thức rất ngạo mạn với Hoa Kỳ và tổng thống Obama. Phải thực sự cố tình muốn khiêu khích Mỹ chính quyền CSVN mới hành động như thế. Phản ứng nhanh chóng của bộ ngoại giao Mỹ và sứ quán Mỹ tại Việt Nam ngay sau bản án chứng tỏ tình cảm giữa hai chính quyền không còn gì.

Họ đã quyết định xong và tuyên bố.

Và rồi chọn lựa tiếp tục lệ thuộc Trung Quốc đã được chính thức công bố qua cuộc phỏng vấn thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh ngày 17-9 vừa qua trên báo Quân Đội Nhân Dân. Cần lưu ý rằng trong các chế độ cộng sản những cuộc phỏng vấn những người cầm quyền không bao giờ là sáng kiến của một tờ báo mà luôn luôn do chính quyền chủ động; những cuộc phỏng vấn chỉ là phương tiện để chính quyền công bố một chính sách nào đó. Cũng nên lưu ý là ông Vịnh tuy chỉ là thứ trưởng nhưng là một trong những nhân vật có ảnh hưởng hàng đầu vì nắm được Tổng Cục 2, vì được sự đỡ đầu của ông Lê Đức Anh và vì là một đồng minh cột trụ của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, cũng là con đỡ đầu của ông Lê Đức Anh. Những lời tuyên bố của ông Vịnh vì vậy phải được coi là lập trường của chính quyền CSVN, hay ít nhất của phe Nguyễn Tấn Dũng đang có quyền lực áp đảo trong chế độ.

Ông Vịnh đã phát biểu một cách rất rõ rệt. Ông nói (nguyên văn):

-"Việt Nam không còn bất cứ băn khoăn gì khi hợp tác với Trung Quốc trên mọi lĩnh vực, giải quyết với Trung Quốc mọi bất đồng, (…)trên cơ sở quan hệ hữu nghị giữa hai nước láng giềng XHCN".

-"Chúng ta luôn phải nhớ nằm lòng kim chỉ nam"Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH" mà Đảng ta và Bác Hồ đã chỉ ra, bảo vệ vững chắc chế độ XHCN mới giữ được độc lập chủ quyền (…) nền tảng chính trị đã đưa đến quan hệ hữu nghị lâu dài giữa Việt Nam và Trung Quốc là định hướng xã hội chủ nghĩa.Hai nước phải tin con đường Việt Nam và con đường Trung Quốc đang đi là một CNXH đích thực, một CNXH độc lập, vững vàng, không thể bị chuyển hóa bởi những yếu tố bên ngoài mặc dù chúng ta đang sống trong môi trường toàn cầu hóa, hội nhập mạnh mẽ".

Không thể rõ ràng hơn. Nhưng ông Vịnh dựa trên những yếu tố nào để quả quyết -"Việt Nam không còn bất cứ băn khoăn gì khi hợp tác với Trung Quốc trên mọi lĩnh vực"? Cần lưu ý là với hai tiếng "Việt Nam" ông Vịnh đã nhấn mạnh ông không phát biểu với tư cách cá nhân, hay thứ trưởng quốc phòng, mà phát biểu nhân danh chế độ. Như vậy việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trên Hoàng Sa, Trường Sa và "quyền lợi cốt lõi" trên vùng lưỡi bò không còn là một băn khoăn cho chính quyền CSVN? Thực ra Việt Nam phải rất băn khoăn, thậm chí vô cùng lo ngại, vì theo chính lời ông Vịnh khi Việt Nam đề nghị Việt Nam và Trung Quốc cam kết không sử dụng vũ lực thì phía Trung Quốc chỉ hứa sẽ "ghi nhận tích cực" chứ không chịu cam kết, nghĩa làvẫn đánh nếu cần. Thật là ăn nói ngược ngạo.

Sự ngược ngạo còn đạt tới cùng độ khi ông Vịnh nhắc lại một phương châm được gán cho "đảng ta" và "Bác Hồ": độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trên thế giới hiện nay có gần hai trăm quốc gia độc lập họ có cần tới chủ nghĩa xã hội đâu, không những thế đa số còn ghê tởm chủ nghĩa cộng sản như một tội ác đối với loài người. Vả lại ngay cả nếu muốn bênh vực chủ nghĩa Mác-Lênin thì cũng phải biết rằng chủ nghĩa này tự coi là một chủ nghĩa quốc tế, nó phủ nhận vai trò của quốc gia, chưa nói quốc gia độc lập. Một người cộng sản Việt Nam có thể coi một người cộng sản Nga, hay cộng sản Congo, như anh em nhưng lại nhìn một người chống cộng Việt Nam như kẻ thù. Nguyễn Chí Vịnh hoặc không biết gì về thế giới và chủ nghĩa cộng sản hoặc đã nói ngôn ngữ của kẻ có bạo lực và bất chấp sự thực. Và phải hiểu thế nào lời tuyên bố: "con đường Việt Nam và con đường Trung Quốc đang đi là một CNXH đích thực, một CNXH độc lập, vững vàng, không thể bị chuyển hóa bởi những yếu tố bên ngoài mặc dù chúng ta đang sống trong môi trường toàn cầu hóa, hội nhập mạnh mẽ"?  "Chủ nghĩa xã hội" chỉ là một cụm từ để chỉ chế độ độc tài toàn trị, một cụm từ đã gắn liền -qua các danh xưng "Quốc gia Xã hội Chủ nghĩa Đức" (Đức Quốc Xã) và "Liên bang các nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết" (Liên Bang Xô Viết)- với những tội ác kinh khủng của Hitler và Stalin mà cả nhân loại, kể cả hai dân tộc Đức và Nga đã cực lực lên án. Theo Nguyễn Chí Vịnh đảng CSVN không những tiếp tục theo chủ nghĩa xã hội mà còn khẳng định là theo một thứ chủ nghĩa xã hội đích thựckhông chuyển hóa. Đây là một lời tuyên chiến với dân tộc Việt Nam và với cả loài người.

Nguyễn Chí Vịnh đã tiết lộ một sự kiện nghiêm trọng đáng đặt toàn dân Việt Nam trong tình trạng báo động: những người cầm quyền cộng sản đã chọn áp đặt đường lối tiếp tục thần phục Trung Quốc và chống lại dân chủ. Quả nhiên họ đã chọn xong: hội nghị trung ương 6 vừa qua không hề bàn tới chính sách đối ngoại. Nếu không có áp lực nào đủ nhanh và đủ mạnh để buộc họ phải thay đổi thì đó sẽ là số phận của đất nước trong nhiều năm sắp tới.

Ngõ cụt và đêm đen

Số phận đó sẽ như thế nào? Việt Nam sẽ cô lập trong nanh vuốt của Trung Quốc bởi vì không ai bảo vệ một chế độ độc tài hung bạo. Bài học lịch sử vẫn còn rất mới: năm 1988 khi Trung Quốc ngang nhiên đánh chiếm Trường Sa của Việt Nam họ đã không bị ai phản đối. Sau này nếu Trung Quốc chiếm nốt Trường Sa, khai thác dầu khí ngay trong lãnh hải Việt Nam và cấm tầu Việt Nam đi lại cũng sẽ thế thôi, cùng lắm là một vài phản đối nguyên tắc. Nên nhắc lại một lần nữa là nguy cơ vẫn còn nguyên vẹn. Trung Quốc hiện đang mâu thuẫn lớn với Hoa Kỳ, Nhật và nhiều nước khác trong vùng Thái Bình Dương và đang có nhu cầu hòa dịu với Việt Nam để đừng đẩy Việt Nam vào thế bắt buộc phải sáp lại với Hoa Kỳ. Tuy vậy, theo lời của chính Nguyễn Chí Vịnh, Trung Quốc đã không chịu cam kết sẽ không sử dụng vũ lực. Sau này chắc chắn họ sẽ sử dụng nếu cần. Cuộc đụng độ nếu xảy ra sẽ bằng không quân và hải quân, những binh chủng mà Việt Nam còn cần nhiều năm nữa để đào tạo ngay cả nếu có phương tiện tài chính. Nếu cô lập với thế giới thì vũ khí duy nhất của chế độ CSVN sẽ chỉ là van xin, nhưng van xin sẽ hoàn toàn vô ích vì Trung Quốc đã quyết tâm chiếm trọn Biển Đông. Khả năng mất quyền lợi trên Biển Đông gần như chắc chắn. Cũng phải nói thêm rằng ngay bây giờ Hoa Kỳ và Châu Âu đã thất vọng và ngày càng có khuynh hướng coi Việt Nam như một pariah state, nghĩa là một nhà nước mạt hạng không đáng quan tâm.

Trong ngắn hạn, khi chọn lựa tiếp tục làm chư hầu Trung Quốc đã rõ, sự thất vọng này -cùng với sự xét lại bắt buộc do cuộc khủng hoảng kinh tế - sẽ khiến các nguồn đầu tư từ các nước dân chủ cạn kiệt và các thị trường tại các nước này trở nên rất khó khăn cho Việt Nam. Dễ hiểu, Trung Quốc ngày càng bị mất cảm tình trên thế giới và bị nhìn như một mối đe dọa, làm chư hầu Trung Quốc thì không thể mong được thiện cảm của thế giới. Hiện tượng này trên thực tế đã bắt đầu rồi. Sự thất vọng còn đi đôi với phẫn nộ vì chính quyền cộng sản Việt Nam đàn áp dân chủ một cách hung bạo ngay giữa lúc một làn sóng dân chủ đang trào dâng mạnh mẽ và được sự cổ võ của cả thế giới. Cả đầu tư nước ngoài lẫn xuất khẩu đều đã sút giảm một cách báo động và còn đang tiếp tục sút giảm. Một cơ hội đã lỡ. Năm 2007, khi Việt Nam vừa gia nhập WTO (Tổ Chức Thương Mại Thế Giới) nhiều người tin là Việt Nam đã bắt đầu tiến trình hội nhập vào đà tiến chung của thế giới và khối lượng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã tăng vọt, lớn hơn tổng số đầu tư nước ngoài vào tất cả các nước trong vùng. Các quan chức Việt Nam đã thẳng tay vơ vét, khi không lãng phí và sai lầm vì thiếu khả năng. Ngày nay, ngoại trừ những dự án bắt buộc phải tiếp tục vì đã đi khá xa, không còn ai đầu tư vào Việt Nam nữa. Sản xuất và xuất khẩu cũng sút giảm nghiêm trọng. Nợ công của Việt Nam không phải là 70 tỷ USD như chính quyền nhìn nhận mà có thể gấp đôi. Các tập đoàn kinh tế nhà nước lỗ năng và nợ trên 50 tỷ USD. Ủy ban tài chính quốc hội ước lượng Việt Nam cần ngay 12 tỷ USD để đương đầu với những chi tiêu khẩn cấp, trước khi cần vay thêm nhiều nữa. Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế sẽ không cho vay vì Việt Nam không đủ tiêu chuẩn. Hoa Kỳ và các nước dân chủ sẽ không cho vay vì chính quyền Việt Nam đàn áp nhân quyền. Trung Quốc sẽ cho vay nhỏ giọt nhưng với cái giá phải trả là cúi đầu thấp hơn nữa và nhượng bộ nhiều hơn nữa trên Biển Đông. Việt Nam đang ở trong một tình trạng kinh tế rất hiểm nghèo và có thể sụp đổ nếu mất đi sự hợp tác với các nước dân chủ bởi vì hai thị trường lớn nhất của Việt Nam là Châu Âu và Hoa Kỳ, kế tiếp là Nhật, trong khi Trung Quốc không phải là một thị trường mà còn là một thâm thủng lớn. Chọn lựa của ĐCSVN không phải chỉ đe dọa chủ quyền đất nước trong trung hạn mà trước mắt còn có nguy cơ làm sụp đổ sinh hoạt kinh tế và dìm đất nước trong cảnh nghèo đói. Một vòng xoắn oan nghiệt đang chờ đợi chúng ta: càng suy yếu và cô lập càng lệ thuộc Trung Quốc nhưng càng lệ thuộc Trung Quốc lại càng bị cô lập và suy yếu thêm.

Đó là tương lai mà ĐCSVN đang hứa hẹn cho đất nước. Ngõ cụt và đêm đen.

Trách nhiệm về ai?

Giữa thập niên 1980, ngay sau khi mới vừa huênh hoang khoe chiến công oanh liệt và trong lúc Trung Quốc còn đang lấn chiếm, ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã chọn quỳ xuống và cúi đầu để giữ nguyên ách toàn trị của họ trên dân tộc. Và họ đã không gặp một phản ứng đáng kể nào. Các thế hệ mai sau khi đánh giá cha anh họ sẽ rất băn khoăn giữa u mê và hèn nhát. Ngày hôm nay, ngay giữa một làn sóng dân chủ mới đang dâng tràn trên khắp thế giới, ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam quyết định quay lưng lại với dân chủ, đàn áp thô bạo những đòi hỏi nhân quyền chính đáng và tái khẳng định quan hệ lệ thuộc đối với chế độ cộng sản Trung Quốc. Ngày trước cũng như bây giờ chính sách đối ngoại hoàn toàn được quyết định bởi những người thiếu văn hóa và thiếu hiểu biết về thế giới, các nhà ngoại giao đều bị biên tế hóa. Trách nhiệm về ai? Phải nhận định một điều là dù những người lãnh đạo cộng sản chóp bu đang đấu đá nhau gay gắt nhưng không có bất cứ một ai trong họ tỏ ý phiền lòng vì những những vụ án chính trị thô bạo, không một ai bác bỏ những lời tuyên bố của Nguyễn Chí Vịnh, không một ai hé lộ một cảm tình nào đối với dân chủ hay một bực bội nào trước những lộng hành của Bắc Kinh. Họ xung đột với nhau về quyền lực và quyền lợi nhưng họ giống nhau trong lập trường đối với Trung Quốc. Họ đều có trách nhiệm, nhưng Nguyễn Tấn Dũng là người có nhiều quyền lực nhất trong bảy năm qua nên Nguyễn Tấn Dũng cũng là người chịu trách nhiệm nặng nhất. Nguyễn Tấn Dũng ra đi chưa chắc đất nước đã thoát hiểm, nhưng nếu Nguyễn Tấn Dũng tiếp tục cầm quyền chắc chắn đất nước sẽ lâm nguy.

Khẩn trương

Chúng ta đã hiểu quá rõ những người cầm đầu đảng cộng sản. Không thể hy vọng gì nơi họ. Bao giờ họ cũng đặt chủ nghĩa xã hội lên trên quyền lợi của dân tộc, dù chủ nghĩa xã hội đã trở thành vô nghĩa và chỉ còn là cái cớ để duy trì ách độc tài toàn trị mà họ áp đặt lên dân tộc. Họ đang định kéo dân tộc vào một thảm kịch mới. Đất nước đang cần một phản ứng mạnh mẽ và quả quyết để thoát hiểm. Tình hình khẩn trương này đòi hỏi ở dân tộc Việt Nam, trước hết là trí thức Việt Nam, một sức bật mới của ý chí và lòng yêu nước. Phải làm gì là một câu hỏi cần được thảo luận. Điều chắc chắn là lúc này mọi người Việt Nam yêu nước và lương thiện, dù ở cương vị nào, dù là cựu tù nhân chính trị hay sĩ quan công an, phải chung sức với nhau, sau khi hòa giải với nhau nếu cần, trong một cố gắng cứu nước chung. Ngược lại mọi thái độ cầu an cố tình không nhìn thấy mối nguy lớn cho đất nước đều phải bị lên án thật dứt khoát.

Nguyễn Gia Kiểng
(10/2012)

Tiến sĩ Phạm Ngọc Cương : Lực đảng & thế nước

Nguồn truongduynhat

timthumb.phpDẫu chật vật mới thành công, nhưng, để khiêm tốn, người ta hay nói là gặp may mắn. Cũng nhiều khi, không đủ năng lực làm chủ tình thế người ta đổ tại số. Số phận liệu có phải cái bung xung mà ta cứ thích đâu là ấn vào đó như vậy? Nghĩ về cái "đoạn trường" nước Việt đang qua "cầu"(1) là cái mà trước khi chúng ta đổ cho số cũng cần bình tĩnh mà suy xét đôi điều.

Tiến sĩ Phạm Ngọc Cương (Toronto, Canada)

          Việt Nam lâu nay thiếu tiếng nổ giòn giã của pháo nhưng bù lại có nhiều tiếng nổ long trời lở đất khác: nổ bong bóng địa ốc, chứng khoán, ngân hàng, các Vinas, bong bóng học hàm, học vị, tác giả, tác phẩm, huân huy chương, bong bóng chân dài, đại gia, cầu thủ... Nói chung hầu như tất cả từ xã hội, đạo đức, văn hóa, nhân cách, kinh tế, giáo dục đều thành bong bóng và đã nổ tung! Quả bóng quyền lực núp danh "ổn định chính trị", như một tất yếu, đang tích hơi và....cũng sắp bung nốt. Đó là một thực tế!

          (...)

          Lực đảng

          (...) Lãnh đạo đảng cấp cao thường xuất phát từ ba cực: từ lãnh đạo quân đội- an ninh; từ bên tổ chức, đoàn thể và từ bên tư tưởng chính trị văn hóa. Những lãnh đạo từ nhóm đầu vẫn là nhóm thâu tóm kỹ càng quyền lực nhất. Hãy xem cùng trong vai trò Chủ tịch nước ông Lê Đức Anh uy quyền thế nào so với ông Nguyễn Minh Triết, Trương Tấn Sang sau này? (...) Khi ông Nguyễn Phú Trọng than rằng "đảng viên nhan nhản cộng sản mấy người" đủ thấy nỗi cô đơn của người đang thiếu thốn bộ hạ?

          (...)

          Ở các nước tân tiến nhiều nhân vật trên không chằng dưới không rễ, tót cái nhảy phóc lên ghế cao ngồi mà sao họ vẫn yên ổn và thịnh vượng? Nhiều Bộ trưởng quốc phòng các nước phát triển còn không phải là dân nhà binh chuyên nghiệp, luôn là người khoác áo dân sự. Để xã hội thịnh vượng và phát triển thì dân sự hóa chính trị và quyền lực là một nhu cầu cấp thiết.

          Gốc của quyền lực là an dân. Nếu đứng trên quan điểm lục địa thì thế giới có Đông có Tây, nhưng nếu đứng trên quan điểm đại dương thì thế giới chỉ là một khu vực bao bọc bởi nước mênh mông. Thật là ngớ ngẩn khi tới thế kỷ XXI này chúng ta vẫn còn cố rời ra xa khỏi các giá trị chung của nhân loại. Theo bảng giá trị nào thì làm kẻ cầm quyền cũng không được để cho dân đói. Dù là đói bụng hay đói thông tin, đói quyền yêu nước, đói quyền làm người, đói sự đối xử công bằng và nhân ái từ bộ máy công quyền, đói quyền hi vọng có cuộc sống ngày mai tốt hơn hôm nay... Tựu trung lại đói quyền sống cho ra kiếp người.

          Muốn triệt để thì phải giải quyết tận gốc. Gốc của tham nhũng là độc quyền tha hóa quyền lực. Bất ổn định chính trị là do thói coi thường dân, coi dân như rác. Gốc của bê bết kinh tế là (...) sân chơi không có bình đẳng và công bằng. Gốc của giáo dục là phải thắp sáng cái tôi cá nhân. Làm sao một thế hệ bộ trưởng được đào tạo bởi mái trường thực dân đế quốc cướp nước mà có những Võ Nguyên Giáp, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Văn Tố, Trần Huy Liệu...còn "thế hệ bộ trưởng mới" hôm nay qua toàn lò vôi cách mạng mà càng thả vào nước càng thấy có mùi.

          Quyền lực có thuộc tính lan tỏa chứ không phải thứ mang đóng hòm. Cứ tẩm liệm cỗ quan tài quyền lực kiểu này thì ngay đến các lãnh đạo cao nhất cũng run sợ và bất an (phải gọi trại cả tên « đồng chí» là X,Y,Z). Các doanh gia thì dẫu ngoài áo giáp dầy tiền bạc khoác cả thêm cái áo (...) ĐBQH cũng vẫn thấy khó toàn mạng. Hai đẳng cấp có quyền và có tiền nhất trong xã hội còn nơm nớp thì nói gì tới dân đen.

          Cái gốc của vấn đề (...) là không phải gia cố tiếp quyền lực cho ông TBT, CT nước hay giảm bớt quyền lực của ông TT. Cũng không phải là khôi phục lại Ban nội chính hay Ban kinh tế. Càng không phải là chuyển Ban chống tham nhũng về tay người nọ, người kia là xong... Tất cả đó hoàn toàn là chuyện vặt vãnh. Cái gốc của ổn định và phát triển không phải là gia giảm quyền lực cho ai đó, của ai đó mà là gấp rút gia cố tối đa quyền công dân trọn vẹn cho đến từng người dân.

          Những dòng này được viết ra không bởi cảm xúc yêu hay sợ đảng. Vận nước đang khắc khoải mong đợi một sự cởi trói nốt tư duy. Đã đủ lắm rồi sau hơn 80 năm làm cách mạng với búa cùng liềm. Cuộc cách mạng phải có hôm nay là của trí tuệ, của thay đổi nhận thức  sẽ làm dân tộc ta tỏa sáng không phải tiếp bước trên những con đường « xây xác quân thù »(2) năm xưa (...) Hãy nhìn lại năm 1986, khi chia phe địch ta thì đất nước tan hoang lụn bại. Khi cởi trói được một phần tư duy thì đất nước thay da đổi thịt và kẻ thù năm xưa biến thành bạn chống lưng bây giờ.

          Thế nước

          Một số học giả XHCN Việt thời gian gần đây đưa lời khuyên đảng nên bỏ qua thuyết của V.I.Lenin và quay về với học thuyết đích thực của Marx. Hẳn các vị đó không chịu nhìn ra một điều là triết học Marx chỉ là một mớ lý thuyết suông nếu không nhờ có Lenin hiệu đính và xác quyết là cách mạng XHCN sẽ nổ ra ở khâu yếu nhất của CNTB thì không bao giờ có cuộc cách mạng mạng XHCN năm 1917 thành công trên 1/6 quả địa cầu. Cũng như tiếp sau đó nếu không có luận cương của Lenin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa thì bàn cờ chính trị thế giới trong đó có Trung Quốc, Việt Nam, Cuba, Bắc Hàn lại như thế này hôm nay. Chính Lenin đã ra chính sách kinh tế mới (NEP) sau cách mạng tháng 10 có bốn năm(1921). Khác hẳn Marx, Lenin là ông tổ hành động, là nhà hành động có hiệu quả nhất của CNCS.

          Có một luận điểm của Lenin về thời cơ cách mạng mà tôi xin nhắc lại ở đây là cách mạng chỉ nổ ra khi: 1)-tầng lớp trên không thể tiếp tục cai trị như trước được nữa, 2)-tầng lớp dưới không thể chịu áp bức bóc lột thậm tệ hơn được được nữa và 3)-có một chính đảng cách mạng lãnh đạo. Dạo này đảng luôn hô hào thay đổi, đổi mới toàn diện và quyết liệt, tái... Đó không chỉ là lời mị dân (...). Dân thì từ Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ Bản, Cần Thơ các doanh nghiệp phá sản, giải thể... đã từ lâu sắp trút hơi tàn lực kiệt cuối cùng rồi. Theo thuyết của Lenin thì Việt Nam đã có điều kiện thiết yếu cần 1; 2 nhưng thiếu điều kiện đủ là vế thứ 3? Đảng cầm quyền dĩ nhiên từ lâu nhìn ra điều ấy (...) Tuy vậy thời thế đã thay đổi. Điều Lenin xác quyết hơn thế kỷ trước hai điểm đầu vẫn đúng còn điểm sau đang đổi. Nếu bây giờ mặc áo bốn túi và đi dép lốp như Hồ Chủ Tịch mà lấy được lòng dân thì chắc lãnh đạo đảng sẽ làm ngay. Nhưng tiếc thay thời đại mới không cho soạn lại bổn cũ. Ngày nay muốn biết dân tình thế thái vua chúa không cần vi hành. Mua cổ phần cổ phiếu và tỉ thứ khác người ta không cần bước chân ra khỏi cửa. Việc đầu tiên của một đảng chính trị là gì? Là thuyết phục và vận động quần chúng. Internet đang làm việc đó rẻ, nhanh chóng, đầy sức thuyết phục, và hiệu quả hơn tất cả các phương tiện khác mà con người có từ thuở khai sinh lập địa đến nay. Internet đang thay đổi tư duy và hấp dẫn nhân loại từng giây từng phút. Chỉ trong chuyện chính trị, Internet cũng đã vượt qua tầm vóc bất kỳ một đảng chính trị nào. Chỉ riêng một blog mạng có vài tháng tuổi đã có số người lướt qua bằng trên nửa dân số Việt Nam. Biến một công cụ thời đại thành kẻ thù là một trò hề cả về kỹ thuật cũng như phương pháp. Nếu cứ cung cách ấy thì càng sống lâu (...) càng lắm kẻ thù mà thôi. Và khi kẻ thù nhiều hơn bạn thì trái đất này không thể là nơi dễ dung thân được nữa. Tất cả an ninh mạng dù có triệu mắt triệu tay cũng đành bó tay trước sự vỡ đập thông tin hôm nay. Các mạng xã hội chọc thủng bức màn hà khắc Ả Rập, róc rách tận chốn thâm cung Tử Cấm Thành (...) và vấn đề là nó đã, đang nhanh chóng xây dựng và tập hợp lực lượng, một ngày bằng trăm năm, ngàn năm cộng lại. Tư tưởng luôn đi trước hành động có nửa bước, và hôm nay tư tưởng dân tộc đã khá khai thông. Bản tuyên truyền đã hết nghiệm!

          (...)

          Qua hội nghị TW VI đảng xem ra đã không thể tự giải quyết ổn thỏa chuyện nội bộ của mình. Bước tới để tiếp tục tồn tại đảng cần vịn vào sức dân. Bước một, đảng cần dân chủ hóa triệt để ít nhất trong nội bộ hơn 3 triệu đảng viên của mình. (...) Đảng còn tồn tại được đến hôm nay cũng là vì vẫn còn rất nhiều tâm huyết và tài năng trong đảng. Nếu có dân chủ triệt để thì trí tuệ sẽ chiến thắng áp đảo (...) Bước hai, sửa hiến pháp, nâng vai trò quốc hội, tòa án lên thì sức ép lên bong bóng quyền lực sẽ giảm đi nhiều. Tiếp tới, làm thí điểm một số mô hình dân chủ triệt để ở ít nhất 3 thành phố của ba miền đất nước. Cầu thị, cùng với để tự do phản biện chính sách và nhân rộng mô hình thành công ra thì nước Việt Nam sẽ có một cuộc cách mạng êm đềm. Thảm bại là khi không tự giải quyết được chuyện trong nhà khiến nhiều kẻ đi cõng rắn độc về thì gà cũng mất và nhà cũng tiêu! 

          Kiều

          Sau mấy trăm năm, nàng Kiều trong văn học vẫn đẹp và đầy quyến rũ trong đời sống văn hóa Việt. Và một Kiều khác, Việt kiều đang là một thực thể kinh tế, văn hóa và chính trị phải tính tới cho một nước Việt Nam hiện đại. Đó là một thực tế hiển nhiên, không ai có thể phủ nhận. Nhưng khá khác nhau ở góc nhìn.

          Đảng nhìn thấy ở kiều này cả lợi thế và thách thức. Lợi thế nên đảng ra nghị quyết 36. Nhưng trong lòng khi nói tới thế lực thù địch là... vung kiếm hướng tới nhóm người này đầu tiên.

          (...) Đảng và chính phủ cứ hay, cứ tốt đi thì ai nói ngả nói nghiêng gì được. Các chính phủ dân chủ họ đâu có ấu trĩ và ngô ngọng không hiểu nổi đâu là chân giá trị.

          (...)

          (...) Thế lực thù địch với nhà nước và chế độ là ở ngay trong nước, nói cho chính xác là ngay trong lòng đảng, lòng chế độ như đảng tự nhìn nhận là "bộ phận không nhỏ" trong đảng đang từng giây từng phút gây an nguy cho sự tồn vong của đảng.

          (...)

          Cái thời "Nga kiều" V.I.Lenin về lãnh đạo nước Nga cũng như "Việt kiều" Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm cùng về đứng đầu hai chính phủ ở hai miền đất nước là chuyện từ thế kỷ trước. Cũng không thực tế viễn cảnh các thế hệ Việt kiều mới tiếp bước Phạm Ngọc Thạch về làm những Bộ trưởng chính phủ Việt Nam mới.

          Nhưng một chính phủ Việt giỏi, thức thời và dân chủ sẽ có được nhiều hơn những Trần Đại Nghĩa về giúp nước.

          Thế hệ Việt kiều già lực bất tòng tâm mang nhiều âm hưởng quá khứ đã hầu như gần đất xa trời. Thế hệ hai nếu có tài đức thì tất yếu đã thành đạt và hội nhập. Việt Nam chỉ là cố quốc với thế hệ này. Thế hệ ba đã không mấy ai coi Việt Nam là tổ quốc. Việt Nam chỉ là tổ quốc của ông bà bố mẹ. Khi không kiều nào hãnh diện về cách cai trị của chính quyền trong nước, khi không cần tiếng Việt vẫn có thể sống và sống tốt. Khi không ăn đồ Việt vẫn thấy ngon và nhiều khi còn dị ứng với đồ ăn Việt độc hại. Khi nghe Rihanna, Adale, Katy Perry, Gotye ...hát thấy hay và cảm hơn nhạc Việt. Khi truyện Kiều cả triệu cháu nhi kiều không có một cháu đọc thì giá trị Việt nhiều khi chỉ còn là chút ít giá trị tinh thần, gia đình. Mà chỉ ngần đó thôi còn mang đến vô vàn những nỗi đau thì ai có thể trách ai ở đây được?

          Hơn nữa, thời đại khác cùng các gía trị mới đang lên. Trong buổi bình minh toàn cầu hóa này thì cho thế nào là mất gốc khi các quốc gia như Mỹ, Canada, Úc... lại đang là điểm đến của nhân loại.

          PNC, 22/10/2012

          (Thành thật xin lỗi tác giả Phạm Ngọc Cương vì tôi buộc phải cắt bớt nhiều đoạn trong bài viết, những phần bị cắt nằm ở các đoạn có dấu (...) Bài viết phản ánh quan điểm riêng của tác giả, một trí thức Việt hải ngoại, khôngnhất thiết trùng với quan điểm và góc nhìn của chủ trang. Những bài dạng này, tôi sẽ chọn giới thiệu trong mục "bàn tròn" với mong muốn nhận được sự trao đổi luận bàn đa chiều hơn của đông đảo bạn đọc và các trí thức, chuyên gia -TDN)

          (1).         Ý thơ Nguyễn Du

          (2).         Tiến quân ca- Văn Cao

          (3).         Lời Dương Trung Quốc

Ngày tàn của những chế độ (Nguyễn Gia Thưởng) (TL 273)

Nguồn ethongluan

"…Một chế độ vô thần nay bỗng nhiên tin vào thần linh là một chỉ dấu cáo chung của chế độ…"

 

 


Nhà Ngô đầu hàng

    "[...] Tôn Hạo lên ngôi hoàng đế, phong Tôn Linh làm Dư Chương vương, gia phong Ðinh Phụng làm Ðại Tư Mã. Từ khi lên ngôi thì Tôn Hạo cũng như hậu chúa tin dùng bọn hoạn quan Sầm Hôn.
    Bộc Dương Hưng và Trương Bố chỉ vì can gián mà bị xử trảm.
    Lại tin dùng thầy bói, gọi một thầy bói tên Thượng Quan về giữa triều mà cúng bói.
    Thầy bói đoán :
    Sang năm Canh Tý, Bệ Hạ sẽ diệt Tôn mà vào Lạc Dương.
    Tôn Hạo mừng lắm, lại càng hoang dâm xa xỉ.
    Huệ Kiểu can gián :
    Xin Bệ Hạ lo tu nhân tích đức cho bá tánh nhờ, hơi đâu mà nghe bói toán những chuyện nước ngoài làm gì.
    Tôn Hạo giận nói :
    Ta không nghĩ tình cựu thần thì chém ngươi rồi. Nói xong, hô quân đuổi Huệ Kiểu ra.
    Huệ Kiểu liền trốn về quê...
    [...] Bên Ngô thì Ðinh Phụng và Lục Kháng đã mất cả, Ngô Chúa vui chơi cùng bọn hoạn quan, ngày đêm say sưa, dĩ chí bày ra các cách trị tội ác độc như khoét mắt, lột da... làm cho nhân dân đồ thán...
    [...] quân Tấn tới đâu, binh Ngô đầu tới đó.
    Ngô Chúa được tin thất kinh hỏi quần thần :
    Tại sao binh ta không chịu đánh ?
    Quân thần tâu :
    Ðó là cái họa Bệ Hạ nghe lời bọn Sầm Hôn mà sanh ra. Nay muốn cho tướng sĩ tiếp tục chiến đấu chống địch thì Bệ Hạ hãy giết Sầm Hôn trước đã.
    Ngô chúa không chịu, quần thần tức lắm liền ào ạt xông vào cung bắt Sầm Hôn đem ra phanh thây, mỗi người lại lắt một miếng thịt mà ăn cho hả giận.
    Sau đó quần thần đồng thanh xin ra đánh, Tôn Hạo bèn cho Ðào Thao thống lãnh các đạo Ngự Lâm Quân, Trương Tượng dẫn các đạo thủy binh xông ra đánh quân Tấn.
    Tuy nhiên quân sĩ đã nản lòng hết, mặc cho các tướng đốc thúc, bỏ chạy tứ tán.
    Khi Vương Tuấn đến thì Trương Tượng chỉ còn vài mươi quân sĩ đành phải đầu hàng.
    Vương Tuấn sai Trương Tượng đi chiêu dụ Thạch Ðầu Thành, nơi này cũng đầu hàng nốt.
    Ngô chúa cả sợ toan tự vận thì có Hồ Xung cản lại mà rằng :
    Sao chúa công không làm theo Lưu Thiện ?
    Tôn Hạo liền dắt hết bá quan ra xin đầu hàng Vương Tuấn..." 
(1)
    Cuối cùng Tư Mã Viêm, con của Tư Mã Chiêu, cháu nội của Tư Mã Ý, thâu tóm hai nước Ngô và Thục lập nên nhà Tấn. Chuyện "Tam Quốc " kết thúc ở đây.

Rasputin và Nga Hoàng


Gia đình Nga hoàng Nicolas 2 trước khi bị thảm sát

    Hoàng tử Alexei bị bệnh loãng máu do di truyền từ bà cố là nữ hoàng Victoria. Các thái y của Nga hoàng bó tay - chẩn định rằng Alexei sẽ phải chết sớm vì chứng máu không đông.
    Hoàng hậu Nga lo sợ, nhờ bạn mình là Anna Vyrubova tìm mời vị thần y Rasputin đến chữa. Rasputin được nhiều lời đồn cho rằng ông có khả năng chữa bệnh bằng lời cầu nguyện. Mỗi khi Alexei bị chảy máu, ông lại vào cung cầu nguyện để trấn an hoàng gia và Alexei có vẻ hồi phục. Từ đó càng ngày hoàng gia Nga càng tin dùng Rasputin.
    Có nhiều lý do hoàng tử Alexei bớt bệnh mỗi khi Rasputin cầu nguyện. Có thể ông dùng kỹ thuật thôi miên, hoặc chỉ nhờ ông có khả năng trấn an giúp Alexei bớt lo sợ và từ đó tự cơ thể hoàng tử có khả năng chống lại căn bệnh. Nhiều giả thuyết khác cho rằng ông dùng đỉa cho vào vết thương làm máu dễ đông lại. Theo Diarmuid Jeffreys thì Rasputin thành công là nhờ ông ngăn cản không cho Alexei uống các loại thuốc của các thái y Nga, trong đó có thể có aspirin là một loại thuốc chống đau mới phổ biến, rất thịnh hành lúc đó, nhưng có tác dụng phụ là làm loãng máu.
    Gia đình Nga hoàng gọi Rasputin là thánh sống, người của hoàng gia, tiên tri của thượng đế… Rasputin dần dần tạo uy tín và ảnh hưởng lớn đến hoàng hậu Alexandra. Bà cho rằng thượng đế liên lạc với bà qua Rasputin.
    Sau này, Rasputin  nói rõ cho hoàng hậu biết : "Tôi sẽ chết một cách vô cùng đau đớn. Sau khi tôi chết, thể xác của tôi cũng không yên ổn. Bà sẽ mất ngai vàng. Bà và con bà sẽ bị thảm sát cùng với toàn thể gia đình. Sau đó một tai họa lớn sẽ đổ lên nước Nga và nước Nga sẽ rơi vào những bàn tay quỷ. (2)
    Ðúng như lời tiến đoán của Rasputin, ông đã bị ám sát. Ba tháng sau khi ông chết, Hoàng đế Nicolas II phải thoái ngôi. Nhóm Bolchevik quật mộ hoàng hậu và đem xác hoàng hậu Alexandra ra hỏa thiêu, tro tàn của thân xác bà bị rải phân tán khắp nơi. Toàn thể gia đình hoàng gia bị giết trong căn hầm ngôi biệt thư Ipatiev, ở Iekaterinbourg vào đêm 16 rạng ngày 17 tháng 7 năm 1918.

Việt Nam: chủ nghĩa cộng sản và thần linh

    "[...] Người xem "ngoại đạo" sốt ruột đợi đến tàn canh hầu, nhưng theo nhận xét của bà đồng, thầy đi cùng chúng tôi thì cô đồng này hầu khá nhanh, không bị hỗn đồng và làm một cách tuần tự, đúng sách. Buổi hầu kết thúc khi toàn bộ 13 mâm lễ với hoa quả, bia, các đồ ăn khác được phát cho khách. 7 triệu tiền mã đã được hóa vàng hết, trả lại vẻ rộng rãi vốn có của nhà đền. Ðoàn hát vãn, ngoài số tiền công đã trả trước 1,5 triệu ra, còn được thưởng gấp đôi vì hơn 30 lần vỗ gối khoái chí của cô đồng. Ước tính người hầu đồng lần này đã phải chi ra một khoản tiền không dưới 20 triệu đồng. Không biết là đắt hay rẻ nhưng sau buổi hầu đồng này, ai cũng thấy hơn hở.
    Nhiều người cho rằng chi phí cho một buổi lên đồng là tốn kém nên chỉ những người làm ăn buôn bán, kinh doanh mới là con nhang, đệ tử của những cô đồng, bà bóng. Suy nghĩ đó hoàn toàn sai lầm, bởi lên đồng còn thu hút nhiều người giàu có, hay những người cảm thấy ăn năn về quá khứ của mình. Người ta đua nhau đi tán lộc khiến cho bản danh sách của các đồng thầy ngày một dài hơn.
    Xem danh sách của một thày đồng, thấy có cả tên của một ông tiến sĩ là vụ phó Bộ Giáo dục. Ông này lập phủ linh đình. Mỗi lần mở phủ, ông bỏ ra ít nhất là 30 triệu đồng. Ông sùng đạo đến mức xây nguyên một ngôi điện tại tầng thượng nhà mình để tiện cúng bái. Ngôi điện của ông được đánh giá là bề thế và đẹp nhất trong số điện của giới đồng tại Hà Nội hiện nay. Cứ mỗi Rằm hay mồng Một, anh chị em cán bộ trong Bộ lại tới nhà ông để khấn bái và công đức.
    Ông tiến sĩ trên chưa phải là người đứng đầu trong danh sách những người hầu đồng phủ hiện nay. Danh hiệu đứng đầu thuộc về một quan chức của ngành hàng không tên Ð. Mỗi lần mở phủ chỉ tính khách thôi thì mỗi người cũng đã được chiếu lộc không dưới bạc triệu/người. Sở thích hầu đồng không chỉ ông có, mà cả đại gia đình nhà ông gồm anh, em, con, cháu đều tham gia một cách tích cực. Không biết họ tham gia vì thấy có lợi cho mình hay tham gia để làm vừa ý ông.
    Khi xã hội ngày càng văn minh, phát triển thì hiện tượng đồng tính, đồng cô và đồng bóng có chiều hướng gia tăng. Số người tin và theo hiện tượng này phát triển theo tỷ lệ thuận. Không biết bao nhiêu người đã hao tiền, tốn của, khánh kiệt tài sản vì những đàn đại mã, những mâm lộc tố hảo, những lần vỗ gối vì thấy hay, thấy thánh giáng...
". (3)


Kiến trúc nguy nga của chùa Bái Đình, Ninh Bình

    Ba câu chuyện trên đây xảy ra ở vào những địa điểm và thời điểm khác nhau, tuy nhiên chúng có cùng một điểm giống nhau. Ðó là hiện tượng mê tín vào lúc cuối trào của các triều đại. Tôn Hạo tin lời tên thầy bói Thượng Quan, hoàng hậu Alexandra tin dùng tên thầy cả Rasputin và các quan chức cộng sản Việt Nam tin dùng những cô đồng, những "nhà ngoại cảm", nghe lời những thầy bói.

    Hiện nay có phong trào các quan chức cộng sản Việt Nam thi nhau xây dựng chùa miếu thật là huy hoàng để chuẩn bị hậu sự, lỡ thế giới bên kia có thực, may ra còn có chỗ đứng. Việc xây dựng Chùa Bái Ðình nguy nga, hoành tráng là một ví dụ điển hình. Họ buôn thần bán thánh để mong tạo phước đức cho đời sau. Chủ nghĩa Mác -Lê không còn một giá trị nào đối với họ. Một chế độ không còn tin vào những giáo điều nền tảng đã xây dựng nên chính nó chắc chắn sẽ tàn lụi. Một chế độ vô thần nay bỗng nhiên tin vào thần linh là một chỉ dấu cáo chung của chế độ.

    Khi kẻ nắm quyền không còn gì để mà tin, không còn chủ thuyết và dự án tương lai nào để theo đuổi, họ thường tin vào những điều rất ư nhảm nhí. Ðó là triệu chứng chung của tất cả những triều đại, những chế độ đã đến ngày tận số. Tại Việt Nam, chúng ta đang chứng kiến tiến trình hủy hoại của một chế độ phong kiến trá hình.

Nguyễn Gia Thưởng (Bruxelles)

(1) vnthuquan.net 
(2) Rasputin
(3) vietbao.vn

Thứ Tư, 24 tháng 10, 2012

Nguyễn Đình Ấm : LIỆU QUỐC HỘI CÓ "CỞI TRUỒNG"

Nguồn huynhngocchenh

   Một đảng, nhà nước bất kỳ bao giờ ngoài hành động cũng muốn một bộ y phục đẹp đẽ khoác lên mình trước nhân dân. Với một độc đảng  như CSVN ngoài hành động cố gắng giữ những gì có thể giữ còn có hơn 700 tờ báo, hàng ngàn đội tuyên truyền lưu động trung ương, địa phương, hàng trăm ngàn cái loa đài phường, xã chĩa vào các nóc nhà, hàng triệu khẩu hiệu "quang vinh muôn năm", hàng trăm bài hát ca ngợi "sáng nhất trong muôn vì sao" ( Nguyễn Đức Toàn)…ngày đêm chủ yếu thêu dệt nên bộ đồ dát "kim cương" cho đảng.
   Bằng cơ chế lương, thưởng, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật, kể cả sức mạnh bạo lực đảng luôn ưu tiên số một là giữ gìn bộ đồ rất đẹp cho mình bất kể thân xác, đầu óc bên trong ra sao. Những người mắc tội "tuyên truyền, xuyên tạc chống nhà nước" bị bắt giam, phải vào nhà đá chủ yếu là vi phạm nguyên tắc "sống còn" này của đảng.

   Thế nhưng, sự đời "cái áo không phải bao giờ cũng làm nên thầy tu", khi thân thể người ghẻ, lở, hắc lào, hủi…quá nặng thì chiếc áo dù đẹp đẽ, lòe loẹt đến đâu cũng không thể che nổi tấm thân rỉ mủ.
   Như hội nghị TƯ 4 đã chỉ rõ, mặc dù được che đạy bằng mọi thứ áo quần nhưng "bộ phận không nhỏ" đảng vẫn bộc lộ sự suy thoái, biến chất nghiêm trọng , đặc biệt tham nhũng đến mức "nhìn đâu cũng thấy, sờ đâu cũng có". Những năm gần đây những vụ Vinashin, Vianalines, dầu khí, các Vina, nạn phá rừng, khai mỏ bừa bãi, vụ bí thư tỉnh cướp đất gia đình liệt sĩ, vụ cán bộ đảng các cấp vào hùa cướp đất  phá nhà của anh em Đoàn Văn Vươn, Văn Giang, vụ mẹ con bà Lài trần truồng vẫn bị đè cướp, những dự án bỏ hoang "mênh mông tội ác" ở khắp nơi; các vụ thâu tóm ngân hàng, hàng trăm ngàn DN phá sản, mấy triệu người thất nghiệp, vụ phó giám đốc sở "quèn" đánh ván bài 5 tỷ, các quan chức xây dựng dinh thự, mồ mả...ngút trời trước sự điêu linh của dân chúng đã làm chiếc áo khoác của đảng, chính phủ thủng lỗ chỗ như mắt sàng. Đến hôm  bộ chính trị họp người dân lại nhìn thấy thêm vài lỗ thủng lớn nơi "hiểm yếu". Dịp hội nghị TW6 thì trong 175 vì "tinh tú" của đảng đã có quá nửa ủng hộ đồng chí X mà theo tuyên bố của bộ chính trị (ám chỉ) ông có nhiều sai phạm, yếu kém nằm trong số "bộ phận không nhỏ" cần kỷ luật. Tức là phần lớn các vị tinh tú  biểu tượng của đảng, đứng đầu các tỉnh, thành, bộ, ban, ngành…ủng hộ sai phạm, không cho bộ chính trị nhận kỷ luật tất nhiên là để không kỷ luật đồng chí X. Dù giải thích là "cân nhắc kỹ lợi, hại… không để thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc chống phá…", cơ quan tryền thông mời các nhân vật "không thể nói khác" như ông "vua  nhạc cung đình" Nguyễn Đức Toàn, nguyên"vua dệt áo gấm" Trần Trọng Tân (nguyên trưởng ban tư tưởng VHTW), ông bí thư đoàn "vô cùng khâm phục trước thái độ vô cùng can đảm của bộ chính trị", ông nghị " chiến lược" Dương Trung Quốc "thái độ thành khẩn của thủ tướng làm an lòng dân"…cũng không thể an lòng ai. Bởi vì, nếu kỷ luật một ai đó trong bộ phận không nhỏ "đe dọa tồn vong của đảng, chế độ" mà có hại thì nghị quyết TƯ4 tuyên bố đao to, búa lớn "nghiêm khắc, dứt khoát… phải loại một số cán bộ" là thế nào? Nếu kỷ luật một ai đó mà "thế lực thù địch" lợi dụng chống phá thì như các nước Nhật, Hàn, Thái…có khi chỉ vài tháng thay thủ tướng thì họ không có "thế lực thù địch" à ? Tại sao chỉ VN với "nền dân chủ gấp vạn lần" họ mà lại có nhiều "thế lực thù địch" giỏi chống phá đến thế?..Một đảng "quang vinh muôn năm, bách chiến bách thắng" sao lại sợ "thế lực thù địch" vô hình?...
    Những " đánh giá cao, nghiêm túc, thẳng thắn, nghiêm khắc rút kinh nghiệm, đoàn kết, quyết liệt, phấn đấu, thế lực thù địch,…"… đã mòn tai thiên hạ.
   Về lý thuyết thì bộ chính trị dưới quyền BCHTW nhưng trên thực tế người đứng đầu đảng, bộ chính trị vẫn là vua (tập thể) VN. Xưa nay dù hoàn cảnh nào cũng không có chuyện "quần thần" bác ý kiến đúng của vua nay nó diễn ra quả là một "điềm gở"  cho đảng. Mặc dù phần lớn các UVTW ủng hộ đồng chí X là điều không khó hiểu lắm bởi những liên hệ sơ đẳng về vật chất nhưng đây vẫn là một cú sốc cho những ai còn tin vào các UVTW này. Phần lớn họ là những "ông vua con" đã và đang phất lên giàu sụ trong khi nạn phá rừng, khai mỏ gian lận, cướp đất đai, hạn ngạch, buôn quan, bán chức, môi giới chính trị, kinh tế…diễn ra ở khắp nơi. Những khuôn mặt với lớp da dày cách đây ít lâu còn năn nheo hốc hác, nhọc nhằn…nay không kham nổi những lớp mỡ tích tụ quá đột ngột căng tròn phì nộn…nói lên điều gì? Họ không thể gửi gắm sự an toàn cho tương lai bản thân và khối tài sản kếch sù cho nơi mà họ chưa biết chắc…có "cùng thuyền" với hay không…Thế là họ "phủ quyết" một việc đúng, chính đáng của cả "vua" - Họ đã tự cởi bỏ bộ y phục mới thủng lỗ chỗ để phơi bày cái thân thể thật trước thiên hạ: Công khai bảo vệ  sai phạm,tham nhũng.
   Còn nay đến lượt quốc hội.
   Thành phần quốc hội VN cũng na ná BCHTW gồm hầu hết là các UVTW có thêm số ít người ngoài đảng, một số thường dân, doanh nhân…mang tính chất "trang trí" nhưng xem ra cũng ít người có thể độc lập chính kiến. Người không ủng hộ tham nhũng thì cũng bị cô lập phải phòng thân, kẻ thường dân bị ràng buộc về lợi ích khi là đại biểu quốc hội. Nếu hăng hái, ngay thẳng tâm huyết như giáo sư Nguyễn Minh Thuyết thì khóa sau xin bác nghỉ. Với GS Thuyết ông nghỉ chỉ thiệt cho dân nhưng nhiều người khác nghỉ là mất sạch những quyền lợi tinh thần, vật chất kha khá, cái danh là "nghị sĩ" khi vẫn là đại biểu quốc hội. Vì vậy lần họp này nếu không có những thay đổi đột biến về tư tương, thế, lực, không có nhiều những đại biểu có liêm sỉ, không sợ mất quyền lợi như GS Thuyết…thì đến lượt quốc hội cũng cởi sạch y siêm nốt.


                                                      NĐA

Nguyễn Ngọc Già – Ông Sang, ông Trọng có thể làm được…?

Nguồn danluan

Hình ảnh mới nhất của 3 ông: Dũng, Sang, Trọng quả thật đối nghịch. Trong khi ông Trọng ỉu xìu như mèo bị cắt tai, ông Sang miệng méo xệch như "mất sổ gạo", thì ông Dũng tươi cười hớn hở. Đó là bằng chứng sống động tố cáo mãnh liệt cái mà ông Trọng gọi là "đoàn kết" vẫn duy trì được qua kỳ hội nghị vừa xong (!) Thật "tội nghiệp" khi họ không còn đủ thủ đoạn để lừa dân thêm nữa.

Tuy cười tươi rói, nhưng ông Dũng không giấu được thần sắc khá đen và hơi tái trên gương mặt, điều này cho thấy "khí chất" của ông kém bởi "tâm bệnh" mà ông đang lâm nặng. Nhiều người có thể vì khinh ông ta quá hay phẫn nộ quá, nên không chú ý điểm này. Ông Dũng đang gắng gượng, gồng mình lên cười để giấu đi tinh thần có phần rã rời và bải hoải sau cuộc chiến 15 ngày vừa qua.

Tôi không có ý đưa vấn đề "tâm linh" vào đây, mà chỉ qua hình ảnh ông Dũng để nói rằng: ông Dũng không chứng tỏ được "độ cao thâm" vào lúc tình hình rối reng, khốn cùng của Việt Nam hiện nay.

Lẽ ra, thay vì cười tươi roi rói, chính ông Dũng nên tỏ ra buồn rầu một chút hay nét trầm tư "phơi đầy" trên mặt, ông sẽ trở nên rất… "tuyệt" với "vai chính diện", mà ông đang diễn, không những thế, nó lại phù hợp với "dung nhan" tái và hơi đen của ông, mà không cần phải make – up. Song song đó, các ông sẽ thuyết phục được người dân rằng: các ông đang "RẤT đoàn kết" (!); và rằng: "nỗi đau của các ông hòa chung trong nỗi tê tái của dân tộc Việt Nam" (!).

Quá dở! Hãy nhìn những giọt nước mắt lăn dài trên má của nhà độc tài Putin mà học hỏi thêm [1]. Đó mới gọi là "cao thủ thượng thừa" với thủ đoạn vô biên!

Nước mắt đàn bà bỗng trở nên quá bình thường, khi mang ra tranh giải quán quân trên chính trường mà Hồ Chí Minh đã từng diễn hoàn toàn xuất sắc trong tội lỗi về cuộc cải cách ruộng đất năm xưa!

Nguyễn Tấn Dũng vẫn dở như từ trước tới nay. Năm xưa, ông Hồ đứng trên hàng chục ngàn xác dân để khóc lóc, tại sao hôm nay, ông Dũng không "học tập", bằng cách đứng trên núi nợ Quốc gia để sám hối???

Xem ra, "hậu bối CS" "độc" thì có độc", nhưng "tàn" thì chưa nối gót kịp "tiền bối".

***

"Hội nghị đen tối" nhất trong lịch sử ĐCSVN – có thể gọi như thế – đánh dấu bước ngoặc suy tàn không còn cứu vãn được của vai trò "Đảng lãnh đạo tuyệt đối". Chắc chắn như thế!

Nhiều người phẫn nộ và chê bai khi ông Dũng kêu gọi "lòng tự trọng" trong cuộc tiếp xúc với sinh viên sau "hội nghị đen tối".

"Tự trọng", theo cách diễn giải khác, chẳng lẽ không phải là cái nhếch mép và cái cười khinh khỉnh để ông Dũng thầm nhủ:

"Không biết lượng sức mà bày đặt đấu với đá!",

"Biết trước là sẽ thua mà còn cay cú! Đúng là những người chẳng biết tự trọng là gì!"

Đó phải chăng là thông điệp mà ông Dũng muốn nhắn gửi đến 2 ông kia tại trường Đại học Quốc gia Tp.HCM?

Ông Dũng tiếp tục và tạm thời dẫn trước, trong cuộc so găng với các "đồng chí". Chẳng có gì bất ngờ về chiến thắng này, bởi: tiền (dưới mọi hình thức) và công cụ bạo lực hầu như ông Dũng đang nắm trong tay quá nhiều.

Ông Trọng, ông Sang có gì? Có lẽ chẳng có gì ngoài vài "cuốn sách" gối đầu nằm đã lạc hậu có tựa "chủ nghĩa Mác – Lê nin" và "tư tưởng Hồ Chí Minh" (!?). Hào phóng với 2 ông này chút nữa, thêm vài mươi "đồng chí" khác "sắt son" và "kiên định" cùng 2 ông trên con đường "bi đát" [*].

Quả thật vậy, vai trò Tổng bí thư đã được đặt dấu chấm hết khởi từ Lê Khả Phiêu và rõ hơn từ thời Nông Đức Mạnh. Nguyễn Phú Trọng không còn cơ hội để xoay chuyển tình hình chỉ dựa trên mấy thứ giáo điều, kêu gọi suông việc "tắm táp", "rửa ráy"… nữa.

Thời buổi này là thời buổi kim tiền rủng rẻng lên tiếng. Hãy vất đi những thứ, tựu trung hay gọi "Đảng ta là đạo đức là văn minh". Xưa rồi diễm!

Trương Tấn Sang có thể nhỉnh hơn một chút về tư duy, nhưng trong tay ông ta có vẻ chẳng có gì?

Đánh nhau trong trường hợp các ông này, nếu trong tay không có tiền, không có bạo lực thì dựa vào gì?

Xin thưa, hữu hiệu vô cùng, giản dị vô cùng: DỰA VÀO DÂN.

Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang có vẻ dần nhận ra được điều này?! Tốt, dù khá muộn. Tuy thế, nhiều người cũng đã chê bai khi hai ông có vẻ kêu dân "nhào đầu ra", trong khi chính 2 ông tỏ ra thiếu khí phách và sự lẫm liệt cần có của hai người đứng đầu (đảng và Nhà nước).

Tôi tán thành phương án "dựa vào dân". Vậy, ông Trọng và ông Sang sao chưa làm? Làm gì ư?

Thách thức và cũng là cơ hội quá đẹp ngay trước mắt hai ông đó.

Hãy thử gợi ý cho ông Trọng và ông Sang:

- Vụ án Đoàn Văn Vươn, một vụ án hoàn toàn không dính dáng chút gì đến "thế lực thù địch", vừa được hâm nóng lại bằng việc bắt tạm giam 4 tháng đối với viên Phó chủ tịch huyện Tiên Lãng. Các ông xốc vào đi, tôi hoàn toàn tin hàng chục triệu người sẽ hưởng ứng cao độ và các "đồng chí" hai ông cũng khó mà chống lại, khi lời "cầu xin" "nhẹ tay" đối với gia đình Đoàn Văn Vươn của ông Dũng gửi đến Hải Phòng còn đó. Hãy tận dụng ngay mà ghi điểm trong mắt dân.

- Vụ án Trần Ngọc Sương – Giám đốc Nông trường Sông Hậu. Cũng là một vụ án không hề dính chút gì đến chính trị để phải lo sợ bị các "đồng chí" phủ chụp tội "chống nhà nước CHXHCNVN". Xốc vào luôn đi. Lấy tư cách Tổng bí thư, Chủ tịch nước, yêu cầu trả danh dự và bồi hoàn thiệt hại cho bà Trần Ngọc Sương, làm được điều này là thêm điểm cho hai ông trước lòng dân phẫn uất hiện nay. Tất nhiên bà Sương biết sẽ phải làm gì khi nhận được tín hiệu từ hai ông phát ra, bởi vì có nhiều Luật sư hỗ trợ và ủng hộ bà rất cao, hơn nữa bà Sương không phải là "hạng thứ dân".

- Cô sinh viên bé nhỏ của Trường Đại học Công nghệ thực phẩm Tp.HCM – Nguyễn Phương Uyên vừa được hơn trăm người bạn viết thư gửi đến ông Chủ tịch nước, chắc các ông biết? Sao không biến thách thức đó trở thành lợi thế? Vụ việc quá nhỏ bé như vóc dáng bé nhỏ của cô gái, nếu các ông không làm được thì có lẽ chẳng còn việc gì dễ hơn cho các ông làm đâu!

- Cuối cùng, kinh tế là quan trọng. Ý tôi không phải là nói các ông "nhào vô" mấy vụ nổi cộm như: Vinashin, Vinalines, in tiền Polymer… đâu. Hãy nhớ lại người xưa, khi một vị vua muốn cứu vớt sinh linh đồ thán, đất nước lâm nguy, vị vua ấy thực hiện "chiêu hiền đãi sĩ" và sẵn sàng chấp nhận phương châm "đoái công chuộc tội". Cứ tạm cho rằng Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định, Lê Thăng Long có tội. Hãy xem xét ý kiến "đoái công chuộc tội" lồng trong đề tài "Con Đường Việt Nam" [2] gồm 5 lĩnh vực cụ thể: kinh tế, giáo dục, cải cách hành chính và tư pháp (gọi tắt là pháp luật), biển Đông, Tây Nguyên mà các anh ấy đã ấp ủ hơn 7 năm qua. Đó cũng là môt nút thắt tối quan trọng cần gỡ và chính ông Sang cùng ông Trọng có thể làm được…

***

Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước cũng như Tổng bí thư là điều chính các ông biết rõ, tôi dẫn ra thì có vẻ trịch thượng.

Viện kiểm sát tối cao và Tòa án nhân dân tối cao cũng là lợi thế trong tay hai ông.

Các ông làm được hay không, chính do lương tâm, khí phách và sự quyết liệt, đoàn kết của hai ông cùng những người ủng hộ lên tiếng.

Hãy khởi từ vụ gia đình Đoàn Văn Vươn và Trần Ngọc Sương mà tiến dần…

Lịch sử sẽ ghi tên hai ông như những người anh hùng hay những tên tội đồ, cũng do hai ông tự quyết lấy.

Nguyễn Ngọc Già
_________________

http://nld.com.vn/20120306085516776p0c1006/giai-ma-nuoc-mat-ong-putin.htm [1]

[*] nghĩa là "bác đi" :)

http://danluan.org/tin-tuc/20120621/tran-huynh-duy-thuc-buc-thu-dang-do-gui-chu-tich-nuoc-nguyen-minh-triet [2]

Đào Tuấn : Tấm giấy, ông thầy và bản án tử

Nguồn daotuanddk

Rất lạ, các nghị sĩ QH khi thảo luận về một bộ luật liên quan nhiều đến quyền con người như Luật Luật sư, lại hầu như chỉ phát biểu về chủ đề: Các ông thầy dạy luật có được hành nghề luật sư.

Thậm chí, sáng nay, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã đề nghị, dưới giác độ một người thầy, với thái độ mà báo chí mô tả là "thiết tha": "nên khuyến khích các giảng viên dám nhận làm luật sư".
Báo cáo của Viện trưởng VKSNDTC Nguyễn Hòa Bình 1 ngày trước đó đã đề cập đến thực trạng "Số luật sư, người bào chữa tham gia bào chữa tại các phiên tòa hình sự chỉ chiếm tỉ lệ thấp, chủ yếu là luật sư chỉ định. Phần lớn tập trung ở những thành phố, đô thị. Đối với vùng sâu, vùng xa, tỉ lệ tham gia của luật sư, người bào chữa tại các phiên tòa hình sự không đáng kể". 2 năm trước, khi con số 121 trường hợp oan sai được nói trước Quốc hội, không khí bấy giờ bỗng dưng lặng phắc. Chẳng hạn, nếu 121 phiên tòa đó có đầy đủ luật sư, không "chủ yếu là luật sư chỉ định", có thể rất nhiều trong số 121 con người đó không phải chịu cảnh ngồi thu lu giữa 4 bức tường đá để gặm nhấm oan khiên thấu giời xanh.
Có lẽ, khi đưa ra quy phạm cấm các ông thầy dạy luật được hành nghề luật sư, các nhà soạn thảo đã chỉ nghĩ đến việc quản lý với những lo toan kêu rủng roảng, rằng "ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy", rằng "không phù hợp với định hướng phát triển nghề luật sư", thậm chí "không phù hợp với mục tiêu xây dựng đội ngũ luật sư chuyên nghiệp". Có thứ giảng dạy nào không vì mục tiêu con người? Có thứ định hướng nào lớn hơn quyền con người. Và có thứ chuyên nghiệp nào chuyên nghiệp hơn việc không để xảy ra cảnh những người vô tội bị tống vào nhà đá? Các nhà làm luật đã quên khuấy mất 121 trường hợp oan sai rồi.
Nhưng việc sửa đổi Luật Luật sư lần này không phải chỉ là chuyện những ông thầy. Sáng nay, có đại biểu QH đã nhắc đến chuyện cái ghế. Nghĩa đen là tư thế luật sư ngồi ngước mắt nhìn lên quan tòa. Nghĩa bóng là sự bất bình đẳng đang tồn tại trong những pháp đường thâm nghiêm. Và, dẫu là thiểu số, cũng có người đã nói đến việc bỏ tấm giấy chứng nhận bào chữa, một thứ thủ tục hành chính, một hàng rào ngăn cách luật sư đến với thân chủ của mình. Cảm ơn đại biểu QH Bùi Văn Xuyền. Cảm ơn báo điện tử Chính phủ, thật ngạc nhiên, là tờ báo duy nhất đưa chi tiết này.
Cái ghế, hay tấm giấy, đang chỉ là những biểu tượng của một thực tế mà phổ biến là việc các cơ quan tố tụng từ chối cấp giấy chứng nhận bào chữa mà không buồn giải thích lý do, hay lớn hơn, cũng chua chát hơn, là tiếng nói của các luật sư nhiều khi hầu như không mấy ý nghĩa trong những phiên tòa.
Hôm qua, có một chi tiết giàu biểu cảm. Đó không phải là con số 420 tử tù vẫn chưa thể thi hành án vì thiếu thuốc độc. Đó cũng không phải là vấn đề khi Bộ Y tế đang bó tay bó chân trong việc tìm nhập nguồn thuốc độc. Mà nó biểu cảm ở nguyên nhân của việc khó khăn: Các hãng dược, dù bán kháng sinh với giá cắt cổ, đang lắc "không chấp nhận bán thuốc cho Việt Nam sử dụng vào mục đích thi hành án tử hình". Nó biểu cảm ở lời đề nghị, cũng thật ngạc nhiên, của Viện trưởng VKSND TC về việc "Cần nghiên cứu toàn diện hơn về hình phạt tử hình. Cần sửa luật theo hướng thu hẹp, chỉ áp dụng mức án này với những tội danh gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cho xã hội, thực sự không thể giáo dục, cải tạo". Bởi, như lời ông Nguyễn Hòa Bình: "Đã đến lúc chúng ta cần nhìn nhận vấn đề này tiệm cận hơn xu thế chung của thế giới".
Hình như vấn đề luật sư cũng thế. Chúng ta không thể giữ mãi trong đầu tư duy: "đóng cửa" để "bảo nhau" rằng tội phạm thì cần gì phải quan tâm, rằng thế là đã tốt lắm rồi. Bởi trước khi trở thành tội phạm và cả khi phải đứng trước vành móng ngựa, họ, một cách bất biến, vẫn là những con người.

Nguyễn Hưng Quốc - Nhận lỗi rồi thì sao nữa?

Nguồn VOA

Trong diễn văn kết thúc hội nghị Trung ương đảng lần thứ 6, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhìn nhận trách nhiệm của Bộ chính trị trong việc để cho nạn tham nhũng hoành hành gây ra những tác hại nghiêm trọng đối với tình hình kinh tế và đời sống của dân chúng. Ông cũng cho biết Bộ chính trị đã "đề nghị Ban chấp hành Trung ương cho được nhận một hình thức kỷ luật và xem xét kỷ luật đối với một đồng chí Ủy viên Bộ chính trị". Đề nghị ấy, cuối cùng, bị bác bỏ: cả Bộ chính trị lẫn "đồng chí Ủy viên" nọ được tha bổng.

Sau hội nghị, trong cuộc tiếp xúc với cử tri tại Hà Nội chiều ngày 16/10, ông Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh đó là "lần đầu tiên Bộ chính trị nhận kỷ luật trước Trung ương". Tuy nhiên, ông lại ví von chuyện kiểm điểm, phê bình và tự phê bình ấy, chỉ giống như việc "rửa mặt hàng ngày".
 
Cũng sau hội nghị, Chủ tịch nước Trương Tấn Sangthừa nhận một cách mạnh mẽ hơn: "Chúng tôi có lỗi lớn." Xin lưu ý: Không phải chỉ là "lỗi". Mà là "lỗi lớn".
 
Thật ra, đây không phải là lần đầu tiên giới lãnh đạo đảng Cộng sản nhận lỗi trước nhân dân. Nhớ, cách đây hơn 50 năm, sau khi những sai lầm của cải cách ruộng đất bị phanh phui và trước những sự bất mãn của dân chúng cũng như của một số khá đông đảng viên và cán bộ, Trung ương đảng Cộng sản cũng đã "nhận lỗi" trước nhân dân. Tuy nhiên, ít nhất, thời ấy, người ta không chỉ "nhận lỗi" suông. Người ta còn chứng tỏ việc nhận lỗi bằng một việc làm cụ thể: khai trừ Hồ Viết Thắng, ủy viên dự khuyết, người trực tiếp chịu trách nhiệm việc chỉ đạo cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu ấy, ra khỏi Ban chấp hành Trung ương và thôi giữ chức Thứ trưởng Bộ Nông lâm.
 
Thực chất đó chỉ là một màn kịch để xoa dịu sự phẫn nộ của dân chúng. Thứ nhất, Hồ Viết Thắng chỉ là người chỉ đạo phong trào chứ không phải là người hoạch định và quyết định chính sách liên quan đến phong trào. Nói cách khác, ông chỉ là người thừa hành. Ông bị nhận kỷ luật như một cách thí quân để giữ tướng. Thứ hai, không lâu sau đó, Hồ Viết Thắng được phục hồi và được giao những chức vụ quan trọng dù không phải thường xuyên xuất hiện trước quần chúng: từ 1961 đến 1988, suốt gần 30 năm, ông giữ chức Phó chủ nhiệm Ủy ban kế hoạch Nhà nước.
 
Lần này, tệ hơn nữa, người ta không cần phải thí quân. Nhìn nhận trách nhiệm, hơn nữa, trách nhiệm lớn, nhưng không có ai bị kỷ luật gì cả. Cá nhân: không. Tập thể: cũng không. Chỉ là một lời nhận lỗi và nhận trách nhiệm suông vậy thôi.
 
Ai cũng biết trách nhiệm chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi đôi với quyền hạn và hình phạt. Không ai có thể hoàn thành trách nhiệm nếu không có quyền hạn. Và cũng không ai thực sự chịu trách nhiệm về những sai lầm của mình nếu không phải đối diện với hình phạt hay hình thức kỷ luật nào đó. Nói đến trách nhiệm mà không nói đến quyền hạn hay hình phạt đều là những sự lừa bịp.
 
Nhưng tại sao giới lãnh đạo Việt Nam lại dám thi hành một chính sách lừa bịp như vậy?
 
Nguyễn Phú Trọng giải thích:
 
"Kinh nghiệm lịch sử Đảng ta cho thấy, một khi Đảng tự nhận ra sai lầm, khuyết điểm và tự nghiêm khắc, quyết tâm khắc phục, sửa chữa thì sức mạnh của Đảng càng được nâng lên; nhân dân càng tin yêu và ủng hộ Đảng."

Nói cách khác, người ta an tâm thi hành chính sách lừa bịp ấy vì người ta tin là nó có hiệu quả.

Tính hiệu quả ấy nằm ở một yếu tố: sự nhẹ dạ của dân chúng.
Vấn đề là: hiện nay dân chúng có còn nhẹ dạ như trước nữa không?