Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

Phạm Văn Thành : Cơn Bão Nhỏ Trong "Vũng Lầy Của Chúng ta" .

Nguồn facebook Phạm Thành

February 26, 2014 at 3:10am

Cơn Bão Nhỏ

Trong "Vũng Lầy Của Chúng ta" .

*

 

 

Cơn xúc động về  cuộc cách mạng dân chủ ở Kiev thành công chưa được thẩm thấu  đủ  vào  lòng mỗi ngươì trong anh em chúng ta , thì nổ ra cuộc  tranh luận làm rung chuyển cả một cái làng dân chủ vốn đang vừa xây dựng vừa tìm kiếm nguyên vật liệu, lại vừa  phải tự tổ chức  phòng thủ việc chó dại hay xuất hiện từng đàn cắn giết ngươì ngay …ở một thế giơí không biên giới có tên là Viêt nam.

 

Xúc động của hai  nhân lực chủ chốt  chưa kịp lắng , đã  xuất hiện nhiều hiêp sĩ bịt mặt ,mắt lườm lườm tay lăm lăm  những tấm lưới cá ghim đầy móc câu sắc lẻm , quăng  ngay khi có thể , vào những bước chân đang choải  chống  trên đường sạn đạo của hai  vị chiến  binh nhiều nội lực .

 

Nhiều ngươì phát ngôn ối giời rất to , làm cứ như trong lòng mình tiếc nuối thực sự việc hai võ  sư  « đánh chém »  nhau ! Lại còn than rằng  thôi thế thì hỏng , dân chủ đa nguyên nước mẹ gì nữa !

 

Nhiều anh hùng lại nhẹ nhàng đưa đẩy, chắc hẳn là ước mong cho hai chưởng môn  rút hết bí kíp mà choảng nhau  một mất một còn !

 

Những kẻ đau thật , là những kẻ thật sự đang âm mưu, đang phá đất gieo mạ cấy trồng cật lực trên cách đồng dân chủ còn ẩn tàng nhiều tai ương  và gai góc.

 

Sự việc vì đâu nên nỗi ?

 

Một cái face của  một chị họ Hồ  đã bất ngờ tung  một qủa đấm thép vào giữa lưng anh bạn chuyên buôn gió . Hòn đất (củ chi) ném đi tất hòn chì ném lại ! Gã buôn gió  vốn  giắt trong thắt lưng đầy bão tố đã không ngần ngại tung chiêu  cuồng phong !  Khổ cái là  trong cơn thịnh nộ ấy, lều nấm làng ta tơi tả ! Chủ vựa nấm vốn  nổi tiếng là  « gà mái sống chết vì con » , mẻ không cần  ỉ ôi la làng , vác gậy  gọi gió ra sàn giác  đấu ngay .

 

Giời ạ ! Anh em giang hồ bốn bể sợ run lên bần bật !

 

Mới biết gã Gió  hắn lắm người yêu !

 

Mới biết nàng Nấm có khối người mê mệt !

 

Tưởng là đánh nhau vỡ đầu mà chẳng được giải  gì sất . Hóa ra  làng ta được cái  được rất to . Ấy là trong chỉ một ngày giời , bốn phương tám hướng người người đều bỏ việc , ngưng tay  ..chầu hẩu nhìn về  hai sư huynh tỷ  muội  đang  điểm nhỡn nhau trên mai hoa thung ! Thậm chí có người chắp tay van vái trơì phật , gây  nên mưa to gió lớn để đài mai hoa thung kia sập  đổ , hai sư huynh sư tỷ  ướt nhẹp sẽ thôi không guýnh nhau nữa …. Thương nhau đến vậy thì thôi , chứ còn đòi hỏi  gì nữa  hỡi cả làng dân chủ…

 

Mà  đúng là lo chuyện con bò trắng răng ! Hai ông bà ấy  vào ra chốn giang hồ gió tanh mưa máu đã ngót ghét nghìn trận . Một chiêu quẹt ra là bẩy tám chiêu biến thế  lọ mọ  kéo đuôi phía sau , lấy đâu mà  chết  vơí bị thương ! Cái lo là lo ở chính chúng ta , lũ thưởng lãm các chiêu võ kinh bí kíp Văn Lang nghìn đời . Trình ta còn non , vỗ tay linh tinh  không chừng thành  ném lửa vào ngòi bom U bom H ! Vỗ ấy phành phạch kêu giời than thân trách phận  coi chừng thành nước  mắt trượt chân kẻ song đấu  mà bêu đầu máu cho cả hai ! Thế giới vũ học mênh mông khôn lường, học chưa  qua trình trung tấn thì đừng bàn vào việc  ảo diệu biến quyền . Im lặng  lắng nghe  để học thêm nhiều điều  bổ ích cho xã hội và non sông, ấy là  điều nên  giữ trong giờ này .

 

Ðộng lực làm nảy sinh cuộc tỷ thí văn chương chiến đấu đến từ lòng yêu thương đồng đội . Gió  quí mến  Bùi Hằng . Thấy Bùi Hằng lâm nạn mà lại có chị họ Hồ buông tiếng lạnh lùng… làm Gió không chịu được ; lại còn lòng thòng chuyện  tiền mượn tiền cho ( cái này  của chị Lan Hương là rất rất không nên !)  …Nhưng Gió buộc  cả dây thừng vào áo sống Mẹ Nấm  thì …thật là bi ai ! Nấm không  thủ võ giữ  gìn  thì tuột  hết cả vải vóc ư ? Chưa biết thực hư thế nào , nhưng  việc Nấm  thủ kình giữ chặt áo sống  là điều   tất yếu , nam nhi  giang hồ khắp nơi  có ý bất bình Gió cũng là điều thông cảm được ,mà các đấng mắt phượng mày ngài  có  đeo bùa  bằng hai chữ vt  xô nhau tán tụng Gió …cũng là điều dễ hiểu .

 

Tôi là kẻ ở giữa . Thương  Nấm 10 thì cũng yêu Gió đến chín rưỡi .  Thật lòng là không muốn thấy  hai người tuốt song đao kình chiến  nữa . Thế là đủ rồi . Cả hai  còn thừa thời gian và cơ hội để chứng minh lòng mình với non sông.  Bùi Hằng vẫn còn đấy . Không ai giết Bùi Hằng được . Nấm cũng đã rất  rạch ròi  khi  phát biểu từ sớm thái độ chống  hành vi bẩn thỉu của kẻ cầm quyền trong chuyện bắt Buì Hằng . Gió đừng  cột áo Nấm  vào vơí  chị Lan Hương . Chị Lan Hương là người đã có danh phận vơí đời, chắc chắn không cần ai phải giật dây thun hay lên dây cót. Quan điểm của chị Lan Hương ,chị Lan Hương đủ trách nhiệm để bảo lưu hoặc  bôi xóa , hoàn toàn không cần đến Nấm chỉ huy hay dẫn đạo. Nên sòng phẳng vơí Nấm như vậy , sẽ  tránh được bão tố cho lòng anh em.

 

 

Việc Bùi Hằng và Bắc Truyển bị đối xử « bất thường » …là do  cả Bùi Hằng lẫn Bắc Truyển chưa lượng giá đúng tầm nguy hiểm khi đụng vào  vùng đất thánh địa An Giang Ðồng Tháp ! Nơi ấy  hàng trăm  tấn bom U  đã chất sẵn từ  ngày xảy ra vụ án Ðốc Vàng ! Căn nhà  đám cưới  của Bắc Truyển chỉ cách thánh địa An Giang một  cái bờ sông ! Có là điên  chúng mới để tự do cho anh em  bốn phương họp bàn , thậm chí đem dây cháy chậm chất hàng đống bên sông .

 

An giang ,Tịnh Biên , Đồng Tháp... cái cần thiết chiến lược của vùng đất này  là mạng lưới truyền thông thông tin. Khi có đủ thông tin nối kết  tức thời liên quốc gia , An Giang , Bảy Núi sẽ  tự kích nổ và khả năng  làm cháy tiêu  lăng Ba Ðình là khả năng có thể xảy ra . Ðiều này , nhà đương quyền  hiểu rõ hơn bất cứ ai . Nên việc Bắc Truyền mang hàng thùng  "dây- cháy - chậm - internet " về … họ  lập tức bao vây  và điên cuồng trấn áp là chuyện đáng ra phải nhìn thấy từ trước khi có kế hoạch  khơỉ động cuộc "du hành " .

 

Bùi Hằng cũng vậy . Bùi Hằng có thể  dùng ngôn ngữ đặc thù của Bùi Hằng ở nơi khác , chứ  dứt khoát  sẽ bị dập te tua  khi ứng dụng  cách tranh đấu khiêu khích  và thách đố , vốn sở trường của  Bùi Hằng , ở An Giang Ðồng Tháp .Những câu đm hay chửi  bới dòng tộc  đối  với đám công an ở đất ấy là không xong ! Bị chửi kiểu chửi của Bùi Hằng  đã áp dụng ở những nơi khác , đám công an  Đồng tháp An giang chắc chắn sẽ  có thái độ một mất một còn với Bùi Hằng,  thậm chí  chúng cóc cần biết đến  pháp luật (dù là pháp luật nhăng nhít của loài cộng dỏm ) nữa ! Ðây là một vấn đề tế  vi mà  tất cả những người tranh đấu cần  tìm hiểu .Vì đất ấy là đất lửa , đất Thất Sơn  thần quyền,  đất tứ ân Phật giáo Hoà hảo...Đất  chứa bom U bom H ! Đất  muốn đụng vào phải  tu tĩnh  đã ngang với bậc thượng thừa .

 

Việc  lên tiếng bảo vệ Bùi Hằng là việc cần làm, như Nấm đã từng viết.  Bản thân tôi cũng có những đụng chạm với Bùi Hằng và bị đám nhố nhăng dựng chuyện thò diêm  đòi đốt nhà ! Nhưng không vì thế mà  có thể dửng dưng với Bùi Hằng trong hoàn cảnh này . Tuy nhiên , đó chỉ là phản ứng của ngươì cùng chiến tuyến đang đòi dân chủ cho xứ sở  ; chứ thâm tâm , tôi không tán tụng các hành động  chửi bới rủa xả , khiêu  khích…của Bùi Hằng .

 

Với thiển nghĩ của  tôi , hành động đó  có thể làm cho một số đông thích thú  tán dương, nhưng về lâu về dài , là điều bất lợi cho quyền lợi của cuộc đấu tranh .

 

Qua chuyện Ðồng Tháp -Thất Sơn . Tôi mong sao Bùi Hằng nhìn  ra được một số vấn đề để sau đó thay đổi chiêu thức . Tôi tin  khả năng chuyển hóa của  tín đức Tứ Ân . Tôi tin sự huyền diệu của  tinh  thần đức Huỳnh Phú Sổ sẽ tác tạo nên một Bùi Hằng thực sự  là một người anh hùng của non song nước Việt  cẩm tú .

 

 

Cuối cùng ,mong  hai người tôi  rất quí mến , cùng tự thắng . Tất cả đều đang còn ở phía trước .

 

Chân thành .

 

 

 

phạmvănnthành . Paris 25.2.14

Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Nguyễn Hưng Quốc : Phát triển trước, dân chủ sau!?

Nguồn VOA

Để trì hoãn dân chủ và cũng để biện minh cho chế độ độc tài độc đảng tại Việt Nam, ngoài hai lý do chính đã nêu trong bài "Ai kiềm hãm dân chủ?": trình độ dân trí thấp và lòng thù hận còn ngùn ngụt giữa những người Việt với nhau, giới tuyên huấn Việt Nam còn nêu thêm một lý do khác: Điều Việt Nam cần nhất hiện nay là giàu mạnh; muốn giàu mạnh cần có sự tập trung lực lượng, ý chí và chính sách; nghĩa là, nói cách khác, cần độc tài. Hai tấm gương người ta đưa ra nhiều nhất là Trung Quốc và Singapore. Người ta hứa hẹn: khi ở Việt Nam, mọi người không những no cơm ấm áo mà còn được giáo dục tốt, hơn nữa, có đủ mọi thứ tiện nghi xa xỉ khác, dân chúng tha hồ bỏ điều 4 trong Hiến pháp và thay đổi thể chế. Lúc ấy, muốn tự do hay muốn lập bao nhiêu đảng cũng được.
 
Để củng cố cho các quan điểm của mình, một số người nêu một số lý do: Một, dưới chế độ độc tài, mọi quyết định của giới lãnh đạo dễ dàng hơn, do đó, dễ có hiệu quả hơn; hai, độc tài duy trì trật tự và nuôi dưỡng tinh thần kỷ luật; ba, độc tài tiết kiệm được nhiều chi phí hành chính "vô ích" như bầu cử hay lương hướng cho phe đối lập; và bốn, độc tài tạo nên ổn định xã hội (khi nói ý này, họ chỉ tay về phía Thái Lan: "Thấy chưa? Ở Thái Lan dân chủ quá nên dân chúng cứ biểu tình hoài, vừa gây rối trật tự giao thông vừa khó khăn cho việc làm ăn buôn bán của mọi người!); v.v..
 
Nghe, ngỡ chừng có lý, nhưng ở đây lại có nhiều vấn đề.
 
Thứ nhất, không phải chế độ độc tài nào cũng có khả năng làm cho đất nước phát triển giàu mạnh. Có. Nhưng hiếm hoi. Đầu thập niên 1970, kinh tế Brazil phát triển mạnh dưới một chế độ quân phiệt; trong thập niên 1980, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan đều biến thành những con hổ trong lãnh vực kinh tế dù vẫn sống dưới chế độ độc tài. Trong thập niên 1990, đó là hiện tượng Trung Quốc. 
 
Nhưng tất cả những nước vừa nêu chỉ là những ngoại lệ. Điều kiện chính để các ngoại lệ ấy trở thành ngoại lệ là quyết tâm và tài năng của người lãnh đạo: Ở Trung Quốc, đó là Đặng Tiểu Bình và ở Singapore, là Lý Quang Diệu. Ở tất cả các nước khác, độc tài chỉ dẫn đến sự kiệt quệ về kinh tế, sự lạc hậu về kỹ thuật và sự suy đồi về văn hóa. Bằng chứng? Nhiều vô cùng. Tất cả các nước cộng sản trước đây đều độc tài và tất cả đều tệ hại trong mọi phương diện. Ở châu Phi, tất cả các quốc gia độc tài đều là những quốc gia nghèo đói triền miên và nợ nần thì chống chất. Hiện nay, hai nước cộng sản độc tài nhất cũng là hai nước bần cùng nhất: Bắc Hàn và Cuba. Các nhà độc tài Francois Duvalier (thường được gọi là Cha/Bố Doc) ở Haiti, Saparmurat Niyazov ở Turkmenistan, Rafael Trujillo ở Dominican Republic, Muammar Gaddafi ở Libya, Mobutu ở Congo, Francisco Macias Nguema ở Equatorial Guinea, Kim Nhật Thành, Kim Chính Nhật và Kim Chính Ân ở Bắc Hàn, Saddam Hussein ở Iraq, Mohamed Siad Barre ở Somalia, Mengistu Haile Mariam ở Ethiopia, Daniel arap Moi ở Kenya, Robert Mugabe ở Zimabwe, Hosni Mubarak ở Ai Cập, Ibrahim Babangida và Sani Abacha ở Nigeria, Paul Kagame ở Rwanda, v.v. chỉ có "công" duy nhất là làm cho đất nước của họ ngày càng trở nên cô lập và bần cùng. Ở Việt Nam, độc tài đã ngự trị trong phạm vi cả nước đã gần 40 năm: Giới lãnh đạo đã có toàn quyền để làm bất cứ những gì họ muốn, không những không bị phản đối mà còn không bị cả phản biện nữa, nhưng kết quả ra sao?
 
Thứ hai, độc tài tự nó không dẫn đến phát triển, hơn nữa, còn đối lập với phát triển. Để phát triển, ngoài tài nguyên và nhân công, người ta cần những chính sách sáng suốt; để có các chính sách sáng suốt ấy, người ta cần có trí tuệ. Trí tuệ, liên quan đến chính sách, đến từ hai nguồn: Một, từ các nhà lãnh đạo; và hai, từ tập thể. Để có trí tuệ tập thể, hai điều kiện cần nhất là: Một, người ta phải có khả năng suy nghĩ một cách có phê phán; và hai, người ta có đủ tự do để phát biểu những điều mình suy nghĩ. Nhưng hai điều kiện ấy lại không thể nảy nở dưới các chế độ độc tài. Thiếu hai điều kiện ấy, những cái gọi là trí tuệ tập thể chỉ là những sáo ngữ. Ngay cả trí tuệ thiên tài của một cá nhân cũng có nguy cơ vấp sai lầm, và vì nguy cơ ấy, cần được phản biện và kiểm tra. Đối lập tồn tại là để đóng vai trò phản biện và kiểm tra ấy.
 
Trong bài "Can China Innovate Without Dissent?" đăng trên The New York Times ngày 21/1/2014, giáo sư Stephen L. Sass, người từng được mời giảng dạy tại Trung Quốc trong nhiều năm, nhận xét: Mặc dù trong mấy thập niên vừa qua, Trung Quốc phát triển vượt bậc, nhưng ông không tin là họ có thể vượt qua được Mỹ. Từ góc độ văn hóa đến góc độ thiết chế và chính trị, Trung Quốc không hề khuyến khích óc phê phán và sự tự do trong tư tưởng, do đó, không hy vọng gì có thể cách tân thực sự trong lãnh vực khoa học kỹ thuật.

Thứ ba, phát triển, tự nó, không dẫn đến dân chủ. Singapore, chẳng hạn, vốn được xem là một quốc gia phát triển với thu nhập bình quân trên đầu người trên 60.000 Mỹ kim, thuộc loại cao nhất trên thế giới, thế nhưng, cho đến nay, nước này vẫn bị xếp vào loại "tự do một phần" (partly free). Phần lớn các quốc gia ở Trung Đông, nhờ các tài nguyên thiên nhiên, chủ yếu là dầu và khí đốt, đều giàu có với thu nhập bình quân trên đầu người rất cao, có khi, phải nói là cực cao, như ở Qatar là trên 100.000 Mỹ kim; ở Kuwait là trên 40.000; ở United Arab Emirates cũng trên 40.000; ở Oman, Bahrain, và Saudi Arabia, đều trên 20.000, v.v.. Nhờ giàu có, họ cũng rất phát triển. Vậy mà hầu như không có nước nào có tự do cả. Hiện nay, Nga cũng là một nước phát triển, được xếp vào nền kinh tế lớn hàng thứ 8 trên thế giới, với thu nhập bình quân trên đầu người khoảng gần 15.000 Mỹ kim, nhưng dưới quyền cai trị của Vladimir Putin, dân chúng vẫn không hề có tự do.
 
Thứ tư, khái niệm phát triển không nên chỉ giới hạn trong phạm vi kinh tế; và trong phạm vi kinh tế, giới hạn trong chuyện thu nhập. Đó chỉ là một khía cạnh. Trong ý niệm phát triển, còn ít nhất ba khía cạnh khác quan trọng không kém: một là y tế tốt để tuổi thọ được kéo dài; hai là giáo dục tốt để trình độ dân trí càng ngày càng cao; và ba là nhân quyền được tôn trọng để mọi người được sống như những con người thực sự. Dân chúng giàu có bao nhiêu nhưng nếu họ không được giáo dục và quyền làm người của họ không được tôn trọng, không thể nói là phát triển được. Hiểu theo nghĩa rộng như vậy, phát triển đồng nghĩa với tự do: Cả hai đồng hành với nhau. Do đó, nói phát triển trước rồi sau đó mới cho phép tự do là nói một điều mâu thuẫn. Trong chính trị, mâu thuẫn thường là một sự dối trá.
 
Thứ năm, ngoài việc độc tài không bảo đảm phát triển và phát triển không bảo đảm cho dân chủ, luận điệu trên còn còn quên một khía cạnh khác: Trong các chế độ chính trị, độc tài hàm chứa nhiều nguy cơ tham nhũng nhất. Cần nhấn mạnh là: do gắn liền với lòng tham của con người và tính chất không thể hoàn hảo được của mọi bộ máy công quyền, tham nhũng xuất hiện ở mọi thời và mọi nơi. Không có nơi nào, ngay cả trong các tôn giáo, tránh được tham nhũng. Vấn đề là ở mức độ. Và về mức độ, không thể phủ nhận được sự thật này: trên thế giới, trừ Singapore, nước càng dân chủ bao nhiêu càng ít tham nhũng bấy nhiêu. Lý do rất dễ hiểu: Dân chủ, trong đó, quan trọng nhất là quyền tự do thông tin và tự do ngôn luận, tự bản chất, là những biện pháp hữu hiệu nhất để chống tham nhũng.
 
Bất chấp những lý lẽ trên, Việt Nam vẫn muốn làm một con hổ trước khi dân chủ hóa.
 
Tưởng tượng một con hổ vồ một người. Thấy người đó than khóc lạy lục thảm thiết quá, con hổ bèn an ủi: Không sao đâu, mày cứ nằm yên để tao ăn thịt mày; khi no rồi, tao sẽ đi bắt vài con bò Kobe về để mày làm…beefsteak nhậu!

Việt kiều kêu gọi thủ tướng hành động cho đất nước (RFA phỏng vấn Đặng Văn Âu)

Nguồn RFA

Gia Minh, biên tập viên RFA 2014-02-25

02252014-giaminh.mp3
000_Hkg9354073-305.jpg
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng (T) chụp tại Phnom Penh hôm 13/1/2014
AFP photo

 

Cũng như nhiều nhân sĩ- trí thức và một số người dân trong nước, hồi ngày 21 tháng 4 vừa qua, thêm một người Việt sinh sống tại nước ngòai là ông Bằng Phong Đặng Văn Âu từ California lại viết thư cho thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kêu gọi hãy hành động để thay đổi đất nước.

Gia Minh có cuộc nói chuyện với ông Đặng Văn Âu về sự việc đó, và trước hết ông Âu cho biết:

Ông Bằng Phong Đặng Văn Âu: Tôi là người ở hải ngoại chắc không làm được gì cho đất nước, chỉ có người trong nước họ mới giải quyết được vấn đề trong nước. Theo như tôi thấy quần chúng Việt Nam chưa đủ sức để làm một cuộc cách mạng như Ukraina, chỉ có người đang cầm quyền thay đổi thì mới giải quyết được vấn đề đất nước. Và theo nhận định của tôi thì ông Nguyễn Tấn Dũng là người có đủ quyền lực để làm. Trước đây tôi có viết cho ông Nguyễn Tấn Dũng hai lá thư với tư cách một người già nói với một người trẻ là 'chuyện đất nước chỉ có ông mới làm được'. Chứ còn tôi thấy những người khác không có đủ lực để làm.

Nay tôi nghe trong bài nói chuyện đầu năm của ông Nguyễn Tấn Dũng, trong đó ông nói rằng 'Việt Nam cần phải thay đổi thể chế'. Rồi mới đây vào ngày 19 tháng 2, ông nói thẳng 'chúng ta, người Việt Nam luôn có truyền thống chống quân xâm lược, và những người chiến đấu để bảo vệ tổ quốc, chúng ta cần phải ghi ơn'.  Qua lời tuyên bố của ông Dũng, tôi tin rằng ông là người muốn bảo vệ chủ quyền của quốc gia, vì vậy tôi viết lá thư vừa rồi. Tức là nếu ông Nguyễn Tấn Dũng làm được chuyện cho đất nước, thì ông sẽ trở thành một vị thánh. Còn nếu ông vẫn giữ đường lối cai trị như hiện giờ, từ trước đến nay, ông sẽ bị nhân dân nguyền rủa.

Quan điểm của tôi là con người sống ở đời tới một thời gian nào cũng chết thôi, tiền bạc, của cải, danh vọng gì rồi cũng hết, điều quan trọng nhất là làm được gì cho dân, cho nước. Chẳng hạn các vị anh hùng dân tộc như ông Trần Hưng Đạo đã mất rồi nhưng uy danh của ông vẫn còn với đất nước, đó là sống mãi trong lòng của người dân Việt Nam.

Gia Minh: Thưa ông, ở Việt Nam Đảng lãnh đạo toàn diện đất nước với Bộ Chính Trị, chứ một mình ông Nguyễn Tấn Dũng có làm được điều gì không?

Ông Bằng Phong Đặng Văn Âu: Theo nhận định của tôi ông Nguyễn Tấn Dũng có thực quyền hơn cả ông Võ Văn Kiệt ngày xưa, tất cả những tướng lĩnh công an đều do ông Nguyễn Tấn Dũng cắt đặt đưa lên. Trong đại hội đảng, ông Nguyễn Phú Trọng, ông Trương Tấn Sang đều muốn hạ bệ ông Dũng, nhưng không hạ bệ được mà rốt cục còn sợ ông Dũng nữa, bằng chứng là chỉ gọi 'đồng chí X' chứ không dám nêu đích danh ông Dũng. Như vậy những thế lực kia, ông Dũng coi cũng chẳng ra gì, kể cả Bộ Chính trị.

Trong thư của tôi có nói, nếu ông Dũng bằng lòng làm một cuộc cách mạng cho dân tộc để tên tuổi của ông sống mãi với ngàn năm thì xin ông một là công khai mời tôi về trong nước để chỉ cho ông phương thức để làm, hoặc ông gửi một người thân tín của ông như ông tướng Võ Viết Thanh chẳng hạn, sang gặp tôi, tôi sẽ nói. Bởi vì chuyện đó tôi chỉ nói cho ông Dũng hoặc người thân tín của ông Dũng thôi. Do tôi có cách, và cách của tôi bảo đảm hữu hiệu đến 90%, 10% còn lại nếu ông Dũng không làm được mà chết đi thì uy danh của ông vẫn là một 'bậc thánh', vì ông muốn làm cho đất nước chứ không phải làm cho các nhân hay gia đình ông.

Tôi không phải là người tự phụ, nhưng tôi biết cách và nếu tôi có quyền như ông Dũng, tôi sẽ làm; nhưng tôi không thể tiết lộ ra công khai sẽ làm gì.

Không thể nói dối được nữa...

000_Hkg8650210-250.jpg
Người dân Hà Nội trong một lần biểu tình chống Trung Quốc hôm 02/6/2013. AFP photo

Gia Minh: Ngay ở trong nước cũng có những phát biểu tỏ ra nghi ngờ về những phát biểu của ông Nguyễn Tấn Dũng, không phải phát biểu mới đây mà cả những phát biểu trước đây. Họ nói mỗi khi ông Nguyễn Tấn Dũng gặp bế tắc trong điều hành đất nước thì lại đưa ra phát biểu mang tính dân tộc để lấy lòng người dân. Trước đây, ông tổng thống VNCH cũng nói 'đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm'. Vậy mức độ tin tưởng của ông đối với những điều ông Nguyễn Tấn Dũng nói ra sao?

Ông Bằng Phong Đặng Văn Âu: Tôi không phải là người ngây thơ, ngờ nghệch đâu. Bởi vì trong quá khứ ông Dũng đã từng, khi mới lên cầm quyền nói rằng 'tôi ghét nhất sự dối trá và tôi yêu nhất sự chân thật'; nhưng rồi ông nói một đường, ông làm một nẻo. Rồi ông lại cam kết 'nếu ông không diệt trừ được tham nhũng, thì ông sẽ từ chức'; rồi ông không diệt trừ được tham nhũng, và cũng không (từ chức).

Thế nhưng ở thời điểm này là thời điểm ông Dũng không thể nói dối được nữa. Bởi vì ông có nói dối ông cũng sẽ không còn tồn tại, ông không thể im lặng được nữa. Vì những cuộc cách mạng như Cách mạng Hoa Lài, Cách mạng Ukraina thì người dân thông qua được thông tin từ các đài phát thanh trên thế giới, mà trong đó RFA đóng một vai trò rất quan trọng, ông không thể bịt mắt nhân dân được nữa. Nhất là truyền thống chống ngoại xâm nằm trong máu của người dân Việt Nam, cho nên ông không thể dùng sức mạnh nào để đàn áp truyền thống đó được. Ngày xưa họ đưa chiêu bài 'độc lập- tự do- hạnh phúc, chống ngoại xâm' mà người dân chưa biết nên đã xả thân chiến đấu.

Chẳng hạn họ bảo 'chống quân xâm lược Mỹ', nhiều người đã chết vì yêu đất nước Việt Nam chống quân xâm lược. Nhưng thực tế đó không phải là một cuộc chiến tranh giải phóng mà là một cuộc chiến tranh xâm lược miền nam. Vì vậy những chiến sĩ từng chiến đấu trong cuộc đấu tranh xâm lược miền nam, nay họ tỉnh ngộ và họ ca tụng Việt Nam Cộng Hòa. Việt Nam Cộng Hòa đúng là lý tưởng của người tự do, yêu dân chủ. Nhưng thất bại vì vị thế của thế giới, của lòng dân chưa sáng tỏ lúc bấy giờ. Bây giờ hơn lúc nào hết, người dân hiểu được giá trị tự do của Việt Nam Cộng Hòa.

Tôi không phải dại dột, ngờ nghệch viết điều đó đâu, mà đẩy cho ông Dũng tới chỗ hoặc là thành thánh hoặc là tội đồ của dân tộc.

Gia Minh: Suốt gần 40 năm qua, những người từ phía Việt Nam Cộng Hòa và những người thuộc miền bắc có lúc nói đến chuyện hòa hợp, hòa giải, nhưng dường như chuyện đó 'bế tắc'. Ông vừa nói rằng có người ở miền bắc thấy được lý tưởng bảo vệ đất nước chân chính của miền nam, ông thấy điều đó có manh nha cho một cái gì tốt đẹp sắp đến?

Ông Bằng Phong Đặng Văn Âu: Chính một cựu chiến binh ( miền bắc) từng tuyên bố trên đài RFA bây giờ họ nhìn ra Việt Nam Cộng Hòa đúng là một chính thể mà toàn dân phải noi theo.

Tôi xin chứng minh Việt Nam Cộng Hòa là một nền dân chủ rất nhân bản: nếu không nhân bản làm sao nhạc của Trịnh Công Sơn phổ biến được! Làm sao nhạc của Phạm Duy nói đến một người chiến binh 'anh trở về trên đôi nạng gỗ, anh trở về có khi nằm trong hòm gỗ…' mà Việt Nam Cộng Hòa vẫn cho phép. Vì vậy mà người lính Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu để bảo vệ giá trị đó, chứ không phải chiến đấu cho Mỹ, ngụy nào hết. Bây giờ rõ ràng họ thấy rồi, như anh Ngụy Văn Thà chiến đấu cho lãnh thổ Hoàng Sa của Việt Nam. Thành thử ra qua thời gian, người cộng sản không thể nào nói rằng họ giải phóng miền Nam mà rõ ràng họ xâm lược một nước Việt nam Cộng Hòa. Cho nên khi người dân thức tỉnh thì nhà cầm quyền không thể nào mãi mãi dối trá được. Bởi vì sức mạnh của quần chúng ghê gớm lắm mà người cầm quyền không ý thức được thì sẽ đi đến cái chết như Ceausescu ở Rumani thôi.

Cần sức mạnh lòng dân

000_Hkg9431242-250.jpg
Các vũ công trong một tiết mục múa kỷ niệm 225 năm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa hôm 04/2/2014 tại Hà Nội. AFP photo

Gia Minh: Ông đã viết thư cho thủ tướng Việt Nam với mong muốn thúc đẩy thủ tướng Việt Nam phải có hành động. Đó là một cá nhân, dù có quyền lực để có thể tiến hành thay đổi. Ngoài ra còn đối với các tổ chức dân sự và người dân, họ còn phải làm gì nữa để giúp cho đất nước đi đến dân chủ thực sự và phồn vinh?

Ông Bằng Phong Đặng Văn Âu: Anh có thấy rằng đất nước Việt Nam như có một 'phép lạ'; mặc dù bị cai trị rất hà khắc, mặc dù bị đưa vào một nền giáo dục dối trá; thế mà những người trẻ Việt Nam họ không bị nhồi sọ, họ nhìn thấy đất nước suy vi và họ liều thân để ra đòi hỏi nhân quyền cho Việt Nam. Tôi coi những người như Phương Uyên, như Huỳnh Thục Vy, như Nguyên Kha … không phải là người thường. Họ là 'thánh' từ trời cao đưa xuống.

Vậy thì những người đã chiến đấu trong hàng ngũ cộng sản, gọi là 'lão thành cách mạng', dù muốn dù không cũng đã góp tay vào một chủ nghĩa xấu, bây giờ họ phải thức tỉnh và không cần phải làm gì ghê gớm. Họ chỉ cần xác minh rằng trong cuộc chiến đấu xưa vì yêu nước, họ bị lừa. Bây giờ họ đừng ca tụng người lừa  họ nữa. Đáng lý ra họ phải hận thù người lừa họ, nay họ vẫn còn ca tụng. Tôi lấy ví dụ cụ Nguyễn Trọng Vĩnh vẫn ca tụng ông Hồ, thì làm cản bước những người trẻ yêu nước.

Người yêu nước cần chính nghĩa ghê gớm lắm, họ yêu tự do. Những người lão thành cách mạng không cần làm gì hết. Nếu già quá không đi nổi thì đi xe lăn ra chỗ mà anh em đòi hỏi tự do. Người còn khỏe mạnh thì chống gậy đi. Những người đó làm một cuộc cách mạng chứ không ai khác hết. Bởi vì họ đang ở vị thế 'cha, chú' của những người đang cầm quyền chứ không phải 'dân đen, dân thường'. Mà ở địa vị 'cha, chú' thì phải nói rõ 'các chú ơi, các anh đây đã đi theo Bác Hồ và sai lầm đường rồi, bây giờ các chú hãy trả lại quyền tự do cho dân đi, đừng bắt nạt dân nữa, bởi vì nước muốn tồn tại phải có sức dân mạnh mới được. Ngày xưa tổ tiên ta đâu cần chủ nghĩa cộng sản gì đâu mà vẫn chống được ngoại xâm'.

Thành thử ra phải nói thẳng, nói thật vì cuộc chiến đấu này là một cuộc chiến đấu giữa sự thật và sự dối trá, cuộc chiến đấu giữa lương tâm và lương tri. Anh không thể nào dùng sự dối trá để bào chữa cho quá khứ đã nhúng tay vào tội ác mà không hối hận, không sám hối. Dân tộc Việt Nam, cả người lính Việt Nam Cộng Hòa cũng sám hối bởi vì trong việc giữ nước đã không giữ nước được, tức mình cũng có tội. Bản thân tôi ngày nào tôi cũng xin Trời- Phật tha tội cho tôi vì đã không giữ được miền nam, mặc dù tôi chỉ là một anh lính quèn thôi, không phải ở địa vị lãnh đạo đất nước. Nhưng tôi cũng cảm thấy tôi là người có tội đối với đất nước. Bây giờ tôi đã 75 tuổi rồi, nhưng vẫn còn lên tiếng cho đến hơi thở cuối cùng cho dân tộc Việt Nam.

Gia Minh: Cám ơn ông về những chia sẻ vừa rồi.

Bản cáo trạng viết bởi những tên lùn mà cứ tưởng mình cao đối với blogger Trương Duy Nhất

Nguồn danlambao

Vũ Đông Hà (Danlambao) - Hành vi lùn và không muốn người khác đụng chạm đến cái lùn của mình là đem luật rừng 258 ra cáo buộc "Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân". Lùn ở chỗ khi ai không mang thẻ đỏ thuộc hội lùn như mình thì mọi hành vi đều có thể bị ghép vào cụm từ "lợi dụng" mơ hồ một cách tùy tiện. Hành vi lùn ấy chính là nỗi mặc cảm với thể trạng lùn nên phải dùng vị trí độc quyền ghế cao để ghép tội cho bất kỳ ai không đồng ý với kích thước của mình, đi ngược lại lợi ích "tầm cao" của tập đoàn cai trị.

Trong bản cáo trạng đề cập đến việc blogger Trương Duy Nhất đăng tải 11 bài viết của ông và 1 bài viết của tác giả Nguyễn Dương làm "giảm uy tínmất lòng tin của nhân dân đối với cơ quan ĐảngNhà nước, tổ chức, xã hội và công dân."

Hỏi rằng:

1. Làm sao biết được và chứng minh được nhân dân (tức 90 triệu người) mất lòng tin? Hay đó là triệu chứng tự kỷ ám thị, nhìn gương cao thấy dáng lùn? Và...

2. Làm sao một bài viết có khả năng khiến một tập thể to lớn là nhân dân mất lòng tin đối vớiĐảngNhà nước? Và nếu có, tức là Đảng và Nhà nước phải có vấn đề để số người to tát ấy phải mất lòng tin. Tức là ông Trương Duy Nhất có "tội" vì đã đăng 12 bài viết mà nhân dân có cùng cảm nhận về Đảng và Nhà nước? Tương tự:

3. Làm sao 12 bài viết có khả năng làm một tập thể rộng lớn là nhân dân mất lòng tin đối vớixã hội của chính họ đang sống? Và nếu có, tức là xã hội phải có vấn đề, nếu không làm sao vài bài viết có thể lấy đi lòng tin của nhân dân? Để rồi...

4. Làm sao có chuyện và tại sao lại là "tội" trong việc một tập thể rộng lớn nhân dân mất lòng tin với... công dân? Và đối tượng nhân dân (những người mất lòng tin) và công dân (người bị mất lòng tin) khác nhau?

Đi vào chi tiết, bản cáo trạng buộc tội blogger Trương Duy Nhất:

Bài "trong đảng và ngoài đảng" có nội dung bôi nhọ tư cách đạo đức người đảng viên, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng CSVN.

Nếu thế thì những ông như Trương Tấn Sang công khai lôi cả đảng ra nói nó là bầy sâu thì tại sao không xử ông ta tội "lợi dụng quyền tự do dân chủ" để bôi nhọ đảng? Tội nào lớn hơn việc bôi nhọ tư cách đạo đức bằng cách nói một bộ phận lớn của đảng là thứ sâu bọ? Tại sao không cùm đầu ông Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã "lợi dụng quyền tự do dân chủ" bôi nhọ tư cách đạo đức cán bộ khi tuyên bố "Không tham nhũng lấy đâu tiền chạy chức". Tại sao không tống giam bà Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đã "lợi dụng quyền tự do dân chủ" để bôi nhọ tư cách đạo đức cán bộ đảng viên "Bây giờ người ta ăn của dân không từ một cái gì, từ tiền thương binh liệt sĩ, đến tiền của trẻ em vùng cao, tiền dành cho người nghèo…, ăn hết."? Nói vậy chẳng khác gì nói cán bộ đảng là tập thể của những con heo!?

Tại vì những ông, bà này có thẻ đảng nên tự chửi, tự bôi đen "uy tín" của đảng thì không sao, không vi phạm điều 258? Và có thật là có cái gọi là "uy tín" để mất khi chính các ông bà này đã thú nhận về bản chất của đảng và nhà nước thể hiện từ chính những câu nói của các ông bà ấy? Thế thì: có cái gọi là "lòng tin" của nhân dân để mà mất vì 12 bài viết trên trang web Trương Duy Nhất?

Tương tự, ông Trương Duy Nhất bị cáo buộc làm mất uy tín của ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng với bài viết "Chấm điểm thủ tướng". Vậy trước pháp luật, những kẻ đứng ở Hội nghị 6 TƯ thì có quyền hạ bệ, làm mất uy tín của ông thủ tướng theo kiểu "đồng chí X", "không kỷ luật được một đồng chí trong BCT"Chính các ông, các bà là những người làm mất uy tín của ông thủ tướng trước 90 triệu nhân dân và khi "đến tay" blogger Trương Duy Nhất thì uy tín ấy còn đâu để mà ông Trương Duy Nhất làm mất?

Cũng như thế với bài "Chấm điểm bộ tứ nguyên thủ" và ông Trương Duy Nhất bị cáo buộc là ảnh hưởng đến uy tín 4 ông Mạnh, Triết, Dũng, Trọng của đảng, nhà nước, quốc hội, chính phủ. Không lẻ một công dân không có quyền bày tỏ lượng giá của họ đối với lãnh đạo? Không lẻ lãnh đạo không biết công dân đánh giá khả năng lèo lái đất nước ra sao mà chỉ muốn... kệ cha chúng nghĩ gì, chúng ông lãnh đạo kiểu của chúng ông? Và nếu blogger Trương Duy Nhất cho các ông điểm 10 thì mới đúng luật?

Và cứ như thế, blogger Trương Duy Nhất bị cáo buộc tội đủ 12 bài mà theo bản cáo trạng thì ông đã thừa nhận chính ông là người tự quyết định và thực hiện nhưng không thừa nhận đó là hành vi phạm tội.

Blogger Trương Duy Nhất dứt khoát không phạm tội. 

Cho dù ông có muốn phạm tội cũng dứt khoát ông không thể làm được

Ông không thể làm giảm uy tín một thứ không có uy tín. 

Cá nhân ông không thể làm giảm lòng tin của 90 triệu người vốn đã mất niềm tin. 

Ông không thể làm một người không có chiều cao bớt lùn. 

Ông chỉ vô tình đóng góp thêm một điều ngoài ý muốn của ông: bản cáo trạng "vì ông mà có"đã thêm một lần nữa chứng minh cái đảng và nhà nước hiện nay là tập hợp của những tên lùn nhưng có ảo tưởng mình rất cao và sẵn sàng tống vào tù những ai đá động đến chữ LÙN.


|

Đinh Phàm : Nghiên cứu so sánh các cuộc cách mạng

Nguồn tranhdinhsu

Ai nhân danh cách mạng để bắt giữ pháp luật, tự do và nhân tính?

Đinh Phàm

Trần Đình Sử dịch

      Mặc dù tôi không thích Arendt, bởi vì bà có quan hệ mờ ám, vừa học trò vừa tình nhân với Heidegger, một người có quan hệ với Đức Quốc xã, nhưng ý kiến của bà trong bài Bàn về cách mạng mang đầy tính chất lí tính, sâu sắc khiến tôi đồng tình.

     Cái kết luận mà bà rút ra sau khi so sánh hai cuộc cách mạng chẳng qua là : Bạo lực cách mạng chỉ được sử dụng một lần, nếu sau cách mạng mà không xây dựng được một chế độ dân chủ và pháp luật có hiệu lực thì sẽ không có tự do đích thực, sẽ rơi vào một vòng luẩn quẩn của đấu tranh giai cấp bạo lực, của việc tiếp tục cách mạng lặp đi lặp lại không thể đảo ngược.

   Arendt khi truy tìm từ nguyên của từ "cách mạng" đã chỉ ra,  "Từ cách mạng vốn là một thuật ngữ thiên văn học, nhờ công trình Bàn về sự vận hành thiên thể của Kopernic mà nó ngày càng được coi trọng trong khoa học tự nhiên. Trong thiên văn học nó vẫn bảo lưu ý nghĩa khoa học của thuật ngữ Latinh, chỉ sự vận động có quy luật của các thiên thể…. Giống như một sức mạnh khiến cho các thiên thể vận hành theo một quy luật nhất định[1]. Không có quan niệm nào tương tự như tất cả các hành động khiến mọi người mê hoặc lại đi xa hơn hai chữ cách mạng ấy. Nói một cách khác, các nhà cách mạng cho rằng, trong quá trình tuyên cáo một trật tự cũ phải diệt vong và đón chào sự ra đời một trật tự mới, thì họ chính là nhà đương cục". Đúng vậy, để đón chào cái thành quả to lớn của cách mạng kia, sự ra đời một thế giới mới, chúng ta đã không ngừng tô vẽ cho cách mạng, đồng thời, che đậy cái mặt tàn nhẫn, phản động của cách mạng.

Tất cả mọi cuộc cách mạng, nếu không có kết quả cuối cùng là một pháp luật và một chế độ, thì cái cách mạng ấy rốt cuộc sẽ trở thành hòn đá ngáng đường tiến lên của lịch sử. Đây chính là điều mà Arendt rút ra sau khi so sánh cuộc cách mạng Pháp và cách mạng Mĩ, rồi phơi bày tất cả các thứ tệ đoan của cuộc cách mạng tháng Mười Nga.

Nhìn lại một trăm năm "cách mạng" Trung Quốc, đúng như bà Arendt có nói, "Nhìn từ phương diện lịch sử, chăm chú vào khoảnh khắc cách mạng thì thấy, đại cách mạng đã biến chất thành chiến tranh, biến chất thành nội chiến và ngoại chiến, quyền lợi của nhân dân vừa mới giành được, chưa kịp xây dựng chính thức, liền biến chất thành tao loạn liên miên". Trung Quốc 20 năm đầu thế kỉ XX đã trải qua các cuộc chiến tranh quân phiệt, chiến tranh kháng Nhật rồi nội chiến Quốc Cộng, tưởng rằng giành được những năm tháng hòa bình, nhưng vị chúa tể của thế giới mới liền tiến hành cuộc thanh toán dị đoan, đó chính là cái phương thức tư duy của kẻ giành chiến thắng trong cách mạng Pháp mà Arendt đã tổng kết, "bởi vì, tiếp theo là kẻ hành động vì cách mạng tự cho phép mình muốn làm gì thì làm," cho nên, "Làm thế nào để đề phòng kẻ cùng khổ ngày hôm qua, hôm nay thành cự phú liền phát huy các quy tắc hành động của mình, đem áp đặt chúng cho chính thể mới, các mối lo này của hôm nay chưa từng có từ thế kỉ XVIII." Giải thích theo lí thuyết của Arendt, mấu chốt để phát động một cuộc "cách mạng" nhằm tiến tới xây dựng một nền dân chủ và pháp chế thì phải sử dụng phương thức lập quốc theo cuộc "cách mạng" pháp lí kiểu Mĩ, chư không đi theo con đường chỉ dựa vào cảm xúc và tình cảm. "Phương hướng của cuộc cách mạng Mĩ trước sau đều nhằm dốc sức xây dựng một nước tự do, một chế độ lâu dài. Đối với người hành động vì mục tiêu đó, không cho phép bất cứ hành động nào ngoài phạm vi pháp luật dân sự được thực hiện. Vì sự khổ đau nhất thời, phương hướng của cuộc đại cách mạng Pháp ngay từ đầu đã xa rời quá trình lập quốc, nó được quyết định bởi tính tất yếu, chứ không phải bắt nguồn từ nhu cầu bức thiết giải thoát khỏi chính trị bạo lực, nó bị thúc đẩy bởi nổi thống khổ quá ư nặng nề của nhân dân, và sự đồng cảm với nổi thống khổ vô bờ bến ấy. Ở đây, cái tính chất tùy tiện vô phép tắc vốn bắt nguồn từ tình cảm trong tâm hồn, tính vô hạn của tình cảm xúi giục thúc đẩy, đã phóng thích cả chuỗi bạo lực liên tục." Câu nói này mới sâu sắc biết bao!

Nước Trung Quốc thế kỉ XX đã đi qua trong cuộc chiến tranh của phong trào văn hóa " sau cách mạng" và "hậu cách mạng", từ sự kiện Phúc Điền[2], chỉnh phong Diên An, nội chiến, lại trấn áp phản cách mạng, chống phái hữu rồi cách mạng văn hóa, không có sự kiện nào mà không phải là diễn ra dưới quyền lực tập trung của cá nhân, không đếm xỉa đến nỗi thống khổ của nhân dân, quyền lực của nhân dân bị biến thành kẻ hành động vì cách mạng, biến thành tiếng kèn chiến đấu tiếp tục "cách mạng". Loại "cách mạng" này rõ ràng đã phải trả giá bằng sự hy sinh nhân tính và hy sinh tự do. Do đó lí luận "Cách mạng không phải là được mời đi dự tiệc" của lãnh tụ vĩ đại Mao Trạch Đông đã trở thành chân lí tối cao và danh ngôn chí lí, mà đến nay vẫn còn thấm sâu trong quan niệm của bao người chấp chính mà hoàn toàn không tự giác.

Cái quan niệm hạt nhân mà Arendt muốn bày tỏ qua sự so sánh hai cuộc cách mang – cách mạng Pháp và cách mạng Mĩ thật là rõ rệt – cuộc cách mạng đại chúng chỉ dựa vào lòng đồng tình và thương xót đối với người nghèo khổ là không đáng tin cậy, đồng thời cũng không cứu được người nghèo khổ, bởi vì cái "cách mạng" này không lấy nhân tính làm cơ sở: "Từ ngày có cuộc đại cách mạng Pháp cũng chính là ngày mà tính vô hạn trong tình cảm của các nhà cách mạng đã khiến cho họ vô cảm trước hiện thực, vô cảm đối với số phận của những cá nhân. Tất cả những điều đó thật khó tin. Vì các "nguyên tắc" của mình, vì "tiến trình lịch sử", vì "sự nghiệp cách mạng", các nhà cách mạng sẵn sàng hy sinh mọi cá nhân mà không hề hối tiếc. Tình trạng vô cảm đối với hiện thực tràn đầy tình cảm này cũng đã thể hiện khá rõ rệt trong hành động của bản thân Rousseau, trong biểu hiện thiếu trách nhiệm, tùy tiện lặp đi lặp lại của ông, nhưng chỉ khi Robespierre đưa nó vào trong cuộc xung đột phe phái của cuộc đại cách mạng Pháp nó mới trở thành một nhân tố chính trị quan trọng đáng kể." Rõ ràng Arendt không hề khẳng định hoàn toàn vai trò của Rousseau và Robespierre trong cuộc đại cách mạng và chủ nghĩa khai sáng, ngược lại, bà phủ định những tệ hại mà thứ "cacha mạng" này đem lại cho xã hội, cho các cuộc "cách mạng" kế tục sau đó. Nói thật lòng, đối với nhà khai sáng vĩ đại Rousseau tôi không hề muốn phủ nhận lí luận và tư tưởng khai sáng do ông tạo nên, nhưng trong việc lựa chọn hai chế độ xây dựng quốc gia thì tôi hình như lại thiên về phía Arendt, bởi vì lịch sử đã cho chúng ta biết, "khai sáng" một khi đã bị "cách mạng" lợi dụng, thì rất có thể nảy sinh "tha hóa", từ đó mà phản bội nhân tính và tự do.

Lời dự báo sau cùng của Robespierre đã chứng minh nguyên nhân thất bại của chủ nghĩa khai sáng: "Chúng ta sẽ chết đi mà không đẻ lại dấu vết gì, bởi vì trong dòng sông lịch sử của nhân loại, chúng ta đã bỏ lở thời cơ thành lập một quốc gia tự do." Cái nghịch lí này chứng minh một sự thật lịch sử rằng công cuộc khai sáng sau khi bị cuộc cách mạng mù quáng bắt cóc đưa lên cỗ xe chiến tranh đã gây nên biết bao hậu quả thảm họa.

Khi người vô sản mất đi xiềng xích, trở thành nguyên động lực của cách mạng, cách mạng dựa vào sức mạnh tình cảm mà giành chính quyền, nhưng khi chiếc gông cùm của nghèo khổ ngày xưa đã tháo ra, phải chăng người vô sản lại không khoác lên mình một chiếc gông cùm mới?  Nếu nói Mác đã kế thừa ý tưởng cách mạng của Roberspierre , phát triển thành học thuyết đấu tranh giai cấp, thì Lenin trong lúc vội vàng đã quay lại con đường cũ, thì Stalin đã tạo ra một mô hình cách mạng đấu tranh giai cấp cực đoan nhất, mà Trung Quốc trong những năm 50 – 70 lại chạy theo mô hình cực đoan ấy của Stalin, lại tạo ra vô vàn hậu quả thảm họa. Trong cái chuỗi dây chuyền thế giới "vô sản toàn thế giới liện hiệp lại" , kẻ chịu thảm họa sâu nặng nhất là nhân dân Liên Xô và nhân dân Trung Quốc. Đương nhiên thảm họa nặng nể nhất là nhân dân Cămpuchia trong cuộc diệt chủng của bọn Khơme đỏ của Cămpuchia dân chủ dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ cách mạng Polpot, nó chứng minh cho hậu quả về mặt luân lí của "cách mạng".

Trong giới tư tưởng Âu Mĩ các khái niệm "nhân dân" và "đại chúng" là hoàn toàn khác nhau. Nhân dân là hình ảnh của dân chủ, còn đại chúng là danh từ chỉ bọn người ô hợp. Cho nên Arendt nói : "Về mặt lí luận, điều tai hại nhất là đem đánh đồng nhân dân với đại chúng." Ở đây nhân dân là những "công dân" có "giác ngộ", là người dân tự do có quan điểm độc lập; còn "đại chúng" là một đám người nô lệ tinh thần mông muội, là đám AQ bị chấn thương tinh thần dưới ngòi bút của Lỗ Tấn, là bọn lưu manh dễ bị mê hoặc bởi chiến lợi phẩm của cuộc cách mạng – Hitler đã lợi dụng tình cảm của đại chúng mà dựng nên đảng Quốc xã, Stalin cũng lợi dụng tình cảm đại chúng mà lập nên "Tcheka", còn "Hồng vệ binh" của Trung Quốc thì vẫn tồn tại trong huyết mạch của rất nhiều người, chỉ cần có người vung tay hô to một khẩu hiệu, thì sẽ có vô vàn "cánh tay đỏ" vung lên như rừng, và tiếng hô "Ura!", "Vạn tuế!" vang động khắp nơi.

 

Nguồn: "多维新闻"本文网址:http://history.dwnews.com/news/2012-06-24/58767134-all.html

Ghi chú: Đinh Phàm, đảng viên cộng sản Trung Quốc, hội viên hội nhà văn TQ, Giáo sư đại học Nam Kinh, Phó chủ tịch hội nghiên cứu văn học Trung Quốc, Chủ tịch Hội phê bình văn học Giang Tô, Phó tổng biên tập tạp chí Chung Sơn..

 ===

[1] Tiếng Latinh, cách mạng là revolvere, nghĩa là quay vong, chuyển động xoay vòng. ND.

[2] Sự kiện Phúc Điền: Đây là sự kiện do Mao Trạch Đông tạo ra để thành trừng nội bộ vào tháng 12 năm 1930, tại Phúc Điền, tỉnh Giang Tây, giết 120 người thuộc quân đoàn Hồng quân số 20, những người liên lụy bị giết lên đến 70000 người. Năm 1956, Mao đã thừa nhận giết nhầm người, nhưng đến năm 1989 dưới thời Hồ Diệu Bang, Dương Thượng Côn những nạn nhân mới được tuyên bố vô tội. Đây là vụ thanh trừng đẫm máu đầu tiên trong lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc. ND.

Luật sư Ngô Ngọc Trai : Chính phủ và sự tín nhiệm

Nguồn BBC

Luật sư Ngô Ngọc Trai Bài tham gia Diễn đàn BBC Tiếng Việt 

Cập nhật: 11:00 GMT - thứ hai, 24 tháng 2, 2014

Sáng ngày 21/2/2014 Ủy ban thường vụ Quốc hội họp theo định kỳ, có thông tin đưa ra là Quốc hội sẽ dừng việc lấy phiếu tín nhiệm trong kỳ họp sắp tới.

Một số ý kiến thắc mắc là việc lấy phiếu tín nhiệm thực hiện từ một nghị quyết của Quốc hội thì dừng hay không phải do quốc hội quyết định, chứ khi quốc hội chưa họp và chưa quyết thì làm sao đã nói là dừng?

Thắc mắc đó là đúng và nó cho thấy rõ một điều: Quốc hội Việt Nam chỉ là cơ quan thừa hành của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản.

Liên quan đến việc hình thành, triển khai và giờ là hoãn dừng thực hiện Nghị quyết số 35/2012/QH13 của Quốc hội về việc lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm, đây là một sự việc cụ thể, nhưng nhìn rộng ra đó là ví dụ điển hình cho thấy tình trạng chính sách kém chất lượng, gây tổn hại vô cùng cho đất nước.

'Tín nhiệm thấp'

Nghị quyết 35 có điểm vô lý là ở hoạt động lấy phiếu tín nhiệm có tới 3 mức đánh giá là tín nhiệm thấp, tín nhiệm và tín nhiệm cao.

Trong khi đánh giá tín nhiệm là đánh giá về hoạt động, chủ thể bị lấy phiếu tín nhiệm là những người thực thi công vụ, khi đó hoặc là anh có làm việc và làm tốt, hoặc là anh không làm việc hay làm việc nhưng không đạt kết quả tốt. Từ đó mà chỉ có hai mức đánh giá là tín nhiệm và không tín nhiệm.

Đánh giá tín nhiệm là một loại hình phán xét về hành vi, giống như phán quyết của tòa án về hành vi của bị cáo, khi đó chỉ có thể quyết định là có tội hoặc không có tội, chỉ một trong hai loại thôi chứ không được nửa vời.

Việc "lấy phiếu tín nhiệm" theo Nghị quyết 35 của Quốc hội được thực hiện trong năm 2013

Như thế rõ ràng là bất hợp lý khi để ba mức đánh giá như hiện tại.

Ngoài ra Nghị quyết 35 còn có điểm bất hợp lý là có tới hai hoạt động đánh giá tín nhiệm là "lấy phiếu tín nhiệm" và "bỏ phiếu tín nhiệm".

Theo đó, để loại bỏ được một cán bộ yếu kém năng lực thì phải qua hai bước đánh giá với điều kiện, tiêu chuẩn và thủ tục khác nhau.

Sau lấy phiếu tín nhiệm rồi lại phải bỏ phiếu tín nhiệm. Điều này gây mất thời gian và làm lợi cho người được đánh giá bởi vì họ sẽ có thời gian và cơ hội để "chạy chữa". Điều đó sẽ không thể xảy ra khi việc đánh giá được thực hiện bằng chỉ một thủ tục ngắn gọn rõ ràng và minh bạch.

Học hỏi không đến nơi đến chốn

Hoạt động đánh giá tín nhiệm đối với thành viên chính phủ bộc lộ mối tương quan trách nhiệm giữa hai cơ quan quốc hội và chính phủ.

Đây là việc làm đúng đắn để dân kiểm soát chính quyền mà các nước dân chủ tiến bộ đã thực hiện từ lâu. Với bề dày kinh nghiệm các nước đã cho ra đời cách thức đánh giá tín nhiệm mà chúng ta tuy chưa tận mắt chứng kiến nhưng cũng có thể tin là khoa học và hiệu quả.

Vậy tại sao Việt Nam đi sau học hỏi và áp dụng mà sao lại kém thế, để đến nỗi chính sách ban hành sau duy nhất một lần thực hiện đã phải dừng lại thay đổi? Tuổi thọ của chính sách kém thế sao? Chất lượng của chính sách yếu kém thế sao?

Hay phải chăng có những lực cản ngay từ trong khâu ban hành chính sách khiến cho chính sách có chất lượng thấp và khi thực thi không đem lại hiệu quả?

Ở nhiều nước, hoạt động đánh giá tín nhiệm chỉ áp dụng đối với thành viên chính phủ do quốc hội bầu; cán bộ chính phủ không được đồng thời là đại biểu quốc hội và khi đánh giá họ không được quyền biểu quyết.

Ở Việt Nam, cán bộ chính phủ chiếm số lượng lớn ở cả Quốc hội, Bộ Chính trị và Ban chấp hành Trung ương.

Vì chiếm nhiều vị trí nên đương nhiên những người này có ảnh hưởng chi phối tới các quyết sách của cả bên Đảng lẫn Quốc hội.

Mặc dù không rõ thực tế thế nào nhưng có thể hình dung là trong cuộc họp bàn cho ra đời chính sách về lấy phiếu tín nhiệm, thành viên bên chính phủ đã không đồng ý, quan điểm của họ sẽ là cứ giữ nguyên như lâu nay không đánh giá gì hết.

"Ở nhiều nước, hoạt động đánh giá tín nhiệm chỉ áp dụng đối với thành viên chính phủ do quốc hội bầu; cán bộ chính phủ không được đồng thời là đại biểu quốc hội và khi đánh giá họ không được quyền biểu quyết."

Luật sư Ngô Ngọc Trai

Hoặc nếu bị ép quá về việc phải có chính sách về đánh giá tín nhiệm thì họ sẽ gây áp lực để việc đánh giá thì đánh giá "cả làng", không chỉ thành viên chính phủ mà đánh giá cả cán bộ thuộc quốc hội và cán bộ tư pháp, tất cả đều đánh giá về chính mình và về người thuộc khối cơ quan mình.

Cũng không loại trừ các thành viên chính phủ đã tác động ảnh hưởng khiến cho chính sách ra đời nhưng quy định chẳng đâu vào đâu, để tới ba mức đánh giá và qua hai khâu đánh giá mới cho ra kết quả.

Đó là tác hại của việc để cho những người của cơ quan hành pháp chịu sự đánh giá được tham gia vào việc quyết định xem có đánh giá hay không và đánh giá như thế nào?

Đó cũng chính là câu trả lời cho tình trạng chất lượng kém của các chính sách và là nguyên nhân khiến đất nước chậm phát triển.

Quyền chi tiêu ngân sách?

Một điều thực tế ở Việt Nam xuất phát từ tình trạng kiêm nhiệm nên Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương và Quốc hội đều trao quyền quá lớn cho Chính phủ.

Các cơ quan lãnh đạo chỉ giao những mục tiêu nhiệm vụ chung chung trong những nghị quyết, Chính phủ được trao quyền rộng rãi khi thực hiện.

Điều đó dẫn đến kết quả là Chính phủ vừa ban hành chính sách vừa thực thi chính sách, Chính phủ được quyết định phân bổ và sử dụng nguồn lực đất nước.

Tại sao Chính phủ lại được quyền quyết định dành tiền chi tiêu cho việc này mà không phải việc khác? Chính phủ lấy tư cách nào để đánh giá tính chính đáng và cấp thiết trong việc giải quyết những vấn đề của các nhóm cộng đồng dân cư?

Căn cứ vào đâu Chính phủ cho rằng việc dành nguồn lực tài chính để cứu trợ thị trường bất động sản, thu mua nợ xấu ngân hàng là cấp thiết hơn việc đầu tư cung cấp nước sạch cho hàng chục triệu dân nông thôn hay cải thiện nơi ăn chỗ ở cho hàng chục triệu công nhân công nghiệp?

Ở các nước khác họ làm thế nào?

Xuất phát từ yêu cầu về sự công bằng, ở nhiều quốc gia họ quy định chỉ Quốc hội là cơ quan đại diện cho mọi tầng lớp dân chúng mới có tính chính đáng khi xác quyết thứ tự các vấn đề cần ưu tiên cần giải quyết và theo đó là phân bổ nguồn lực đất nước.

Hiến pháp mọi nước đều quy định tinh thần chung là quốc hội mới là cơ quan quyết định về ngân sách quốc gia chứ không phải chính phủ.

Hiến pháp Nhật Bản theo đó đã sử dụng câu chữ khiến cho việc hiểu không thể nào lệch lạc đi được khi viết rằng: Không một khoản tiền nào được chi cho dù chính phủ có yêu cầu trừ khi được quốc hội cho phép.

"Thực tế hiện tại cả Ngân hàng Nhà nước và Kho bạc Nhà nước đều nằm dưới sự quản lý điều hành của Chính phủ."

Nước Mỹ năm vừa rồi có sự kiện là Chính phủ Mỹ đã đóng cửa dừng hoạt động mà nguyên nhân chính là Quốc hội Mỹ đã không đồng ý cấp khoản chi ngân sách cho một đề án theo yêu cầu của chính phủ.

Chính phủ Mỹ đã không được tự ý chi tiêu ngân sách. Để thuyết phục Quốc hội đồng ý cho đề án của mình, Chính phủ Mỹ đã phải thuyết phục bằng hàng loạt lý do chính đáng và trong nỗ lực cuối cùng đã phải làm một việc kinh khủng là đóng cửa dừng hoạt động để gây áp lực đòi hỏi Quốc hội phải thông qua.

Kỷ luật ngân sách là yếu tố then chốt để có được những quyết định chi tiêu đúng đắn. Trong khi đó ở Việt Nam không có gì ngăn trở Chính phủ chi tiêu ngân sách. Thực tế hiện tại cả Ngân hàng Nhà nước và Kho bạc Nhà nước đều nằm dưới sự quản lý điều hành của Chính phủ.

Kiểm soát Chính phủ

Nếu như đề xuất chi tiêu của Chính phủ là chính đáng hợp lý thì tại sao lại không thể đưa ra Quốc hội bàn luận để việc thực thi đạt hiệu quả cao nhất? Ví dụ như gói cứu trợ bất động sản 30 nghìn tỷ mà có thông tin tới đây có gói 100 nghìn tỷ?

Quốc hội bận gì mà không bàn luận những vấn đề đó? Chính phủ vội gì khi Quốc hội một năm hai lần họp vào giữa và cuối năm?

Tại sao một chính sách lớn như thế mà Chính phủ thì vội vàng, Quốc hội thì thờ ơ để đến nỗi gói cứu trợ bất động sản thực hiện èo uột mà như nhiều người đánh giá là đã thất bại?

Trong khi đó Chính phủ vẫn chỉ đạo triển khai và mỗi lúc lại nới rộng thêm những tiêu chí mới để có thể giải ngân?

Nếu hiệu quả của chính sách là mục tiêu tối cao thì tại sao lúc đầu không đưa ra được các tiêu chí này, tầm nhìn hạn chế quá chăng?

Tại sao không đưa ra quốc hội bàn luận để tổng hợp trí tuệ tập thể?

Cũng phải hỏi lại là Quốc hội có đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân không? Nếu có thì Quốc hội chịu trách nhiệm thế nào về sự thành công hay thất bại của gói cứu trợ bất động sản?

Biết bao nhiêu vấn đề đời sống dân sinh cần được giải quyết, Quốc hội có phản ánh ý chí nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân lao động khác không?

Nếu có thì ai đại diện cho những nữ công nhân công nghiệp làm việc đầu tắt mặt tối mà cân nặng chưa tới 45kg? Ai đại diện cho những cặp vợ chồng công nhân có con nhỏ chỉ vài tháng tuổi đã phải gửi đi nhà trẻ để bố mẹ đi làm? Tại sao họ vốn tính chăm chỉ mà mãi sống cuộc đời nhọc nhằn trong những khu xóm trọ tồi tàn như vậy?

Đại biểu nào đại diện cho các bậc phụ huynh và các em học sinh vùng núi khi mỗi lần đến trường là sự đánh đổi nguy hiểm đến tính mạng vì sông lũ?

"Các cơ quan lãnh đạo như Bộ Chính trị, Trung ương Đảng và Quốc hội cần xem xét lại tính hợp lý trong tổ chức và hoạt động của mình."

Đại biểu nào đại diện cho các công chức viên chức với mức lương không đủ cho sinh hoạt để rồi phải đánh đổi nhân phẩm bằng những việc làm trái lương tâm? Ai đẩy họ đến nông nỗi ấy? Tại sao họ lại không thể có được một mức lương đủ sống để không phải mất đi nhân phẩm?

Tất cả là do các chính sách phát triển kinh tế xã hội và vấn đề về chất lượng của nó, đằng sau đó là vấn đề về sự bố trí hợp lý các thiết chế và sự vận hành khoa học của hệ thống. Các đại biểu có nhận ra điều đó không và làm gì để thúc đẩy điều đó?

Tinh hoa nhân loại đã đúc kết ra hệ thống tam quyền phân lập, tách bạch nhân sự giữa cơ quan làm chính sách và cơ quan thực thi chính sách, tách bạch nhân sự giữa quốc hội và chính phủ.

Ở Việt Nam lâu nay duy trì tình trạng kiêm nhiệm bất hợp lý, khi bộ máy vận hành không khoa học thì sản phẩm ra đời của nó là các chính sách sẽ bị lỗi.

Các cơ quan lãnh đạo như Bộ Chính trị, Trung ương Đảng và Quốc hội cần xem xét lại tính hợp lý trong tổ chức và hoạt động của mình.

Nếu không thay đổi rập khuôn ngay mô hình nước ngoài thì cũng phải thay đổi sao cho tiệm cận với các thiết chế dân chủ để tạo động lực cho đất nước phát triển. Như thế mới là vì nước vì dân.

Trước mắt có thể làm ngay là giảm mạnh tình trạng kiêm nhiệm do Luật tổ chức Quốc hội đang được xem xét sửa đổi và kiểm soát việc chi tiêu ngân sách của Chính phủ do Luật đầu tư công đang được trình Quốc hội thông qua (tại sao một hoạt động như đầu tư công được thực hiện từ mấy chục năm nay, bây giờ mới cho ra đời luật về nó?).

Tăng cường đòi hỏi Chính phủ giải trình về các quyết sách, tăng cường hoạt động đánh giá tín nhiệm tạo áp lực loại bỏ chính là cách đốc thúc Chính phủ làm tốt công việc của mình. Khiến cho Chính phủ không dễ dàng trong hoạt động chính là cách khiến cho Chính phủ hoạt động tốt hơn.

Có như thế mới có hy vọng đất nước phát triển lên được.