Thứ Năm, 1 tháng 9, 2011

Vụ bắt Trần Minh Nhật: Công an lừa nhà trường

Nguồn luongtamconggiao

LTCG (01.09.2011) – Sài Gòn – Một vị lãnh đạo nhà trường tỏ ra ngạc nhiên khi biết gia đình của Paul Trần Minh Nhật đến hỏi thăm Nhật đang bị bắt giam ở đâu, vào sáng 29.08.2011.

Theo vị này, sáng ngày 27.08.2011, hai anh công an tên Nguyễn Thành Đăng, và Lê Mạnh Tùng cán bộ an ninh cục phòng chống khủng bố A67, thuộc bộ công an đến trình giấy giới thiệu, và lệnh triệu tập Trần Minh Nhật. Khi nhà trưởng đề nghị cho biết rõ lý do tại sao lại bắt sinh viên của họ, thì các anh công an cho biết chỉ triệu tập, hỏi thăm vài chuyện rồi sẽ cho về ngay.

Đến hôm nay, 01.09.2011, tức sau 5 ngày, mà cơ quan bắt người là Cục A67, Bộ công an chưa hề đưa ra thông tin chính thức gì về việc bắt giam sinh viên Trần Minh Nhật.

Theo tường trình của sinh viên cùng lớp với VRNs ngay sau khi Nhật bị bắt, 09:30 am, ngày 27.08.2011, thì ngay sau khi thi, ra khỏi phòng, tức khắc Nhật bị ông bảo vệ và giám thị ép xuống bằng cầu thang máy, để rồi sau ít phút, Nhật bị công an tống lên xe mang đi biệt tích cho đến hôm nay.

Theo Bộ luật tố tụng hình sự (Bộ LTTHS), "Điều 80. Bắt bị can, bị cáo để tạm giam

1. Những người sau đây có quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam:

a) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp;

b) Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp;

c) Thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà, Phó Chánh toà Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử;

d) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trong trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.

2. Lệnh bắt phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của người bị bắt và lý do bắt. Lệnh bắt phải có chữ ký của người ra lệnh và có đóng dấu.

Người thi hành lệnh phải đọc lệnh, giải thích lệnh, quyền và nghĩa vụ của người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt.

Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó cư trú phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người láng giềng của người bị bắt chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó làm việc phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có sự chứng kiến của đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi tiến hành bắt người.

3. Không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp bắt khẩn cấp, phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã quy định tại Điều 81 và Điều 82 của Bộ luật này".

Theo điều luật 80 này, chỉ Viện kiểm sát, Toà án mới có quyền ký lệnh bắt người, còn đối với công an – cơ quan điều tra – chỉ được ký lệnh bắt trong trường hợp khẩn cấp, và lệnh đó phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước 9:30 am, ngày 27.08.2011.

Chiếu theo điều 80 của Bộ LTTHS, và những gì đại diện nhà trường cho biết – công an chỉ trình giấy triệu tập – thì việc Bộ công an bắt Trần Minh Nhật là trái pháp luật ở khoản 1, điều 80, Bộ LTTHS.

Tại khoản 2, điều 80 Bộ LTTHS còn ghi rõ khi bắt người phải có sự chứng kiến của đại diện chính quyền và đặc biệt "Người thi hành lệnh phải đọc lệnh, giải thích lệnh, quyền và nghĩa vụ của người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt". Ở đây, sang 27,08,2011, công an đã nói dối nhà trường rằng chỉ triệu tập để hỏi vài vấn đề rồi cho về, chứ không phải bắt giam gì cả, nhưng trong thực tế là Minh Nhật đã bị bắt giam 5 ngày qua.

Trả lời phóng viên VRNs, các sinh viên chứng kiến cảnh xét nhà trọ tại làng đại học Thủ Đức cho biết, công an xét nhà và tịch thu một số vật dụng. Công an có lập biên bản, nhưng họ giữ biên bản mà không giao biên bản cho những sinh viên bị tịch thu tài sản vì ở chung với Nhật.

Cả 15 trường hợp, thanh niên Công giáo và Tin Lành bị bắt từ 30.07.2001 đến 27.08.2011 đều bị công an bắt trái luật như thế. Điều này cho thấy, tại Việt Nam, công an đang có quyền trên luật pháp, mặc dù về bản chất, họ chỉ là cơ quan thực thi pháp luật và chỉ được làm những gì luật pháp cho phép.

Với cách hành xử thế này, mà không có bất cứ một cơ quan thẩm quyền nào lên tiếng, thì Quốc Hội (các nhà lập pháp) chỉ còn là những ông phỏng (tượng đá), ngồi lãnh lương hang tháng. Với lối hành xử như vậy, mà mỗi người ý thức mình là công dân tốt vẫn cứ im lặng thì chính họ đang đẩy xả hội đến chổ đất nước này đang bị công an trị một cách phi pháp.

NTH, VRNs

Tiến sĩ Yinghong Cheng (Trình Ánh Hồng) : Dĩ vãng cuộc chiến Việt - Trung

Nguồn BBC

Cập nhật: 15:45 GMT - thứ ba, 30 tháng 8, 2011

Bá»™ Ä'á»™i Việt Nam trong cuá»™c chiến biên giá»›i 1979

Những người lính trẻ của Việt Nam trong cuộc chiến tranh biên giới 1979 chống láng giềng Trung Quốc.

Khi chiến tranh biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam nổ ra năm 1979, tôi chỉ mới là anh sinh viên đại học. Là những "thanh niên yêu nước", chúng tôi rất phấn khích vì sau thật nhiều năm, quân đội của chúng tôi hình như đã tìm ra đối tượng để biểu dương khả năng của mình.

Chúng tôi chờ đợi tin chiến thắng từ chiến trường, nhưng truyền thông nhà nước im lặng trong nhiều ngày như thể chẳng có gì xảy ra giữa hai nước, cho đến khi quân đội Trung Quốc chiếm Lạng Sơn. Truyền thông nhà nước ca ngợi chiến thắng và rồi tuyên bố vì quân ta đã hoàn thành sứ mạng "dạy một bài học" cho kẻ "bá đạo", Trung Quốc nay sẽ lui quân.

Sự im lặng đó thực sự cho chúng ta biết nhiều điều vào ngày hôm nay. Nó lờ đi lo ngại của người dân quanh một cuộc chiến với nước láng giềng, cách hành xử đặc trưng của một chính phủ kiểm soát và lung lạc thông tin cùng dư luận. Ngoài ra, nó hé lộ sức kháng cự mà quân Trung Quốc gặp phải từ đối phương, một điều mà sẽ làm chính phủ Trung Quốc mất mặt.

Ngày hôm nay, chúng ta đã biết thêm nhiều chi tiết quanh cuộc chiến. Ví dụ, một số cựu chiến binh đã viết bài trên mạng về một kế hoạch quân sự gây sốc: viên tướng Trung Quốc chỉ huy cuộc xâm lăng đề nghị tiến đánh Lào, nước đồng minh với Việt Nam, để phân cắt Việt Nam làm hai và bao vây quân Việt Nam ở miền Bắc. Mục tiêu là hủy diệt một phần lớn quân Việt Nam, với khả năng chiếm luôn Hà Nội. Kế hoạch đó không được chấp nhận vì nó gây hại cho hình ảnh quốc tế của Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc cũng để ý đến miền bắc của mình - Liên Xô sẽ không cho họ đi quá xa.

"Các xung đột biên giới không phải là hiếm, nhưng vì sao người Trung Quốc bộc lộ sự thù ghét người Việt như vậy trong một cuộc chiến biên giới? Trong hai thập niên, họ đã là "đồng chí và anh em", và bỗng dưng được mô tả là kẻ thù xấu nhất."

Nhưng một mục tiêu lớn của kế hoạch đó - hủy diệt Việt Nam thật nhiều để nước này không còn có thể thách thức Trung Quốc - đã được thực hiện. Bài báo này tự hào nói quân Trung Quốc đã nã đại bác không thương tiếc trên đường tấn công, và khi lui quân thì cũng phá hủy không thương tiếc. Bài báo viết: "Còn nhiều hơn những gì bọn Mỹ làm với Việt Nam." Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Duẩn bị sốc không nói nên lời khi ông ta nhìn thấy những thiệt hại do quân Trung Quốc để lại.

Dĩ nhiên, những câu chuyện này không hoàn toàn mới cho tôi, nhất là phần nói về sự phá hủy. Nhưng điều làm tôi không thoải mái là giọng điệu các bài viết trên mạng: nó phấn khởi nhưng cũng tiếc nuối rằng đã không phá đủ và vì thế mà Việt Nam một lần nữa đang làm Trung Quốc giận dữ, thách thức Trung Quốc ở Biển Nam Trung Hoa.

Những bài viết này không đại diện cho toàn thể nhân dân Trung Quốc, nhưng chừng nào đa số còn im lặng, chúng sẽ còn lan tỏa và lây nhiễm vào con người. Với vai trò cường quốc toàn cầu gia tăng của Trung Quốc và tình cảm dân tộc chủ nghĩa đi kèm, việc thiếu vắng tiếng nói đối lại thật đáng ngại.

Sau nhiều năm, hai câu hỏi về cuộc chiến vẫn chưa được trả lời. Thứ nhất, vì sao Trung Quốc xâm lược Việt Nam năm 1979? Câu trả lời của chính phủ Trung Quốc là Việt Nam khi ấy đang xâm lấn lãnh thổ Trung Quốc, Việt Nam đang hành hạ người Việt gốc Hoa, Việt Nam đồng minh với Liên Xô chống lại Trung Quốc, Việt Nam xâm lược Campuchia để lật đổ một chính phủ thân Trung Quốc.

Nhưng không có lý do nào ở trên thuyết phục chúng tôi về một cuộc chiến tàn khốc. Một giải thích, mà tôi có xu hướng tin tưởng hơn, là Đặng Tiểu Bình muốn có cơ hội thiết lập sự lãnh đạo tối cao thông qua việc điều động quân đội và đạt thành tựu quân sự.

Câu hỏi thứ hai gây thắc mắc hơn: các xung đột biên giới không phải là hiếm, nhưng vì sao người Trung Quốc bộc lộ sự thù ghét người Việt như vậy trong một cuộc chiến biên giới? Trong hai thập niên, họ đã là "đồng chí và anh em", và bỗng dưng được mô tả là kẻ thù xấu nhất.

Nhưng với Trung Quốc, điều này cũng đã từng xảy ra. Người Nga được bảo là "anh em của chúng tôi" trong thập niên 1950 và rồi trở thành kẻ thù số một của Trung Quốc trong cuối thập niên 1960. Ấn Độ là bạn thân của Trung Quốc trong thập niên 1950 nhưng Trung Quốc cũng đánh nhau với Ấn Độ vào đầu thập niên 1960. Chính sách ngoại giao của Trung Quốc bị lung lạc bởi nhu cầu chính trị của chính thể độc đảng, và ngày nay, nó cũng gần như y như vậy.

Thăm Hà Nội

Gần đây tôi có chuyến thăm Hà Nội. Tôi gặp nhiều trí thức và người dân bình thường. Hiện là một giáo sư người Mỹ gốc Hoa, tôi được tiếp xúc với góc nhìn của người Việt về câu chuyện, đặc biệt là những câu chuyện nhớ về sự tàn nhẫn của quân Trung Quốc trong cuộc chiến, mà ban đầu tôi không muốn tin vì chúng quá tàn nhẫn.

Nhưng tôi, từ kinh nghiệm sống ở đất nước Trung Hoa cộng sản, đã học được rằng dù sốc và vô lý đến đâu, nhiều câu chuyện về chính thể này sau đó trở nên đáng tin và rồi trở thành một phần sự thật lịch sử.

Đây là một ví dụ, mặc dù nó hơi cách xa năm 1979. Tôi quan tâm làm thế nào Trung Quốc của Mao áp đặt nhiều chính sách lên Bắc Việt Nam, đặc biệt là cải cách ruộng đất, cải cách tư tưởng, và nhiều chính sách trí thức - văn hóa trong thập niên 1950.

Tôi lờ mờ nhận biết rằng trong nhiều trường hợp, các chính sách của Trung Quốc bị bắt phải thực hiện. Nhưng như thế nào và trong những vụ cụ thể nào?

Trong chuyến thăm, có người giới thiệu với tôi cái tên Nguyễn Thị Năm. Bà từng là nhân vật nữ thuộc hàng lãnh đạo trong công cuộc tranh đấu chống Pháp.

Gia đình bà giàu có nhưng bà tham gia cách mạng, dùng tiền gia đình hỗ trợ cách mạng. Nhưng sau khi có độc lập, chính sách cải cách ruộng đất của Trung Quốc ở Bắc Việt cần có nạn nhân.

"Ông Hồ rất miễn cưỡng, nhưng các cố vấn Trung Quốc thúc ép. Bà Nguyễn Thị Năm bị tử hình như người Trung Quốc muốn"

Bà bị đưa ra, và các cố vấn Trung Quốc cố gắng thuyết phục Hồ Chí Minh rằng cần xử bắn bà để làm gương cho phong trào.

Có nhiều người giống bà đã tham gia cách mạng dân tộc, nhưng nay họ trở thành vô dụng, hoặc có ích theo một nghĩa khác.

Ông Hồ rất miễn cưỡng, nhưng các cố vấn Trung Quốc thúc ép. Bà Nguyễn Thị Năm bị tử hình như người Trung Quốc muốn.

Trong cải cách ruộng đất ở Việt Nam, hàng trăm, hàng ngàn "phú nông" và những người ủng hộ họ đã bị bắn, bị tù hay đơn giản là bị đánh chết - một thói tục phổ biến trong cải cách ruộng đất của Trung Quốc trước đó.

Là sử gia viết về chính thể dạng này, người ta phải sẵn sàng cho việc đụng mặt, vào bất kỳ lúc nào, những hành vi con người như thế mà vốn thật khó giải thích nếu chiếu theo lý tính thông thường.

Bài viết phản ánh quan điểm riêng của tác giả, một sử gia người Mỹ gốc Hoa, là Phó giáo sư thuộc Đại học Delaware State, Hoa Kỳ và nghiên cứu viên thỉnh giảng tại Viện Nghiên cứu Châu Á, Đại học Quốc gia Singapore.

Sa Mạc Hoa : Cứ dại mãi ! (dưới sự lãnh đạo tài tình của đảng!)

Nguồn danlambao

Sa Mạc Hoa - Ông Trần Trọng Kim trong quyển Việt Nam Sử Lược có đặt 1 câu hỏi rất hay, phần trả lời cũng tuyệt không kém.

"- Còn lạ gì nữa cái lòng hùm beo của người Tàu, thế mà hễ khi nào trong nước có biến loạn, lại chạy sang van lạy để rước chúng sang. Khác nào đi rước voi về giày mồ vậy. Dẫu người Tàu có lòng vị nghĩa mà sang giúp mình đi nữa thì nghĩ cũng chẳng vẻ vang gì cái việc đi nhờ người ta, huống chi kỳ thực thì lúc nào chúng cũng chực đánh lừa mình, như đánh lừa trẻ con, để bóp cổ mình, thế mà người mình vẫn không biết cái dại, là tại làm sao?

- Tại là cái nghĩa dân với nước ta không có mấy người hiểu rõ. Nhà nào làm vua, cho cả nước là riêng của nhà ấy, hễ ai lấy mất thì đi tìm cách lấy lại, lấy không được thì lại đi nhờ người khác lấy lại cho, chứ không nghĩ đến cái lợi chung trước cái lợi riêng, cái quyền nước trước cái quyền nhà, thế cho nên mình cứ dại mãi, mà vẫn không biết là dại."

Đau lòng nhất là sau biết bao năm thoát khỏi chế độ phong kiến, lời của ông vẫn đúng. Đất nước Việt Nam đâu phải của riêng người nào, nhà nào hay Đảng nào. Vậy mà hễ khi có ý kiến trái ngược, là ngay lập tức bị gán cho tội "phản động, mưu đồ lật đổ chính quyền". Lợi ích riêng của một cá nhân và lợi ích chung của một dân tộc đâu thể đánh đồng. Cố vơ vét cho lắm thì cũng được phú quý đời mình, nhiều lắm thì thêm đời con, đời cháu của mình. Rốt cuộc thì đất nước này sẽ đi về đâu? Các ông lãnh đạo của tôi ơi, có nghĩ đến không?

Chúng ta cứ tự hào về bốn nghìn năm lịch sử, nhưng hãy nhìn lại xem, trải qua ngần ấy năm mà đất nước ta đang đứng ở đâu? Cuộc sống của dân ta thế nào? Đó mới là điều đáng suy ngẫm. Đáng lý chúng ta phải thấy hổ thẹn với cha ông, chứ không phải lấy đó làm tự hào!

Đảng Cộng Sản Việt Nam lấy lí do dân trí thấp để biện hộ cho việc không cần đa đảng, nhưng tại sao dân trí vẫn thấp? Nền giáo dục của ta sau ngần ấy năm "thống nhất" làm được gì? Tại sao không tiến mà mãi lùi?
Chị Minh Hằng rất thường xuyên tham gia các hoạt động xã hội

Đảng lãnh đạo lại bảo người dân dễ bị kích động. Nhưng có nghĩ, những người dân vốn đã đặt trọn lòng tin vào các ông, nếu các ông làm đúng, thì ai xúi giục được họ? Có thể họ ít học, nhưng họ là những con người trưởng thành, có trí óc bình thường. Hẳn là họ tự biết lựa chọn phải tin ai và nên hành động thế nào. Nếu dễ bị xui khiến như thế, sao các ông vốn độc quyền trong lãnh đạo, độc quyền trong đưa thông tin, trong mọi thứ, vẫn không "xúi giục" được họ yêu quí các ông thay vì chống đối các ông?

Xem lại xem, có vị tổng thống nước ngoài nào (trừ các nước anh em cộng sản kỳ quặc với các ông) được 99 hay 100% phiếu bầu không? Không ! Ở các nước dân chủ tiến bộ, có vị đã thắng tranh cử với tỉ lệ suýt sao 51%. Có nghĩa là 49% dân chúng không ủng hộ họ. Vậy họ có sợ bị số lượng đó đứng lên chống lại không? Có sợ 49% số dân đó bị kích động không? Và có bắt cả 49% người dân đó đem đi bỏ tù không? Các quyết sách đưa ra, cũng đâu bao giờ được ủng hộ 100%. Cũng có tiếng nói phản biện, chỉ trích, đó là điều bình thường, rất bình thường. Một vị lãnh đạo giỏi phải chứng minh bằng kết quả, rằng quyết định của họ là đúng.

Thì các ông cũng chứng minh, và chúng tôi chỉ thấy sai lầm. Nhưng các ông không cho chúng tôi cái quyền từ chối các ông, để chọn cho mình người xứng đáng hơn. Tại sao người dân quay lưng lại với các ông? Do các ông, các ông đã "phản" lại lòng tin yêu của chúng tôi.

Những người có lương tri, có lòng can đảm đang bị các ông giam giữ trong tù, các ông tin là có thể giáo dục được họ sao? Những người đã nhìn thấy rõ bản chất của các ông? Những người có tri thức hơn các ông, có tầm nhìn xa hơn các ông. Và quan trọng hơn, tấm lòng họ dành cho tương lai đất nước nhiều hơn các ông gấp vạn lần. Thiết nghĩ, các ông phải gục đầu xấu hổ trước họ.

Chỉ nghĩ đến việc các ông đã làm với những người bất đồng chính kiến, tôi phải đỏ mặt lên vì thẹn. Các ông đại diện cho đất nước Việt Nam có lịch sử bốn nghìn năm, vậy mà muốn tìm cớ bắt 1 người, các ông xông vào khách sạn và lôi đâu đó ra 2 bao cao su đã qua sử dụng, qui tội họ, khám xét nhà họ. Hỡi ôi!

Và giờ đây, người phụ nữ đã giương cao ngọn cờ chống Trung Quốc, xuống đường suốt nhiều tuần qua- chị Bùi Thị Minh Hằng- các ông đã đối xử với chị ấy chính danh chưa? Những tin nhắn vô giáo dục, những lời đe dọa như của dân xã hội đen gởi được đến chị ấy liên tục. Các ông bảo rằng không phải do các ông. Chúng tôi chỉ biết nhếch mép nhìn nhau cười.

Thế gần cả chục người đang bám sát chị Hằng mấy ngày qua (sau 3 ngày bị các ông nhốt ở Hỏa Lò) là ai? Cũng không phải các ông? Nếu các ông gật đầu, thì tôi đây xin ngã mũ bái phục sự trơ trẽn đó.
Công an, mật vụ theo dõi, bám sát chị Bùi Thị Minh Hằng, có lúc lên đến hơn chục người dùng cả xe ô tô lẫn xe máy

Với một người phụ nữ không tấc sắt trong tay, người phụ nữ đi từ nỗi oan khuất của chính mình đến chỗ thấy rõ bộ mặt thật của các ông, lên tiếng vì bản thân, vì những người cùng khổ khác. Người phụ nữ xuống đường vì muốn bảo vệ từng tấc đất cha ông để lại. Người phụ nữ như thế lại nguy hiểm cho chế độ của các ông lắm sao?

Có lẽ những hành động vừa qua của các ông là theo một kịch bản dựng sẵn để đưa chị ấy vào tù? Hay một vụ chơi bẩn gì đấy mượn danh tai nạn hay xích mích mà xử lý kiểu giang hồ? Khi nghĩ về các ông, nói thật, trong đầu tôi không khỏi so sánh với nhà nước mafia.

Ừ, nói cho cùng cũng chỉ là suy nghĩ cá nhân, nhưng vì cũng biết kha khá về các ông, nên mạn phép phỏng đoán thế. Tất nhiên là tôi chẳng mong chuyện đó xảy ra chút nào.

Tôi đâu sung sướng gì khi viết lời lẽ chỉ trích những người đang lèo lái đất nước tôi. Chỉ muốn nhắc các ông một điều. Mặc dù các ông cứ muốn kiềm hãm đất nước mãi ở thời phong kiến, nhưng đất nước sẽ vẫn tiến về phía trước. Các ông không cản được đâu. Đó là điều tất yếu.

Sa Mạc Hoa

Hà Văn Thịnh : Cảm ơn GS Vũ Cao Đàm: Ước gì ai cũng đọc bài báo của GS!

Nguồn BVN

Đúng như một triết gia đã nói: Các nhà sử học nói rất hay về quá khứ, các nhà tương lai học luận giải thật mĩ miều về ngày mai, các nhà chính trị học bàn thật ngọt về hy vọng và chờ đợi; thế nhưng, khi hỏi về hiện tại thì CẢ BA cùng bối rối (!).

Tôi chưa dám nhận thuộc cấp nhà về sử học nhưng lại là người sinh nghề tử nghiệp với nó nên suốt mấy ngày qua cũng lâm vào tình trạng nhiều hơn cả bối rối: Hoang mang, thất vọng, lo sợ (cho tương lai của nước nhà trước họa ngoại xâm), bế tắc và mỏi mệt. Mỏi và đau đến mức suốt 15 ngày không thể viết được bất kỳ chữ nào! Sáng nay (4:00, 31.8.2011), đọc được bài viết của GS VCĐ đăng trên trang Boxitvn thì hoàn toàn bừng tỉnh và thấy thấm thía, vỡ ra rất nhiều cho cái đầu u tối của mình. Bên cạnh những tin sáng mừng vui của nhận thức, tôi thấy cũng nên trao đổi thêm về vài suy nghĩ nhỏ, với mục đích là bổ sung một vài điều nữa trong cái thông điệp sáng rõ như ban ngày của GS.

1. Nếu Việt Nam không cải thiện được nội lực (điều quá khó khi lửa đã rất gần mà nước cứu thì đang rất xa); nếu không thiết lập được một quan hệ đồng minh chiến lược hữu hiệu nhằm có thể làm thui chột mọi ý đồ xâm lấn đen tối, hung hăng; nếu không có cái nhìn tỉnh táo trước hiểm họa, không đánh giá đúng, đủ về lòng dân, vận nước – tóm lại là dân chủ hóa đất nước, tôn trọng người dân, tôn trọng ý kiến của dân; nếu cứ tiếp tục trượt dài cái đầu óc của Lão Hạc căm căm lo cho cái ao tiền, sân gạch của mình; nếu cứ tiếp tục cúi luồn trong quan hệ với "đối tác" đầy hiểm họa là chủ nghĩa đế quốc Đại Hán Trung Hoa; thì – chắc chắn mọi nguy cơ sẽ được Trung Cộng thực tế hóa đến mức không thể có đường lui trong một tương lai gần có thể nhìn thấy được!

2. Dư luận đang nói về gặp mặt "hữu nghị" giữa 3.000 thanh niên Việt Nam và thanh niên Trung Quốc. Đọc, biết rồi rùng mình. Thứ nhất, nó cứ quẩn quanh chuyện loay hoay quan hệ cấp nhà nước ở Quảng Đông, Quảng Tây – như thế có khác gì tự ta, ta đang chui vào cái rọ của một tỉnh lẻ tương đương của phía Trung Quốc? Vui thú cái gì mà liên hoan, gặp mặt? Thứ hai, còn nhớ, cuối năm 1978, chuyến thăm cuối cùng của TBT Lê Duẩn tới TQ nhằm cứu vãn cuộc chiến tranh đang đến rất gần, nhà cầm quyền TQ đã cho một Bí thư Tỉnh ủy tiễn TBT rời TQ từ sân bay Quảng Đông. Lúc ấy, tôi nói sự thật này ra, đã bị phê bình là bi kịch hóa, đen tối hóa quan hệ Trung Việt. Chuyện 43 năm trước có khác gì về chất so với bây giờ? Thứ ba, trong số 3.000 thanh niên năm trước, năm nay… ai đảm bảo là TQ không tìm được vài trăm đối tác con ông cháu cha để cài cắm lợi ích cho 20 – 30 năm sau? Các bài học từ lịch sử TQ chứng minh rằng họ có thể vừa thập diện, vừa trường kỳ mai phục với trăm phương nghìn kế, tính đủ cả trăm nước cờ cho một ván cờ thắng. Đó là chưa nói chuyện tôi buộc phải nghi ngờ từ hàng chục năm trước cũng đã có không ít "thanh niên hữu nghị" giờ đây đang cúc cung tận tụy phục vụ cho chủ nghĩa Đại Hán. Nghi ngờ là quyền của tôi, có hay không là trách nhiệm của cơ quan an ninh – các vị phải lo tìm cho ra tất cả những kẻ việt gian bán dân hại nước ấy.

3. Có đúng là khi ta lập phòng tuyến sông Cầu những năm tám mươi của thế kỷ trước đã tìm thấy rất nhiều kho vũ khí của "công nhân" TQ để lại từ những năm sáu mươi hay không? Có đúng là hàng trăm ngàn "công nhân" TQ đã rải đều, rải khắp trên mọi địa bàn xung yếu của dải đất hình chữ S này hay không? Mối nguy nhãn tiền ấy mà không thấy, vờ như không biết, nhắm mắt làm ngơ thì khi đụng chuyện, thử hỏi, làm sao có thể chống đỡ? Cho dù là chưa có nguy cơ chiến tranh đi nữa thì gia quy, quốc pháp nghiêm minh là điều bắt buộc phải làm: Phải kiên quyết trục xuất tất cả những "công nhân" lao động trái phép của nước ngoài (bất kể nước nào) ra khỏi Việt Nam theo pháp luật hiện hành. Mặt khác, có nên mở một diễn đàn để phanh phui cho bằng hết các thủ đoạn mua rắn, mua mèo để nuôi chuột tàn phá đồng ruộng Việt Nam; mua móng trâu bò để tàn hại về nguồn sức kéo, thực phẩm cho nông nghiệp Việt Nam; các thủ đoạn vừa bỉ ổi, vừa táng tận lương tâm trong buôn bán tiểu ngạch để phá hoại kinh tế Việt Nam…? Diễn đàn này cần phải có vì nó liên quan đến người dân, và, khi mọi người dân biết thì sự thể sẽ không thể nào bưng bít được…

Trên đây là vài ý kiến tôi góp thêm vào bài viết của GS VCĐ, rất mong mọi người góp ý, thảo luận tiếp. Tôi cũng thiết tha mong mỏi tất cả các phương tiện truyền thông có thể có của người dân Việt ở bất kỳ đâu dưới gầm trời này, phổ biến rộng rãi bài viết của GS VCĐ để cho ai nấy đều tỉnh ngộ, chấm dứt u mê!

Huế, 5:07, 31.8.2011

H.V.T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

Tận dụng sức mạnh dân tộc để đối phó hiểm họa ngoại bang (RFA Phỏng vấn GS Lê Xuân Khoa)

Nguồn RFA

2011-08-31

Việt Nam đang đứng trước nguy cơ, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước đang bị đe dọa, nhất là gần đây khi Trung Quốc liên tục xâm phạm lãnh hải, đe dọa tấn công Việt Nam.

Courtesy Người Việt Photo: Triết Trần

GS Lê Xuân Khoa, từng là Viện phó Viện Đại học Sài Gòn, sau đó nghiên cứu và giảng dạy ở trường Đại học Johns Hopkins

Trước tình hình đó, nhiều nhân sĩ, trí thức trong nước đã lên tiếng với chính phủ Việt Nam, và mới đây, đã xuất hiện một Thư Ngỏ của trí thức hải ngoại, gửi lãnh đạo Việt Nam, nói lên mối lo ngại về hiểm họa ngoại bang, cũng như kêu gọi chính phủ Việt Nam tận dụng sức mạnh dân tộc để đối phó với hiểm họa đó. 
Nhân dịp này, Thông tín viên Ngọc Trân đã phỏng vấn GS Lê Xuân Khoa, từng là Viện phó Viện Đại học Sài Gòn, sau đó nghiên cứu và giảng dạy ở trường Đại học Johns Hopkins. GS Lê Xuân Khoa cũng là một trong những người đã ký tên trong Thư Ngỏ này. Mời quý vị cùng nghe.

Cần dựa vào sức mạnh dân tộc để bảo vệ đất nước

Ngọc Trân: Được biết, Giáo sư cùng một số trí thức ở hải ngoại ký tên trên một lá Thư Ngỏ gửi các nhà lãnh đạo Việt Nam. Xin Giáo sư vui lòng cho biết hoàn cảnh ra đời của Thư Ngỏ này? Đây là bức thư do cá nhân ông hay do một tổ chức nào soạn thảo? 
GS Lê Xuân Khoa: Vài năm qua, tôi có tham gia công việc với một số chuyên gia nghiên cứu về tình hình Biển Đông và Đồng bằng sông Cửu Long, trước nguy cơ Trung Quốc thôn tính Việt Nam và đe dọa an ninh toàn vùng Đông Nam Á. Đây không phải là một tổ chức chính thức có hội đồng quản trị hay ban điều hành mà chỉ là một số trí thức độc lập quen biết nhau, chia sẻ những công trình nghiên cứu khoa học về lịch sử, pháp lý và các khía cạnh chuyên môn. Ngoài việc nghiên cứu, nhóm cũng tìm kiếm những giải pháp thích hợp nhằm vận động các nhà làm chính sách ở các nước liên quan như Hoa Kỳ, ASEAN, và tất nhiên là cả Việt Nam nữa. 
Sau khi Bản Tuyên bố ngày 25-6 và Bản Kiến nghị ngày 10-7 của các nhân sĩ, trí thức trong nước được công bố, chúng tôi nhận thấy cần phải có sự hưởng ứng của trí thức ở hải ngoại, không đại diện cho một tổ chức nào, nhưng điển hình cho mọi lứa tuổi, giới tính, ngành nghề và khuynh hướng khác nhau, từ một số quốc gia trên thế giới. Như vậy Thư Ngỏ là kết quả của một cuộc tham khảo ý kiến chung. Vì tuổi tác tương đối cao, lại có đôi chút kinh nghiệm về vận động và quen biết một số thân hữu ở các nơi, nên tôi được anh chị em giao cho việc viết thư mời một số trí thức tham gia ký tên. Trong số những người ký tên, 
Các ông Nguyễn Huệ Chi, Phạm Duy Hiển, Nguyễn Quang A sát cánh cùng nhau khi cờ và biểu ngữ giương lên hôm 17/7/2011. nguyenxuandien's blog
Các ông Nguyễn Huệ Chi, Phạm Duy Hiển, Nguyễn Quang A sát cánh cùng nhau khi cờ và biểu ngữ giương lên hôm 17/7/2011. nguyenxuandien's blog
đáng chú ý là một số trí thức từng là cựu tù cải tạo, vì quyền lợi chung của đất nước và dân tộc, đã vượt qua những oán hận và ám ảnh trong quá khứ để cùng trí thức trong nước lên tiếng với chính quyền Việt Nam. Vì không phải là công dân sinh sống ở trong nước, chúng tôi không làm kiến nghị, mà lên tiếng bằng một hình thức thích hợp là thư ngỏ.
Ngọc Trân: Quan hệ giữa trí thức trong và ngoài nước đã có từ bao giờ và mối quan hệ này hình thành như thế nào, thưa Giáo sư?   
Từ những năm sau đổi mới, nhất là từ khi Việt Nam thiết lập quan hệ bình thường với Hoa Kỳ, các nhà trí thức và văn nghệ sĩ trong và ngoài nước đã có nhiều cơ hội gặp gỡ, tìm hiểu và giao lưu với nhau càng ngày càng nhiều hơn. Các chuyên gia kinh tế, các nhà giáo dục, nhà khoa học và nhà văn đã cùng nhau chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm cũng như những suy nghĩ về những vấn đề quan tâm chung.  Họ vẫn tiếp tục trao đổi qua email hay điện thoại để cùng tìm hướng đi thích hợp cho Việt Nam và những phương cách giải quyết  cho từng vấn đề cụ thể. Nhiều khóa hội thảo chuyên đề đã được tổ chức với các tham dự viên từ trong và ngoài nước, nhiều tác phẩm cũng đã được xuất bản với sự đóng góp bài vở nghiên cứu hay sáng tác của nhiều tác giả trong và ngoài nước. Điều đáng buồn là cho đến nay, những đóng góp tâm huyết đó của trí thức vẫn chỉ là viết cho nhau đọc và nói cho nhau nghe. Chính quyền chẳng những không chú ý mà còn muốn ngăn chặn sự đóng góp của trí thức. Chúng ta thấy thái độ bất mãn của trí thức trong nước ngày càng lộ rõ qua sự lên tiếng ngày càng mạnh mẽ của họ, kết hợp với tiếng nói của những nhà lão thành cách mạng. 
Đặc biệt trong thời gian gần đây, trước tham vọng bá quyền của Trung Quốc ở Biển Đông, các nhân sĩ, trí thức trong nước nhận ra mưu toan thâm độc của Trung Quốc đối với Việt Nam. Quả thật, trong sách lược bành trướng của Trung Quốc, Việt Nam là đối tượng đầu tiên cần phải được Bắc Kinh thôn tính, để từ đó đi đến kiểm soát toàn vùng Đông Nam Á. 
Như chúng tôi đã viết trong Thư Ngỏ, Trung Quốc đang từng bước xâm phạm chủ quyền, lũng đoạn kinh tế, thu vét tài nguyên và thực hiện mưu đồ đồng hóa Việt Nam. Nhân sĩ trí thức trong nước đã quyết liệt lên án Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của Việt Nam và kiến nghị với chính phủ đổi mới hệ thống chính trị, tôn trọng các quyền tự do của nhân dân để có thể dựa vào sức mạnh dân tộc trong nhiệm vụ bảo vệ đất nước. Trí thức ở nước ngoài cũng cần phải lên tiếng, ủng hộ những tiếng nói can đảm của trí thức trong nước. Ngoài ra, cần nhấn mạnh những điểm chính cần phải thay đổi trong chính sách đối nội và đối ngoại, để có thể đoàn kết toàn dân và được sự ủng hộ của bạn bè quốc tế. 

Trách nhiệm của trí thức: phải lên tiếng

Ngọc Trân: Được biết, các nhân sĩ, trí thức trong nước đã từng có nhiều kiến nghị gửi cho các nhà lãnh đạo về nhiều vấn đề quan trọng của đất nước, nhưng không thấy chính quyền để ý gì đến những kiến nghị đó. Giáo sư có nghĩ rằng lãnh đạo trong nước sẽ lắng nghe tiếng nói của trí thức ở nước ngoài hay không?  
GS Lê Xuân Khoa: Vẫn biết rằng cho đến nay, chính quyền không cần để ý đến tiếng nói của trí thức, dù ở trong hay ngoài  nước, nhưng không vì thế mà trí thức phải im lặng trước những vấn đề liên quan đến sự sống còn của đất nước và hạnh phúc của dân tộc. Điều quan trọng là những nhận định chính xác và những đề nghị thực tế của trí thức sẽ được nhân dân biết đến và ủng hộ vì đó cũng chính là nguyện vọng của nhân dân. Như vậy, Thư Ngỏ tuy được gửi cho chính quyền nhưng cũng là viết cho nhân dân và dư luận quốc tế.
Qua các phương tiện thông tin điện tử ngày nay, tiếng nói của một nhóm sẽ sớm trở thành tiếng nói của toàn dân và sẽ tạo thành một sức mạnh mà nhà cầm quyền không thể coi thường. Sự lên tiếng hỗ trợ của trí thức ở ngoài nước sẽ được trí thức và nhân dân trong nước hoan nghênh, nếu sự lên tiếng này không phải là những lời công kích hay đe dọa có thể bị chính quyền tố cáo là âm mưu gây bạo loạn của các thế 
Trí thức, nhân sĩ biểu tình
Từ trái qua phải : ông Đình Vượng, ông Vương Đình Chữ, cụ Nguyễn Đình Đầu, ông Lê Hiếu Đằng, nhà thơ Đỗ Trung Quân, nhà báo Nguyễn Quốc Thái, cô Trần Tử Vân Anh; ông André Mendras Hồ Cương Quyết, ông Huỳnh Tấn Mẫm. (Ảnh: Cao Lập)
lực thù địch, nhằm lật đổ chính quyền. Lời lẽ trong Thư Ngỏ biểu thị thái độ nghiêm túc của những trí thức độc lập ở nước ngoài, không thuộc một tổ chức tranh đấu nào, không theo đuổi một mục đích cá nhân nào, ngoài lòng mong muốn thấy được một nước Việt Nam độc lập, giàu mạnh, dân chủ, và nhân dân được ấm no, hạnh phúc. 
Những nhà lãnh đạo quá cố như ông Nguyễn Cơ Thạch, Võ Văn Kiệt đã từng đón nhận và thực hiện một số đóng góp của trí thức ở nước ngoài nhưng rất tiếc là ông Thạch thì phải từ chức vì áp lực của phe thân Trung Quốc, còn ông Kiệt thì qua đời trong khi đang xúc tiến một số dự án hợp tác giữa trí thức trong và ngoài nước.
Chúng tôi tin rằng tiếng nói của trí thức trong và ngoài nước, cũng là tiếng nói của nhân dân, sẽ được nhà cầm quyền lưu ý và tìm cách đáp ứng bằng cách này hay cách khác. Phản ứng của chính quyền còn tùy thuộc ở cách tiên liệu mức chịu đựng của nhân dân đến đâu. Phản ứng trong  lúc này có thể là tỏ thái độ hòa hoãn bằng những cuộc gặp gỡ với nhân sĩ, trí thức, khuyến khích tiếp tục đối thoại thay vì biểu lộ sự bất mãn. Trong khi đó, bộ máy an ninh tăng cường các biện pháp ngăn ngừa biểu tình và mọi hình thức biểu lộ lòng yêu nước, chống hiểm họa Trung Quốc. 
Vì không nắm vững các yếu tố quyết định từ mọi giới ở trong nước, chúng ta chỉ có thể theo dõi tình hình và cách hành xử của các nhân sĩ, trí thức như thế nào trong những ngày tới. Chúng ta cũng có thể mong rằng khuynh hướng yêu nước và cấp tiến trong Đảng Cộng sản và trong các thành phần lãnh đạo sẽ đủ mạnh để thuyết phục được phe bảo thủ đồng ý đáp ứng thuận lợi những đề nghị của trí thức. Như vậy chính quyền sẽ có chỗ dựa là sức mạnh của nhân dân và sự hỗ trợ của quốc tế trong những cuộc đối thoại song phương và đa phương với Trung Quốc. Nhưng nếu Nhà nước không chịu thay đổi và tiếp tục những hành động đàn áp người yêu nước thì sớm muộn gì nhân dân cũng sẽ nổi dậy.  

Mục đích cuối cùng: một nước Việt Nam độc lập, tự do, dân chủ

Ngọc Trân: Như Giáo sư đã biết, lập trường của cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản là không thể nói chuyện với chính phủ cộng sản và phải thay đổi thể chế độc tài, thì Việt Nam mới có dân chủ và nhân dân mới được tự do, hạnh phúc. Lá Thư Ngỏ chỉ đòi chế độ phải dân chủ hóa bằng sự thay đổi cơ chế và tôn trọng các quyền tự do của người dân, như vậy lập trường của những người ký Thư Ngỏ có thể bị coi là quá ôn hòa hay không?
GS Lê Xuân Khoa: Theo tôi thì đây là những cách tiếp cận khác nhau nhưng có cùng một mục tiêu là một chế độ dân chủ cho Việt Nam. Trong 36 năm qua, cộng đồng người Việt hải ngoại đã tham gia, ủng hộ hay chứng kiến những nỗ lực nhằm thay đổi hay lật đổ chế độ độc tài cộng sản  bằng lực lượng vũ trang hay bằng cách vận động các thế lực quốc tế, nhưng tất cả đều đã thất bại. Ngày nay, hầu hết các tổ chức chống cộng đều chuyển hướng sang tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền. Đây là một sự chuyển hướng đúng, thực tế hơn và có thể được các chính phủ và tổ chức quốc tế hỗ trợ nhưng cũng chỉ đến một mức độ nhất định. 
Một cách tiếp cận thực tế khác là phát triển sự trao đổi, phối trí và hợp tác giữa trí thức ở trong và ngoài nước. Đây là một việc làm công khai và hợp pháp theo nhận định của trí thức trong nước. Phương cách thực tế này có thể bị một số nhân vật trong cộng đồng hải ngoại coi là quá yếu, còn có thể kết tội là giúp duy trì chế độ độc tài, chẳng hạn vì Thư Ngỏ không quyết liệt đòi bãi bỏ điều 4 Hiến pháp hay đòi thực thi đa nguyên, đa đảng. Nhưng nếu lộ trình dân chủ hóa được thiết lập như được nhấn mạnh trong Thư Ngỏ, tức là sửa đổi Hiến pháp trên cơ sở tam quyền phân lập, thực hiện tự do bầu cử và ứng cử, tôn trọng các quyền tự do căn bản của người dân, trả lại tự do cho những công dân bị giam giữ vì tranh đấu ôn hòa cho dân chủ, và thi hành nhiều điều khác được nêu ra trong Thư Ngỏ, thì đâu còn bóng dáng của điều 4 Hiến pháp. Quyền tự do ngôn luận và tự do lập hội cũng sẽ đương nhiên dẫn đến đa nguyên, đa đảng.          
Tóm lại, những phương cách tiếp cận khác nhau cho cùng một mục tiêu không mâu thuẫn với nhau, mà đôi khi còn hổ trợ cho nhau nếu được hiểu như một sự phân công và có sự phối hợp nhịp nhàng.
Nếu các nhà lãnh đạo Việt Nam muốn thoát khỏi sự khống chế của Trung Quốc và hợp tác bình đẳng với các nước ASEAN, Hoa Kỳ và các nước đồng minh khác, thì phải từ bỏ chế độc tài toàn trị để thiết lập và thực hiện lộ trình dân chủ hóa. Tôi thành thật nghĩ rằng đó là nguyện vọng của nhân dân trong nước và cũng là điều mong ước của cộng đồng người Việt ở nước ngoài.
Ngọc Trân: Xin cám ơn Giáo sư đã giành thời gian cho buổi phỏng vấn này.

Thư của Nhà văn Nguyên Ngọc gửi Bí thư Hà Nội Phạm Quang Nghị

Nguồn anhbasam

Đây là bức thư của tôi gửi ông Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành ủy Hà Nội, chiều 25-8-2011.

Định là thư ngỏ, nhưng tôi chưa công bố ngay, mà gửi trước cho vài người bạn qua email để tham khảo ý kiến.

Không biết qua đường nào, ông Phạm Quang Nghị đã biết được thư này và tối 25-8 đã đến nhà tôi, trong khi tôi đi vắng. Sáng 26-8 ông ấy đã gọi điện thoại cho tôi, nói rằng có thể Đài Phát thanh-Truyền hình Hà Nội "đã non nớt" trong khi phát phóng sự này.

Từ đó đến nay, tôi chưa công bố bức thư này để chờ xem của Đài PT-TH Hà Nội trả lời ra sao về việc làm sai trái của họ.

Nay đã có trả lời phủi tay và vô liêm sỉ của ông Trần Gia Thái, tôi quyết định đưa bức thư này ra trước công luận.

Nguyên Ngọc

 ———

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Ngày 25-8-2011

Kính gửi ông Phạm Quang Nghị,

Bí thư Thành ủy Đảng Cộng Sản Việt Nam thành phố Hà Nội,

Tôi viết thư này cho ông vì ông là Bí thư Thành ủy Đảng Cộng sản Việt Nam của thành phố Hà Nội, là người lãnh đạo cao nhất của thành phố này, đương nhiên chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của các tổ chức và cơ quan dưới quyền lãnh đạo của ông, không chỉ là tổ chức Đảng mà cả tổ chức và cơ quan chính quyền theo cơ chế ở nước ta hiện nay.

Tối ngày 22 tháng 8 năm 2011, đài phát thanh và truyền hình Hà Nội, trong chương trình thời sự hằng ngày của mình từ 18 giờ 30 đến 19 giờ, đã cho phát một phóng sự về những cuộc biểu tình và những người biểu tình ở Hà Nội trong thời gian vừa qua, mà chính ông Nguyễn Đức Nhanh, Giám đốc Công an thành phố, đã trịnh trọng tuyên bố trong một cuộc họp báo trước đó là biểu tình yêu nước chống Trung Quốc gây hấn, đe dọa nghiêm trọng nền độc lập của Tổ quốc Việt Nam. Vậy mà đến tối 22 tháng 8, đài phát thanh và truyền hình Hà Nội đã quay ngược hoàn toàn, coi các cuộc biểu tình và những người biểu tình ấy là phản động, và trong khi nói như vậy đã đồng thời đưa rõ hình ảnh ba người là giáo sư Nguyễn Huệ Chi, tiến sĩ Nguyễn Văn Khải và tôi.

Thưa ông,

Tôi năm nay đã 80 tuổi. Cho đến nay, trong suốt cuộc đời 80 năm qua của tôi, chưa có ai dám vu khống và xúc phạm tôi nặng nề như đài phát thanh và truyền hình Hà Nội, một cơ quan đặt dưới dưới sự lãnh đạo của Thành ủy Hà Nội, đứng đầu là ông. Ở nước ta, như chắc chắn ông biết, gọi một người là phản động cũng tức là kết tội người ấy là một tên phản quốc. Đối với tôi, đây là một sự lăng nhục cực kỳ nghiêm trọng, nhất quyết không thể tha thứ.

Đài này còn sử dụng một thủ đoạn ti tiện mà tôi nghĩ ở tuổi ông hẳn có thể ông cũng từng được biết, vào thời cải cách ruộng đất và Nhân văn Giai phẩm, dùng những người không được bất cứ ai cử ra nhưng lại được coi là đại biểu của "quần chúng nhân dân" lớn tiếng vu khống và chửi bới chúng tôi trên một phương tiện truyền thông chính thức của Đảng bộ và Chính quyền Hà Nội.

Tôi xin hỏi:

1 – Thành ủy Hà Nội, đứng đầu là ông, có chủ trương và chỉ đạo việc thực hiện chương trình sai pháp luật và cực kỳ vô văn hóa này của đài phát thanh và truyền hình Hà Nội không?

2 – Nếu không có chủ trương và chỉ đạo đó, mà đây chỉ là hành động "tự phát" của đài phát thanh và truyền hình Hà Nội, thì ai chịu trách nhiệm về việc làm sai trái nghiêm trọng này? Thành ủy Hà Nội sẽ xử lý những người đó như thế nào?

Bởi vì sự xúc phạm của đài Hà Nội là công khai, với toàn dân, với cả nước, cả thế giới, nên bức thư này của tôi là thư ngỏ, và tôi yêu cầu câu trả lời của ông cũng phải công khai.

Tôi và tất cả những người có lương tri yêu cầu và chờ đợi câu trả lời đó.

Trân trọng,

Nguyên Ngọc