Thứ Ba, 1 tháng 5, 2012

BBC. Bà Bùi Hằng bị buộc phải rời trại? (không chấp nhận "cải tạo"! sao có thể chấp nhận ... "khoan hồng"!?)

Nguồn BBC

Bà Bùi Hằng sau khi được thả (ảnh của blog Nguyễn Xuân Diện)

Bà Hằng là nhân vật được Hoa Kỳ và các tổ chức nhân quyền quan tâm

Bà Bùi Thị Minh Hằng, người bị chính quyền Hà Nội đưa vào Trại giáo dục Thanh Hà vì tội gây rối trật tự công cộng, cáo buộc bà bị công an 'cưỡng bức rời khỏi trại'.

Con trai bà, anh Bùi Nhân, đã dẫn lời mẹ đưa ra cáo buộc trên.

Bà đã được chính quyền Hà Nội thả tự do và về đến nhà chiều Chủ nhật ngày 29/4.

Lý do bà được thả, theo báo An ninh thủ đô một ngày trước khi bà được thả, là thực hiện 'chính sách khoan hồng của Nhà nước' nhân kỷ niệm ngày 30/4.

Sau khi bà Hằng về đến nhà hôm 29/4, BBC đã tìm cách liên lạc với bà nhưng bà nói lý do vì rất mệt và không trả lời điện thoại.

'Yếu hơn rất nhiều'

Bùi Nhân, con trai bà, cho biết mẹ anh đã bị các cán bộ trung tâm Thanh Hà cưỡng chế rời khỏi trại.

Nhân cho biết mẹ anh không chấp nhận quyết định phóng thích của chính quyền Hà Nội là vì quyết định này dựa trên việc bắt giữ sai pháp luật.

"Mẹ không chấp nhận rời khỏi trại nhưng họ (công an) đã cưỡng chế và còng mẹ em lại," anh Nhân kể.

"Mẹ không chấp nhận rời khỏi trại nhưng họ (công an) đã cưỡng chế và còng mẹ em lại."

Bùi Nhân, con trai bà Bùi Hằng

Anh cho biết biên bản khám sức khỏe sau khi bà Hằng về đến thành phố Vũng Tàu không ghi lại những vết bầm trên người bà mà anh cho là do bị công an dùng sức mạnh cưỡng chế.

Sau khi làm thủ tục ở Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội, bà Hằng đã bị khoảng 20 công an trên ba ôtô áp giải từ Trại Thanh Hà ở Vĩnh Phúc về Vũng Tàu trong hơn một ngày, anh cho biết.

Khi về đến Vũng Tàu, những người áp giải bà Hằng đã đọc quyết định ngừng đưa bà vào cơ sở giáo dục và làm thủ tục bàn giao bà cho chính quyền địa phương.

"So với sáu tháng trước khi bị bắt, mẹ em đã yếu hơn rất nhiều," anh nói và cho biết bà Hằng đã sụt đến 14 kg.

Anh Nhân mô tả là trước lúc bà Hằng về nhà khoảng ba tiếng thì trước nhà anh có những người ở bên cơ quan an ninh đến và đứng nhìn vào nhà rất dò xét.

Đơn bảo lãnh

Trước đó hai tuần, công an địa phương có đặt yêu cầu với anh Nhân viết đơn bảo lãnh cho mẹ được về, anh cho biết.

"Họ nói về vấn đề tình cảm là chính. Họ nói có nhớ mẹ không và nói cứ viết một lá đơn xin bảo lãnh cho mẹ còn việc ở ngoài đó người ta có đồng ý hay không thì tùy họ," anh kể.

"Họ (công an địa phương) nói về vấn đề tình cảm là chính. Họ nói có nhớ mẹ không và nói cứ viết một lá đơn xin bảo lãnh cho mẹ còn việc ở ngoài đó người ta có đồng ý hay không thì tùy họ."

Bùi Nhân, con trai Bùi Hằng

"Em phải hỏi ý kiến của mẹ em nên chưa làm," anh nói, "Hai tuần sau thì mẹ về đây."

Tuy nhiên, báo An ninh thủ đô hôm 28/4 cho biết một trong những nguyên nhân thả bà Hằng là 'xét đơn đề nghị của gia đình."

Về lá đơn kiện Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Thế Thảo về quyết định bắt giữ bà Bùi Hằng, anh Nhân cho biết chính quyền 'đang câu giờ'.

"Sau một thời gian dài khoảng 2-3 tháng, họ trả lời ngắn gọn việc gửi đơn phải có chữ ký của mẹ em," anh nói, "Nhưng mẹ em đã có giấy ủy quyền hoàn toàn cho luật sư."

"Họ cũng ngăn cản việc em và mẹ em tiếp xúc với nhau tại cơ sở Thanh Hà để em lấy chữ ký của mẹ."

"Thái độ của họ là hoàn toàn gây cản trở," anh nói thêm.

Bà Bùi Thị Minh Hằng là một trong những người nổi bật nhất trong các cuộc biểu tình chống tham vọng của Trung Quốc trên Biển Đông vào mùa hè năm ngoái.

Việc bắt giữ bà đưa vào trại giáo dục cải tạo vào cuối tháng 11 năm ngoái mà không qua quá trình xét xử nào đã gây ra quan ngại từ phía Hoa Kỳ cũng như các tổ chức bảo vệ nhân quyền.

Trần Minh Hiền. TOÀN CẢNH THÁNG 4/1975

Nguồn phamvietdao


Trần Minh Hiền.


Ngày 30 tháng 4 năm 2012 đánh dấu 37 năm sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày chiến tranh kết thúc nhưng cũng lại là bắt đầu của 1 cuộc chiến tranh khác còn khốc liệt hơn nhiều, chết người hơn nhiều và để lại những hậu quả lâu dài tệ hại...Sự thất bại của Miền Nam là kết quả của nhiều yếu tố cộng lại nhưng có lẽ yếu tố quan trọng nhất là sự thất bại trong chính sách của Hoa Kỳ ... nhưng chúng ta phải rút kinh nghiệm xương máu từ đó để có kế sách hữu hiệu thích hợp và giành lại quê hương. Người Do Thái mất nước mấy ngàn năm mà họ còn cuối cùng cũng giành lại được há gì chúng ta . Thất bại của Miền Nam có nguồn gốc sâu xa từ sự can thiệp của Hoa Kỳ 1 cách thiếu tầm nhìn chiến lược, người Mỹ ào ạt đổ quân vào Việt Nam giành vị trí trực chiến với Việt Cộng sau khi lật đổ NGô Đình Diệm, để rồi phải chấm nhận rút quân, Việt Nam hóa chiến tranh rồi rút hẳn, cúp viện trợ và bỏ chạy để Miền Nam đơn thương độc mã chống chọi lại Bắc Việt với sự giúp đỡ hùng hậu của Trung Cộng và Liên Xô cùng nguyên khối XHCN cùng những nước , những người không hiểu rõ gì cả mà chỉ bị bộ máy tuyên truyền lừa mỵ kinh khủng khuynh đảo . Miền Nam thất bại vì quyết tâm thôn tính Miền Nam của Miền Bắc trong khi Miền Nam không có ý định đánh chiếm Miền Bắc, Miền Nam thất bại vì lực lượng nằm vùng, gián điệp, tình báo  dày đặc, chui cao chui sâu vào tận các cơ quan đầu não của Việt Nam Cộng Hòa . Miền Nam thất bại là vì rất nhiều người Miền Nam tử dân thường đến giới trí thức, văn nghệ sĩ , đến thậm chí một số thành phần trong quân đội lại thiếu hiểu biết, bị lừa mỵ và vô tình hay gián tiếp góp phần có lợi cho Cộng Sản Bắc Việt . Sự xung đột về vấn đề tôn giáo bị Cộng Sản luồn lọt vào kích động gây nên xáo trộn và cũng góp phần vào thất bại của Miền Nam . Hoa kỳ với những chính sách sai lầm về chiến lược cũng như chiến thuật và sự sụp đổ của Nixon tất cả cộng lại cũng làm lợi cho Cộng Sản và bức tử Miền Nam . Trung Cộng là yếu tốt then chốt đem lại sự thất bại của Miền Nam . Henry Kissinger với chính sách ác độc của hắn cũng góp phần làm Sài Gòn rơi vào tay cộng sản . Và còn nhiều yếu tố khác nữa .
 
NHưng điều quan trọng chúng ta những người yêu nước Việt Nam cần phải làm là gì ? Chúng ta phải ghi nhớ ngày uất hận này, và dạy con cháu chúng ta hiểu rõ ngày này nhưng chúng ta không thể cứ ngồi đó mà than khóc mãi hay cũng không thể xui tay, chúng ta phải đoàn kết lại tìm ra 1 vị minh quân, tài giỏi , sáng suốt, đức độ, hiểu biết, khôn ngoan, khéo léo để có kế sách hữu hiệu, thực tế , khả thi và 1 tập thể người Việt biết thương yêu nhau, đoàn kết, vì nghĩa lớn, việc lớn là đem lại tự do dân chủ cho nước Việt và chống lại âm mưu xâm chiếm của TRung Quốc . Để làm được tất cả những việc đó không dễ dàng chút nào nhưng chắc chắn chúng ta sẽ làm được, phải làm được nếu mọi người đồng lòng, quyết tâm và khôn ngoan, tỉnh táo . Điều này đòi hỏi rất nhiều hy sinh, sự dấn thân và tất cả những hệ lụy phiền phức của nó và là 1 quá trình lâu dài, mất thời gian, nhọc nhằn, gian khó dễ làm nản lòng người vì những thất bại tạm thời, vì những phá hoại của Việt Cộng , của bọn nằm vùng và những người không hiểu biết . Nhưng chúng ta phải cùng nhau tiến lên , hỗ trợ cho cuộc đấu tranh của đồng bào trong nước, vận động Tòa Bạch Ốc, Quốc Hội các vị dân biểu, thượng nghị sĩ và cố gắng bầu nhiều người Việt vào các vị trí công quyền từ địa phương đến tiểu bang và liên bang để có thể những ảnh hưởng tích cực cho công cuộc của chúng ta . 
***
Sau Hiệp định Paris tinh thần và khả năng của quân đội Việt Nam Cộng hòa suy giảm nghiêm trọng nhất là sau khi Richard Nixon từ chức vì vụ Watergate, vào tháng 8 năm 1974.

Sau khi người Mỹ rút khỏi Nam Việt Nam, viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Hòa đã cắt giảm nhiều:
Tài khóa 1973: 2,1 tỷ USD
Tài khóa 1974: 1,4 tỷ USD
Tài khóa 1975: 0,7 tỷ USD
Theo lời kể của Bộ trưởng Nguyễn Tiến Hưng, thì Giáo sư Warren Nutter là cựu Phụ tá Tổng trưởng quốc phòng, đặc trách phần tài chính của chương trình "Việt Nam hóa". Khi dự điểm tâm với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vào sáng ngày 23 tháng Tám năm 1974 tại Dinh Độc Lập, ông Thiệu bày tỏ sự lo ngại về viện trợ:
Mới vài ngày trước đây là một tỷ, bây giờ còn 700 triệu, tôi làm gì được với số tiền này? Như là chuyện cho tôi 12 đô la và bắt tôi mua vé máy bay hạng nhất từ Sài gòn đi Tokyo
Giáo sư Nutter cũng rất bối rối và giải thích hành động của Quốc hội:
Quốc hội Hoa Kỳ đôi khi hành động vô trách nhiệm như vậy… Cái Trung Tâm Tài Nguyên Đông Dương (Indochina Resource Center, 1 trung tâm của những người phản chiến) đang hết sức tìm cách tiêu diệt quý quốc
Sau này, trong tập hồi ký Mùa Xuân Đại Thắng, Đại tướng Văn Tiến Dũng của Quân đội nhân dân Việt Nam đã viết về động cơ thúc đẩy Việt Nam dân chủ cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam mở cuộc tổng tấn công ở miền Nam là do Mỹ đã giảm viện trợ làm cho kế hoạch tác chiến và xây dựng lực lượng quân đội Sài Gòn không thể thực hiện theo như ý muốn. Đó là vì "hỏa lực đã sút giảm gần 60% vì thiếu bom, đạn; khả năng di động cũng giảm đi 50% vì thiếu máy bay, xe cộ, và nhiên liệu."
Tổng thống Gerald Ford không thuyết phục được Quốc hội Hoa Kỳ chi thêm ngân sách cho chiến trường Việt Nam.Theo Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa,đầu năm 1975, sau hai năm ký hiệp định đình chiến, Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa huy động gần như toàn bộ lực lượng gần 1 triệu quân của mình , mở cuộc tấn công lớn trên toàn miền Nam Việt Nam, bắt đầu là ở Tây Nguyên. Buôn Ma Thuột thất thủ gây chấn động hệ thống phòng thủ của quân đội Việt Nam Cộng hòa và là khởi đầu của những chiến dịch nối tiếp nhau.
Ngày 23 tháng 3, Tổng thống Thiệu nhận được thư của Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford.
White House
Ngày 22 tháng Ba, 1975
Thưa Tổng thống,
Cuộc tấn công hiện nay của Bắc Việt chống lại quý quốc thật vô cùng xáo trộn khiến riêng cá nhân tôi lo âu. Theo quan điểm của tôi, thì cuộc tấn công của Hà Nội tượng trưng cho một sự việc không kém gì sự huỷ bỏ Hiệp định Paris bằng vũ lực.
Biến chuyển này mang theo không hậu quả nghiêm trọng nhất cho cả hai dân tộc chúng ta. Đối với Ngài và nhân dân Ngài thì dây là lúc hy sinh lớn nhất, nó sẽ quyết đinh chính số phận quí quốc. Tôi tin tưởng rằng dưới quyền lãnh đạo của Ngài, quân lực và nhân dân VNCH sẽ tiếp tục công cuộc bảo vệ kiên trì chống lại vụ xâm lược mới này. Tôi cũng tin tưởng chắc chắn rằng nếu có được sự yểm trợ bổ túc từ bên ngoài vào thì quý quốc sẽ thắng thế trong cuộc đấu tranh giành quyền tự quyết của mình.
Riêng đối với Hoa kỳ thì vấn đề cũng không kém phần cấp bách.
Khi hành động như thế này, Hà Nội đang tìm cách huỷ diệt tất cả những gì mà chúng ta đã chiến đấu để thành đạt, với phí tổn vô cùng to lớn, suốt mười năm qua
Sự quyết tâm của Hoa kỳ để yểm trợ một người bạn đang bị các lực lượng (Bắc Việt) với vũ khí hùng mạnh tấn công, hoàn toàn vi phạm một thoả ước quốc tế (đã được ký kết) long trọng, là một điều hết sức cần thiết.
Riêng tôi, tôi quyết tâm rằng Hoa kỳ sẽ đứng vững sau lưng Việt nam cộng hoà trong giờ phút tối quan trọng này. Với mục đích tôn trọng những bổn phận của Hoa kỳ trong tình thế này, tôi đang theo dõi những biến chuyển với chủ tâm cao độ nhất và đang khẩn cấp tham khảo ý kiến các cố vấn của tôi về những hành động mà tình thế có thể đòi hỏi và pháp luật cho phép. Về việc cung ứng viện trợ quân sự đầy đủ cho quân đội Ngài, xin Ngài yên tâm là tôi sẽ cố tâm nỗ lực để thoả mãn những nhu cầu vật chất của Ngài trên chiến trường.
Trước khi chấm dứt, tôi xin được nhắc lại một lần nữa lòng cảm phục liên tục của tôi đối với quyết tâm của Ngài và đối với sức bền bỉ và sự anh dũng của nhân dân Việt Nam Cộng Hòa.
Kính thư,
(kí) Gerald R. Ford
Dù là nói tới quyết tâm ủng hộ nhưng người thảo bức thư đã khôn khéo gài vào: "(tôi) đang khẩn cấp tham khảo ý kiến các cố vấn về những hành động mà tình thế có thể đòi hỏi và pháp luật cho phép"
Ngày 23 tháng 3, Huế rơi vào tay Quân giải phóng miền Nam Việt Nam trong khi ở Đà Nẵng, hàng ngàn dân thường và binh lính tìm cách chạy thoát bằng đường biển khỏi thành phố đang bị bao vây và nã pháo. Trong 4 sư đoàn bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, 4 liên đoàn Biệt động quân, lữ đoàn thiết giáp, sư đoàn không quân, và hàng ngàn nhân viên quân sự và địa phương quân, chỉ có 16.000 rút được.[13] Trong số gần 2 triệu dân thường dồn lại tại Đà Nẵng từ cuối tháng 3, chỉ có hơn 50.000 sơ tán được bằng đường thủy.[14] Còn lại là 70.000 binh sĩ VNCH bị bắt làm tù binh.[15] Ngoài ra 33 máy bay phản lực A-37 còn nguyên vẹn cùng gần 60 máy bay khác tại căn cứ không quân Phù Cát cũng bị bỏ lại.[16] Trong cuộc sụp đổ của Đà Nẵng, không có một trận chiến nào. Khi Quân Giải phóng tiến vào thành phố, không mấy binh sĩ VNCH đóng quanh thành phố chống cự.[17] Các trung tâm phòng thủ còn lại dọc theo bờ biển cũng nhanh chóng tan vỡ dây chuyền: Quảng Ngãi ngày 24 tháng 3; Quy Nhơn và Nha Trang ngày 1 tháng 4; và cảng Cam Ranh ngày 3 tháng 4.[18]
Trong nửa đầu tháng 4, với Quân đoàn 2 của quân Giải phóng từ phía bắc tiến vào và quân đoàn 3 từ Tây Nguyên đổ xuống, các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa lần lượt rơi vào tay Quân Giải phóng.
Ngày 9 tháng 4, Quân đoàn 4 Quân giải phóng định đánh chiếm huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai trên hành tiến - tuyến phòng thủ từ xa cuối cùng của Sài Gòn - nhưng Sư đoàn 18 của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã kháng cự ác liệt có tổ chức để giữ vững được thị xã. Đây là trận đánh dài ngày có tổ chức cuối cùng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Trận Xuân Lộc đã gây thương vong rất lớn cho cả hai bên.
Ngày 17 tháng 4, Thượng viện Hoa Kỳ từ chối khoản viện trợ khẩn cấp trị giá 722 triệu Mỹ kim mà chính phủ Gerald Ford đề nghị. Tuy không ai tin rằng viện trợ Mỹ có thể xoay chuyển tình thế, một số chuyên viên như Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger hy vọng rằng ngân khoản đó có thể giúp Việt Nam Cộng Hòa lấy lại được đủ vị thế về quân sự để thuyết phục Bắc Việt đàm phán. Hai ngày sau phán quyết này của Thượng viện, giám đốc CIA William Colby nói với tổng thống Ford: "Nam Việt Nam đang đối mặt với thất bại hoàn toàn và nhanh chóng". Các chuyến bay di tản do CIA tổ chức đã bắt đầu đưa các cộng tác viên người Việt rời Việt Nam, và Sứ quán Mỹ đã bắt đầu đốt tài liệu mật từ trước đó.[19] Ngày 20 tháng 4 các thủ tục pháp luật được đơn giản hóa cho việc sơ tán người Việt bắt đầu có hiệu lực. Việc sơ tán này được thực hiện tại sân bay quân sự Tân Sơn Nhất, do tướng Homer Smith chỉ huy. Các máy bay C-130 và C-140 liên tục lên xuống vào ban ngày; công việc giấy tờ được tiếp tục suốt đêm. Tướng Smith đã phải dùng đến toàn bộ trung đội Thủy quân lục chiến số 43 của Mỹ để giữ trật tự tại Tân Sơn Nhất.
Ngày 20 tháng 4 quân phòng thủ bỏ Xuân Lộc rút lui. Ngày Xuân Lộc thất thủ, không còn gì để cứu vãn nữa. Việc bỏ Xuân Lộc khiến Sài Gòn gần như bỏ ngỏ, không còn phòng thủ từ xa nữa; Quân giải phóng áp sát thành phố ở các tuyến ngoại vi. Cùng ngày 20 tháng 4, Đại sứ Mỹ Martin đến phủ Tổng thống thuyết phục Nguyễn Văn Thiệu từ chức, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã liên tục tuyên bố sẽ không đàm phán với tổng thống Thiệu.
Tối ngày 21 tháng 4, Nguyễn Văn Thiệu đọc một bài diễn văn từ chức dài trước Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, buộc tội Mỹ đã bỏ rơi Việt Nam Cộng hòa. Phó Tổng thống Trần Văn Hương lên thay nhưng phía Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam không chấp nhận nói chuyện với ông. Thời điểm 21 tháng 4 khi Nguyễn Văn Thiệu từ chức có ý nghĩa quyết định. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói rằng "chìa khóa là ngày 21 tháng 4, khi Thiệu từ chức. Khi đó tôi biết rằng chúng tôi phải tấn công ngay lập tức, cướp lấy thời cơ, tất cả chúng tôi cũng đồng ý như vậy."[20] Đêm hôm đó, tại sở chỉ huy tiền phương tại Lộc Ninh, cách Sài Gòn 75 dặm, tướng Văn Tiến Dũng, người chỉ huy các cánh quân Cộng sản tiến về thành phố, ra lệnh bắt đầu cuộc tổng tiến công.
Để đảm bảo áp đảo chắc thắng Quân Giải Phóng đưa thêm cả Quân đoàn 1 (hay còn gọi là Binh đoàn Quyết thắng) bằng tầu biển và hàng không vào chiến trường cho trận cuối cùng có tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh. Lực lượng tiến công Sài Gòn tương đương 20 sư đoàn với 5 quân đoàn.
Lúc 17 giờ ngày 26 tháng 4, Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu nổ súng với 5 quân đoàn ở 5 hướng tấn công: hướng Bắc với Quân đoàn 1, hướng Tây Bắc với Quân đoàn 3, hướng Tây và Tây Nam với Đoàn 232, hướng Đông với Quân đoàn 4 và hướng đông nam với Quân đoàn 2.
Ngày 27 tháng 4, Sài Gòn chịu 3 loạt hỏa tiễn của Quân giải phóng, lần đầu tiên trong hơn 40 tháng[21] làm nhiều người chết và bị thương và nhà cửa đổ nát.[22]
Tại mặt phía Nam của Sài Gòn, ngay từ ngày 28 tháng 4, 1975, Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ Ðô của chính quyền Sài Gòn không còn quân trừ bị để phòng thủ. Họ buộc phải rút 1 liên đoàn Biệt Ðộng Quân đang hành quân về quận lỵ Cần Đước và đặt dưới quyền điều động của Bộ tư lệnh Biệt Khu Thủ Ðô. Liên tỉnh lộ nối liền Chợ Lớn và Cần Đước cũng bị cắt nhiều đoạn nên các lực lượng VNCH không thể phá vỡ được các chốt chận của Quân giải phóng tại cầu Nhị Thiên Đường vốn đã bị chiếm từ rạng sáng ngày 29 tháng 4, 1975.
Các đơn vị Nhảy Dù phòng ngự tại phòng tuyến khu vực từ ngã tư Quân Vận (gần Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung) đến cầu Tham Lương Bà Quẹo, khu Bình Thới-Ngã ba Bà Quẹo, khu Bảy Hiền-Lăng Cha Cả đã cố gắng ngăn chận đối phương.
Một chiến đoàn thuộc Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù tại vòng đai Bộ Tổng Tham Mưu do Thiếu Tá Phạm Châu Tài chỉ huy đã dàn quân và từ 8 giờ sáng đến 10 giờ sáng, chiến đoàn này đã bắn cháy 6 chiến xa và đánh bật địch ra khỏi trận địa.


Phi công Hoa Kỳ di tản trẻ em tỵ nạn rời khỏi Việt Nam
Đến cuối ngày 28 tháng 4 tất cả các tuyến phòng thủ đã bị chọc thủng ở mọi hướng, quân Giải phóng có thể đi ngay vào thành phố. Các lực lượng chính trị thứ ba dàn xếp để đưa Đại tướng Dương Văn Minh lên làm tổng thống trong ngày 28 tháng 4 năm 1975. Ngay khi nhậm chức để tiến hành đàm phán Tổng thống Dương Văn Minh yêu cầu người Mỹ ra đi.
4 giờ sáng ngày 29/4 tức 16 giờ theo giờ Washington, hỏa tiễn và đạn pháo Quân giải phóng đã nã tới tấp xuống Phi trường Tân Sơn Nhứt, phá hủy nhiều phi cơ trên mặt đất, vô hiệu hóa phi trường này và gây cho số người Việt đang tụ tập ở đấy để trốn chạy, một sự hỗn loạn thực sự.
Tổng thống Ford triệu tập Hội đồng An ninh Quốc gia họp khẩn cấp lúc 19h 30, ông đã yêu cầu Đại sứ Graham Martin phải di tản ngay những người Mỹ còn lại và cả những người Việt Nam càng nhiều càng tốt.
Một số sĩ quan người Việt đã tự bắn vào đầu để tự vẫn, như Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú,
Ở Sài Gòn và phần còn lại của Việt Nam Cộng Hòa, hàng triệu người dân Việt Nam bắt đầu tự đặt cho mình 1 câu hỏi mấu chốt: họ có thể sống dưới chế độ mới hay tốt hơn là tự tìm cách trốn chạy bằng đường biển.
Trong các ngày 28, 29 tháng 4 từ các hàng không mẫu hạm của Hạm đội số 7 ngoài khơi Thủy quân lục chiến Mỹ dùng trực thăng di tản người nước ngoài và một số người Việt đã từng cộng tác chặt chẽ với họ, trong đó có chiến dịch Babylift. Cuộc di tản đã diễn ra trong hỗn loạn vì rất nhiều người muốn ra đi nhưng không thể đáp ứng hết được. Các điểm đỗ của trực thăng náo loạn. Lính Thuỷ quân lục chiến Mỹ đã phải cố gắng mới duy trì được trật tự, họ dùng sức mạnh thô bạo gạt phăng các bạn đồng minh cũ đang trong cơn hoạn nạn. Người Mỹ đã phải bỏ lại nhiều người bạn lâu năm của mình vì số lượng phương tiện có hạn. Hình ảnh di tản đã in đậm trong trí óc nhiều người Mỹ và Việt như một kỷ niệm rất buồn. Đại sứ Graham Martin là một trong những người Mỹ cuối cùng ra đi. Trong số 120.000 người Việt và 20.000 người Mỹ được di tản trong đợt này, không có một người nào bị thiệt mạng do hoạt động quân sự của quân Bắc việt. Quân bắc việt dừng lại bên ngoài thành phố 1 ngày để cho người Mỹ di tản hết mới vào. Theo lời tướng Trần Văn Trà, họ đã đợi vì mục đích chính là để giải phóng Sài Gòn chứ không phải để giết người. Còn theo hồi kí của tướng Hoàng Cầm, cánh quân của Quân đoàn 4 mà ông chỉ huy gặp rất nhiều kháng cự trên đường tiến về Sài Gòn và chỉ đánh được đến nơi vừa kịp sáng ngày 30 tháng 4.
8 giờ sáng 30 tháng 4 Tổng thống Dương Văn Minh và Bộ tổng tham mưu quân đội Việt Nam Cộng hòa hạ lệnh đơn phương ngừng chiến sẵn sàng đón quân đối phương vào Sài Gòn để bàn giao chính quyền.Theo phía Việt Nam dân chủ cộng hòa, lệnh này không còn tác dụng do phần lớn quân lực Việt Nam Cộng Hòa lúc đó đã tan rã, phần nhiều ra hàng hoặc vứt bỏ vũ khí về với gia đình. Do đó khi Quân giải phóng tiến vào Sài Gòn hầu hết chỉ gặp những ổ kháng cự nhỏ lẻ, thiếu tổ chức
9 giờ sáng cùng ngày, đúng 1 tiếng đồng hồ sau khi chiếc trực thăng cuối cùng của Mỹ rời nóc tòa Đại Sứ quán, tướng Trần Văn Trà lệnh cho quân bắc việt tiến vào Sài Gòn từ năm hướng. Họ đã tiến nhanh mà không gặp kháng cự có tổ chức.
10 giờ 45 phút ngày 30 tháng 4, xe tăng mang số hiệu 843 húc nghiêng cổng phụ của Dinh Độc Lập và bị kẹt tại đó. Bùi Quang Thận - Đại đội trưởng, chỉ huy xe 843 - nhảy xuống xe, cầm cờ chạy bộ vào. Xe tăng 390 dưới quyền chỉ huy của Vũ Đăng Toàn húc tung cánh cửa chính của dinh.
11 giờ 30 phút cùng ngày, Trung úy  Bùi Quang Thận đã hạ lá cờ Việt Nam Cộng hòa trên nóc dinh xuống, kéo lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lên.
Cùng lúc này, đại úy trung đoàn phó Trung đoàn 66 Phạm Xuân Thệ cùng lực lượng đột kích thọc sâu của Quân đoàn 2 và biệt động thành Sài Gòn tiến vào dinh Độc Lập bắt Tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa là ông Dương Văn Minh cùng toàn bộ những nhân vật chủ chốt của nội các chính quyền Sài Gòn. Tổng thống Dương Văn Minh cùng toàn bộ nội các của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã tuyên bố đầu hàng vô điều kiện với quân đội cách mạng (tức quân Giải phóng miền Nam Việt Nam).
Khoảng 12 giờ trưa, đại úy Phạm Xuân Thệ đưa tổng thống Dương Văn Minh, thủ tướng Vũ Văn Mẫu lên xe Jeep để đến đài phát thanh. Chiếc xe thứ hai chở trung tá chính ủy lữ đoàn xe tăng 203 Bùi Văn Tùng cùng hai nhà báo Borries Gallasch (người Đức, báo Der Spiegel) và Hà Huy Đỉnh. Tại đài phát thanh, tổng thống Dương Văn Minh đã đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Thay mặt các đơn vị Quân giải phóng đánh chiếm dinh Độc Lập, trung tá Bùi Văn Tùng đọc lời tiếp nhận đầu hàng. Chiến tranh kết thúc.
Theo Jean Louis Margolin, tác giả này xác nhận là không có tắm máu trong ngày quân Giải phóng tiến vào Sài Gòn nhưng sau đó đã đưa ra con số 200 ngàn người bị giam giữ theo xác nhận của Phạm Văn Đồng. Tuy nhiên về việc này, tác giả ghi thêm: "Những ước tính nghiêm chỉnh nói từ 500 ngàn đến một triệu tù nhân trong tổng số dân là 20 triệu"
Các tướng VNCH đã tự sát là Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Thiếu tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn tướng Trần Văn Hai, Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ


Chiến dịch Gió lốc là cuộc di tản bằng trực thăng của người Mỹ và Việt Nam từ Sài Gòn, miền Nam Việt Nam, từ 29 đến 30 tháng 4 năm 1975, những ngày cuối cùng của chiến tranh Việt Nam. Hơn 50.000 người đã di tản từ nhiều điểm ở Sài Gòn.
Có 50.493 người (trong đó có 2.678 trẻ mồ côi Việt Nam) được di tản từ Tân Sơn Nhất. Các phi công đã bay tổng cộng 1.054 giờ và 682 chuyến bay trong suốt chiến dịch.
***



 T.M.H.
 ngày 30 tháng 4 năm 2012 )

Trần Trung Đạo : NHỮNG CÂU HỎI ĐẶT RA KHI THÁNG TƯ VỀ

Nguồn phamvietdao

Tùy bút chính trị của Trần Trung Đạo

- 
Dưới chế độ Cộng Sản, không những người dân bị ràng buộc vào bộ máy mà cả các lãnh đạo cũng sinh hoạt trong khuôn khổ tổ chức và nghiêm chỉnh thực thi các nguyên tắc lãnh đạo độc tài sắc máu do đảng của họ đề ra. Điều đó giải thích lý do giọng điệu của những cựu lãnh đạo Cộng Sản cao cấp như Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn An, Nguyễn Khoa Điềm... sau khi rời chức vụ giống như những người vừa được giải phẫu thanh quản, nói dễ nghe hơn nhiều so với thời còn trong bộ máy cầm quyền. Họ không phải là những người "buông dao thành Phật" nhưng chỉ vì họ đã trở về với vị trí một con người bình thường, ít bị ràng buộc trong cách ăn cách nói, cách hành xử, cách khen thưởng và trừng phạt như khi còn tại chức.
-Ngày 30 tháng 4, ngoài tất cả ý nghĩa mà chúng ta đã biết, còn là ngày để mỗi chúng ta nhìn lại chính mình, ngày để mỗi chúng ta tự hỏi mình đã làm gì cho đất nước, và đang đứng đâu trong cuộc vận hành của lịch sử hôm nay. Mỗi người Việt Nam có hoàn cảnh sống khác nhau, quá khứ khác nhau, tôn giáo khác nhau và mang trên thân thể những thương tích khác nhau, nhưng chỉ có một đất nước để cùng lo gánh vác. Đất nước phải vượt qua những hố thẳm đói nghèo lạc hậu và đi lên cùng nhân loại. Không ai có quyền bắt đất nước phải đau nỗi đau của mình hay bắt đất nước phải đi ngược chiều kim lịch sử như mình đang đi lùi dần vào quá khứ. Sức mạnh của dân tộc Việt Nam không nằm trong tay thiểu số lãnh đạo CSVN. Tương lai dân tộc không nằm trong tay thiểu số lãnh đạo CSVN. Sinh mệnh dân tộc Việt Nam do chính nhân dân Việt Nam quyết định.

-Như lịch sử đã chứng minh, chính nghĩa bao giờ cũng thắng. Không có vũ khí nào mạnh hơn sức mạnh đoàn kết dân tộc. Chỉ có sức mạnh Đoàn Kết Dân Tộc, chúng ta mới có khả năng bảo vệ được chủ quyền và lãnh thổ Việt Nam, chỉ có sức mạnh Đoàn Kết Dân …Ba mươi bảy năm là một quảng đường dài. Chúng ta đã hơn một lần trễ hẹn với non sông, nhưng không phải vì thế mà không còn cơ hội. Cơ hội vẫn còn đó nếu chúng ta biết đoàn kết, thấy được hướng đi chung của dân tộc và thời đại. Chúng ta có nhiều quá khứ nhưng đất nước chỉ có một tương lai, đó là tương lai tự do, dân chủ, nhân bản và khai phóng cho những ai, sau những điêu tàn đổ vở, còn biết nhận ra nhau, còn biết yêu thương mảnh đất thiêng liêng, vinh quang và thống khổ Việt Nam.


Popout 

Những ngày còn nhỏ, tôi bị ám ảnh bởi câu hỏi tự mình đặt ra "Tại sao chiến tranh diễn ra tại Việt Nam mà không phải tại một quốc gia nào khác?" 
Tôi lớn lên ở Đà Nẵng. Đường phố quê hương tôi trong khoảng thời gian từ 1968 đến 1972 có rất nhiều lính Mỹ. Những chiến tàu nhập cảng Tiên Sa chở đầy chiến xa và súng đạn mang nhãn "Made in USA". Những đoàn xe vận tải hiệu Sealand, RMK gần như chạy suốt ngày đêm từ nơi dỡ hàng ngoài bờ biển đến các kho quân sự chung quanh Đà Nẵng. Tiếng gầm thét của các phi cơ chiến đấu có đôi cánh gắn đầy bom, lát nữa, sẽ được ném xuống một nơi nào đó trên mảnh đất Việt Nam. Những câu lạc bộ, được gọi là "hộp đêm", mọc đầy hai bên bờ sông Hàn. Mỹ đen, Mỹ trắng chở hàng quân tiếp vụ đi bán dọc chợ Cồn, chợ Vườn Hoa. 
Phía trước tòa thị chính Đà Nẵng, trước rạp hát Trưng Vương hay trong sân vận động Chi Lăng, gần như tháng nào cũng có trưng bày chiến lợi phẩm tịch thu từ các cuộc hành quân. Những khẩu thượng liên có nòng súng cao, những khẩu pháo nòng dài, rất nhiều AK 47, B40, súng phóng lựu đạn và hàng khối đạn đồng vàng rực. Sau "Mùa hè đỏ lửa" trong số chiến lợi phẩm còn có một chiếc xe tăng T54 được trưng bày rất lâu trước tòa thị chính. Không cần phải giỏi ngoại ngữ, chỉ nhìn nhãn hiệu tôi cũng biết ngay chúng là hàng của Trung Quốc và Liên Xô. 
Nhìn viên đạn của Nga và Tàu, tôi nghĩ đến trái tim của người lính trẻ miền Nam, giống như khi nhìn chiếc chiến đấu cơ của Mỹ cất cánh tôi chợt nghĩ đến các anh lính từ miền Bắc xấu số đang di chuyển bên kia sông Thu Bồn. Vũ khí là của các đế quốc. Không có khẩu súng nào chế tạo ở miền Nam hay miền Bắc. Các bà mẹ Việt Nam chỉ chế tạo được những đứa con và đóng góp phần xương máu.
Vũ khí của các đế quốc trông khác nhau nhưng nạn nhân của chúng dù bên này hay bên kia lại rất giống nhau. Nếu tháo đi chiếc nón sắt, chiếc mũ vải xanh, hai người thanh niên có mái tóc đen, vầng trán hẹp, đôi mắt buồn hiu vì nhớ mẹ, nhớ em chẳng khác gì nhau. Dù "con đường Duy Tân cây dài bóng mát" hay "mặt hồ Gươm vẫn lung linh mây trời" cũng là quê hương Việt Nam và nỗi nhớ trong tâm hồn người con trai Việt ở đâu cũng đậm đà tha thiết. 
Người lính miền Nam chết vì phải bảo vệ chiếc cầu, căn nhà, xóm làng, góc phố thân yêu của họ. Nếu ai làm một thống kê để hỏi những lính miền Nam còn sống hôm nay, tôi tin không ai trả lời muốn "ăn gan uống máu quân thù" miền Bắc. Họ chỉ muốn sống yên ổn trong hòa bình để xây đắp lại mảnh đất họ đã "xin chọn nơi này làm quê hương" sau khi trải qua quá nhiều đau thương tang tóc. Họ phải chiến đấu và hy sinh trong một cuộc chiến tự vệ mà họ không chọn lựa. 
Dân chủ không phải là lô độc đắc rơi vào trong túi của người dân miền Nam mà phải trải bằng một giá rất đắc. Tham nhũng, lạm quyền, ám sát, đảo chánh diễn ra trong nhiều năm sau 1960. Có một dạo, tấm hình của vị "nguyên thủ quốc gia" chưa đem ra khỏi nhà in đất nước đã có một "nguyên thủ quốc gia" khác. Nhưng đó là chuyện của chính quyền và nhân dân miền Nam không dính líu gì đến đảng Cộng Sản miền Bắc. 
Dân chủ ở miền Nam không phải là sản phẩm của Mỹ được đóng thùng từ Washington DC gởi qua nhưng là hạt giống do Phan Chu Trinh, Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh và rất nhiều nhà cách mạng miền Nam khác gieo xuống hàng nửa thế kỷ trước đã mọc và lớn lên trong mưa bão. Không chỉ miền Nam Việt Nam mà ở đâu cũng vậy. Nam Hàn, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Phi Luật Tân và nhiều quốc gia khác, dân chủ đã phải trải qua con đường máu nhuộm trước khi đơm bông kết trái. 

Tại sao chiến tranh diễn ra tại Việt Nam mà không phải tại một quốc gia nào khác? 
Thật không công bằng cho đảng nếu tôi chỉ dùng tài liệu trong các thư viện ở Mỹ để chứng minh âm mưu xích hóa Việt Nam của đảng. Tôi sẽ trích những câu do đảng viết ra. Theo
 quan điểm lịch sử của đảng CSVN chiến tranh đã xảy ra bởi vì "Ở miền Nam, lợi dụng sự thất bại và khó khăn của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đã nhảy vào để thay chân Pháp nhằm biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ."
Không ai hình dung "thuộc địa kiểu mới" hình dáng ra sao và đảng cũng chưa bao giờ giải thích một cách rõ ràng. 
Sau Thế chiến thứ hai, hàng loạt quốc gia trong đó có những nước vốn từng là đế quốc, đã nằm trong vòng ảnh hưởng kinh tế và cả chính trị của Mỹ. Chẳng lẽ 18 nước châu Âu bao gồm Tây Đức, Áo, Bỉ, Pháp, Ý, Anh, Hòa Lan v.v... trong kế hoạch Marshall chia nhau hàng trăm tỉ đô la của Mỹ để tái thiết đất nước sau thế chiến thứ hai đều trở thành những "thuộc địa mới" của Mỹ hay sao? Chẳng lẽ các nước Á châu như Nam Hàn, Nhật Bản, Đài Loan được viện trợ không những tiền của mà còn bằng cả sức người để xây dựng lại đất nước họ là "thuộc địa mới" của Mỹ hay sao? 
Chuyện trở thành một "căn cứ quân sự" của Mỹ lại càng khó hơn. 
Chính sách vô cùng khôn khéo của chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ dùng Đệ Lục Hạm Đội Mỹ làm hàng rào bảo vệ đất nước Thổ ngăn chặn làn sóng đỏ Liên Xô xâm lược là một bài học cho các lãnh đạo quốc gia biết mở mắt nhìn xa. Mặc dù là một nước trung lập trong thế chiến thứ hai, để lấy lòng Mỹ, lãnh đạo Thổ đã tình nguyện gởi 5500 quân 
tham chiến bên cạnh Mỹ trong chiến tranh Triều Tiên.. Quân đội Thổ chiến đấu anh dũng nhưng cũng chịu đựng tổn thất rất nặng nề. Một nửa lực lượng Thổ đã chết và bị thương trong ba năm chiến tranh. Ngày 18 tháng 2 năm 1952, Thổ Nhĩ Kỳ chính thức trở thành hội viên của NATO và hùng mạnh đến ngày nay. 
Nhật Bản là một ví dụ khác. Trong cuốn phim tài liệu Thế Giới Thiếu Mỹ (The World Without US) đạo diễn Mitch Anderson trích lời phát biểu của 
Thủ tướng Nhật Yasuhiro Nakasone "Nếu Mỹ rút khỏi Nhật Bản, chúng tôi phải dành suốt mười năm tới chỉ để lo tái võ trang trong nhiều mặt, kể cả sản xuất võ khí nguyên tử". Một quốc gia có nền kinh tế lớn thứ ba trên thế giới với Tổng Sản Lượng Nội Địa năm 2011 lên đến 5855 tỉ đô la nhưng dành vỏn vẹn một phần trăm cho ngân sách quốc phòng chỉ vì Nhật dựa vào khả năng quốc phòng của Mỹ và sự có mặt của 35 ngàn quân Mỹ. Khác với chủ trương "đánh cho Mỹ cút ngụy nhào" của Hồ Chí Minh, trong một thống kê mới đây, 73 phần trăm công dân Nhật biết ơn quân đội Mỹ bảo vệ họ. 
Đứng trước một miền Bắc điêu tàn sau mấy trăm năm nội chiến và thực dân áp bức, một giới lãnh đạo nếu thật tâm thương yêu dân tộc trước hết phải nghĩ đến việc vá lại những tang thương đổ vỡ, đưa đất nước ra khỏi cảnh đói nghèo, lạc hậu. Ngay cả thống nhất là một ước mơ chung và có thật đi nữa cũng cần thời gian và điều kiện. Con người trước hết phải sống, phải có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, học hành trước khi nghĩ đến chuyện đoàn tụ với đồng bào và bà con thân thuộc. 
Cũng trong tài liệu chính thức của đảng, ngay cả trước khi ký hiệp định Geneve và khi Việt Nam chưa có một dấu chân người lính Mỹ nào, 
hội nghị lần thứ sáu của Trung ương Đảng CSVN từ ngày 15 đến 17 tháng 7 năm 1954, Bộ chính trị đảng CSVN đã nghĩ đến chuyện đánh Mỹ "Hiện nay đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế giới và nó đang trở thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Đông Dương, cho nên mọi việc của ta đều nhằm chống đế quốc Mỹ".
Vào thời điểm trước 1954, dân tộc Việt Nam thật sự có một mối thù không đội trời chung với Mỹ sâu đến thế sao hay giới lãnh đạo CSVN chỉ vẽ hình ảnh một "đế quốc Mỹ thâm độc đầu sỏ" như một lý do để chiếm toàn bộ Việt Nam bằng võ lực, và cùng lúc để phụ họa theo quan điểm chống Mỹ điên cuồng của chủ nô Mao Trạch Đông sau cuộc chiến Triều Tiên? 
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau gần một thế kỷ với bao nhiều tổn thất máu xương, tù ngục, mục tiêu Cộng Sản hóa Việt Nam của đảng cuối cùng đã đạt được. Lê Duẩn, trong diễn văn mừng chiến thắng vài hôm sau đó đã nói "vinh quang này thuộc về đảng Lao Động Việt Nam quang vinh, người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam". 
Lời phát biểu của họ Lê nhất quán với nghị quyết của đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương do Trần Phú chủ trì năm 1930 và được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương phê chuẩn vào tháng 4 cùng năm, ghi rõ: "Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong cuộc cách mạng; hai giai đoạn cách mạng từ cách mạng tư sản dân quyền chống đế quốc và phong kiến nhằm thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và người cày có ruộng và sau đó chuyển sang làm cách mạng xã hội chủ nghĩa." 
Mới đây, Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư đảng CSVN, trong chuyến viếng thăm Cu Ba, cũng lần nữa khẳng định "
Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam.... Vào những năm cuối thế kỷ XX, mặc dù trên thế giới chủ nghĩa xã hội hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa không còn, phong trào xã hội chủ nghĩa đang trong giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, gặp rất nhiều khó khăn, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục khẳng định: "Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh". 
Nhiều người cho rằng Nguyễn Phú Trọng nói những câu lạc hậu, lỗi thời mà không biết mắc cỡ. Tôi tin Nguyễn Phú Trọng nói một cách chân thành và hãnh diện. Nhờ tài lãnh đạo mà đảng CSVN đã tồn tại dù cả một hệ thống xã hội chủ nghĩa lớn mạnh như Liên Xô đã phải sụp đổ. 
Đối diện với thời đại toàn cầu hóa, nội chung chủ nghĩa Mác về mặt kinh tế đã phải thay đổi để đáp ứng nhu cầu tồn tại của đảng nhưng cơ chế nhà nước toàn trị sắc máu theo kiểu Lê Nin, Stalin chẳng những được duy trì mà còn củng cố chặt chẽ và nâng cấp kỹ thuật cao hơn. Dù ngoài miệng có hát bài hòa hợp hòa giải thắm đượm tình dân tộc, bên trong, các chính sách của Đảng vẫn luôn kiên trì với mục tiêu toàn trị và bất cứ ai đi ngược với mục tiêu đó đều bị triệt tiêu một cách tàn nhẫn. 
Dưới chế độ Cộng Sản, không những người dân bị ràng buộc vào bộ máy mà cả các lãnh đạo cũng sinh hoạt trong khuôn khổ tổ chức và nghiêm chỉnh thực thi các nguyên tắc lãnh đạo độc tài sắc máu do đảng của họ đề ra. Điều đó giải thích lý do giọng điệu của những cựu lãnh đạo Cộng Sản như Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn An, Nguyễn Khoa Điềm sau khi rời chức vụ giống như những người vừa được giải phẫu thanh quản, nói dễ nghe hơn nhiều so với thời còn trong bộ máy cầm quyền. Họ không phải là những người "buông dao thành Phật" nhưng chỉ vì họ đã trở về với vị trí một con người bình thường, ít bị ràng buộc trong cách ăn cách nói, cách hành xử, cách khen thưởng và trừng phạt như khi còn tại chức. 
Giới lãnh đạo Cộng Sản được trui rèn trong tranh đấu, được huấn luyện chính trị từ cấp đội, cấp đoàn trước khi giữ các vị trí then chốt trong đảng và nhà nước CS. Họ nắm vững tâm lý và vận dụng một cách khéo léo tâm lý quần chúng để phục vụ cho các chính sách của đảng trong từng thời kỳ. Sau biến cố Thiên An Môn, để đánh lạc hướng cuộc đấu tranh đòi dân chủ của thanh niên sinh viên, nhà cầm quyền Cộng Sản Trung Quốc khai thác lòng căm thù chính sách quân phiệt của Nhật đã xảy ra từ thế kỷ trước. Lợi dụng việc Bộ Giáo dục Nhật bản liệt kê biến cố tàn sát Nam Kinh như một tai nạn trong sách giáo khoa, nhà cầm quyền Trung Quốc đã khuyến khích hàng chục ngàn thanh niên sinh viên Trung Quốc biểu tình suốt 3 tuần lễ trước tòa đại sứ Nhật. Việt Nam cũng thế. Trong chiến tranh biên giới 1979, các lãnh đạo CSVN đã lần nữa sử dụng thành công viên thuốc độc bọc đường "bảo vệ tổ quốc". Máu của hàng vạn thanh niên Việt Nam đổ xuống dọc biên giới Việt Trung phát xuất từ tình yêu quê hương trong sáng và đáng được tôn vinh, tuy nhiên, nếu dừng lại một phút để hỏi, họ thật sự chết vì tổ quốc hay chỉ để trả nợ xương máu giùm cho đảng CSVN? 
Cuộc đấu tranh vì tự do dân chủ đất nước hiện nay, do đó, còn rất khó khăn, đôi gánh non sông còn rất nặng và hành trình tự do còn khá xa xôi. 
Sau 37 năm, "hàng triệu người buồn" như ông Võ Văn Kiệt nói, nếu chưa qua đời, hôm nay vẫn còn buồn. 
Gần mười năm trước tôi kết luận bài viết về ngày 30 tháng 4 bằng ba phân đoạn dưới đây và năm nay, tôi kết luận một lần nữa cũng bằng những dòng chữ đó để chứng minh một điều, tuổi trẻ của tôi có thể qua đi nhưng niềm tin vào tuổi trẻ trong tôi vẫn còn nguyên vẹn. 
Như lịch sử đã chứng minh, chính nghĩa bao giờ cũng thắng. Không có vũ khí nào mạnh hơn sức mạnh đoàn kết dân tộc. Chỉ có sức mạnh Đoàn Kết Dân Tộc, chúng ta mới có khả năng bảo vệ được chủ quyền và lãnh thổ Việt Nam, chỉ có sức mạnh Đoàn Kết Dân Tộc chúng ta mới có khả năng vượt lên những hệ lụy quá khứ để hướng vào tương lai tươi sáng cho đời đời con cháu mai sau và chỉ có sức mạnh Đoàn Kết Dân Tộc chúng ta mới có khả năng phục hồi sự kính trọng Việt Nam trong lân quốc cũng như trong bang giao quốc tế. 

Ngày 30 tháng 4, ngoài tất cả ý nghĩa mà chúng ta đã biết, còn là ngày để mỗi chúng ta nhìn lại chính mình, ngày để mỗi chúng ta tự hỏi mình đã làm gì cho đất nước, và đang đứng đâu trong cuộc vận hành của lịch sử hôm nay. Mỗi người Việt Nam có hoàn cảnh sống khác nhau, quá khứ khác nhau, tôn giáo khác nhau và mang trên thân thể những thương tích khác nhau, nhưng chỉ có một đất nước để cùng lo gánh vác. Đất nước phải vượt qua những hố thẳm đói nghèo lạc hậu và đi lên cùng nhân loại. Không ai có quyền bắt đất nước phải đau nỗi đau của mình hay bắt đất nước phải đi ngược chiều kim lịch sử như mình đang đi lùi dần vào quá khứ. Sức mạnh của dân tộc Việt Nam không nằm trong tay thiểu số lãnh đạo CSVN. Tương lai dân tộc không nằm trong tay thiểu số lãnh đạo CSVN. Sinh mệnh dân tộc Việt Nam do chính nhân dân Việt Nam quyết định. Và do đó, con đường để đến một điểm hẹn lịch sử huy hoàng cho con cháu, chính là con đường dân tộc và không có một con đường nào khác. 

Ba mươi bảy năm là một quảng đường dài. Chúng ta đã hơn một lần trễ hẹn với non sông, nhưng không phải vì thế mà không còn cơ hội. Cơ hội vẫn còn đó nếu chúng ta biết đoàn kết, thấy được hướng đi chung của dân tộc và thời đại. Chúng ta có nhiều quá khứ nhưng đất nước chỉ có một tương lai, đó là tương lai tự do, dân chủ, nhân bản và khai phóng cho những ai, sau những điêu tàn đổ vở, còn biết nhận ra nhau, còn biết yêu thương mảnh đất thiêng liêng, vinh quang và thống khổ Việt Nam. 

Trần Trung Đạo

RFA. Tù Ca Việt Nam & Thù thành bạn từ một bài ca

Nguồn RFA

2012-04-29

Cuộc chiến tại Việt Nam đã kết thúc tròn 37 năm. Quá khứ đã khép lại, tương lai đã mở ra. Dù là người miền Nam hay miền Bắc thì tất cả cũng đã là một thời của tiềm thức.

Photo courtesy of phanchautrinhdanang.com

Một trại giam tại miền Bắc (ảnh minh họa).

Nhân ngày 30/4, chương trình âm nhạc cuối tuần hôm nay, xin được điểm lại một số nhạc phẩm được sáng tác trong thời ly loạn và nhất là của những người nhạc sĩ đã từng bị cầm tù, đánh đổi một phần tuổi thanh xuân nơi trại cải tạo.

Lữ Khách

Quý vị vừa cùng nghe ca khúc Lữ Khách, thơ của Phạm Kim Khôi do nhạc sĩ Phạm Thiên Tứ phổ nhạc với tiếng hát Việt Tiến. 

tu-cai-tao-2-250.jpg
Binh sĩ VNCH trong trại tù cải tạo sau ngày 30.04.1975. Captured from youtube.
Trong số hàng trăm ca khúc được sáng tác trong trại tù sau ngày 30/4/1975, nổi bật và được nhiều người biết đến, có lẽ là Lữ Khách, Hai Hàng Cây So Đũa, Quê Hương Ba Vòng Ngục Tù, tháng Tư 29 ngày… Nội dung của những bài hát này không chỉ nói đến sự mất tự do, kìm kẹp, mang âm hưởng bi tráng, mà lời ca nghe ai oán, mong một ngày được giải thoát để chim về được với trời xanh.

Nhận xét về những ca khúc được sáng tác trong thời gian này, nhạc sĩ Trọng Minh chia sẻ:

"Thực sự đa số những người viết nhạc trong tù sau ngày 30/4/1975, trong đó có cá nhân tôi, chưa có xứng với danh xưng là nhạc sĩ, với kiến thức âm nhạc của chúng tôi có phần hạn chế, mà rất ít hoặc không có người nào trong số chúng tôi được đào luyện hoặc tốt nghiệp từ những trường dạy nhạc. Có chăng theo chỗ tôi biết thì có vài vị linh mục đã tốt nghiệp các nhạc viện mà thôi.

Xoay quanh những chủ đề đó, tác giả của tù khúc đã khẳng định sự bất phục tùng giai cấp thống trị mới, cho thấy tính kiên cường bất khuất của những chiến sĩ bất đắc dĩ bại trận, nhưng họ không cam lòng thua trận.

Nhạc sĩ Trọng Minh

Nói như vậy để thấy được việc hình thành dòng nhạc tù là vô cùng khó khăn, bởi vì đối với một người nhạc sĩ chuyên nghiệp sáng tác một khúc nhạc hay một bài ca thì không thấy trở ngại gì, nhưng đối với chúng tôi là những người không giỏi về chuyên môn, nên việc sáng tác ca khúc không phải dễ dàng. Thêm nữa, sáng tác lại không có đàn để tìm giọng hay định cao độ nốt nhạc thì thật gay go. Gay go nhất là làm thế nào để mình lưu giữ nó cho những lần sử dụng về sau. Bởi vì mình không thể ghi ra giấy được. Hình phạt cho những tác giả của tù ca là cùm, nghĩa là nhốt riêng ra và cùm chân, cùm là có thời hạn hoặc vô thời hạn, không biết ngày nào tha.

Các chủ đề tù khúc thể hiện là thân phận của người tù, tình cảm, trách nhiệm của người tù đối với gia đình, đối với quê hương, dân tộc. Xoay quanh những chủ đề đó, tác giả của tù khúc đã khẳng định sự bất phục tùng giai cấp thống trị mới, cho thấy tính kiên cường bất khuất của những chiến sĩ bất đắc dĩ bại trận, nhưng họ không cam lòng thua trận."

Hai Hàng Cây So Đũa

tu-cai-tao-250.jpg
Binh sĩ VNCH bị bắt đi cải tạo sau ngày 30 tháng 4, 1975. AFP photo.
Quý vị đang cùng nghe lại bài hát Hai Hàng Cây So Đũa. Tâm sự của người phổ nhạc cho bài thơ này, nhạc sĩ Trọng Minh một lần chia sẻ những ký ức một thời đã qua:

"Tôi nhớ lúc đó khoảng tháng 6 năm 1981, chúng tôi bị giam giữ tại Gia Rai, thị xã Xuân Lộc, tỉnh Long Khánh, chỗ đó là Z30A, vào một buổi trưa, chúng tôi được anh Nguyên Huy mời một party nhỏ, bởi vì hôm trước đó, anh được chị cùng 2 đứa con lên thăm có mang cho anh một chút quà bánh.

Trong câu chuyện anh có vẻ không vui, khi hỏi ra mới biết chị dẫn các cháu lên thăm anh lần cuối trước khi tìm đường vượt biên hy vọng đến được bến bờ tự do. Anh quá xúc động, nên đêm trước đó, anh làm bài thơ và đọc cho mọi người nghe, bài thơ cảm động và nói lên một phần nào tâm trạng của riêng tôi. Tôi yêu cầu anh chép cho tôi bài thơ đó, hy vọng là tôi có hứng thú để viết nên bài nhạc. Thật là may mắn tôi có đủ cảm xúc và hứng thú để hoàn thành bài nhạc trong 2 ngày sau đó. Lấy tựa đề là bài Hai Hàng Cây So Đũa vì 2 bên đường dẫn vào nhà thăm nuôi là 2 hàng cây so đũa.

Nội dung bài nhạc đó, nói lên tâm trạng của người vợ đưa con lên thăm chồng trong tù, để từ giã trước khi lên đường vượt biên. Trong nỗi hoang mang không biết có đi trót lọt hay không, gặp nguy hiểm gì hay không, không biết có còn gặp lại nhau hay không, đó là những tình cảm hoài nghi, quyến luyến giữa 2 vợ chồng. Điều đó làm tôi xúc động nên viết bài Hai Hàng Cây So Đũa này."

Chúa Nhật Của Người Tù

Nếu trong Hai Hàng Cây So Đũa, người nghe bắt gặp hình ảnh chia ly của những cặp vợ chồng vì thời thế mà phải chia xa, thì trong bản Chúa Nhật Của Người Tù, nhạc sĩ Trần Ngọc Phong lại khắc họa khá rõ nét cuộc sống của những người lính bại trận trong trại giam. Đó là chuỗi ngày mất tự do, lao động cực nhọc bất kể nắng mưa, họ mơ về một bữa ăn no và một quá khứ mơ mộng năm nào.

Tôi rất bâng khuâng về vấn đề đặt một ca khúc làm sao gói trọn chuyện tù đầy cực khổ của mình.

Nhạc sĩ Trần Ngọc Phong

"Tôi rất bâng khuâng về vấn đề đặt một ca khúc làm sao gói trọn chuyện tù đầy cực khổ của mình, thì thực sự tôi có so sánh một số người đặt tù khúc về những cực khổ thì nó dài lê thê, bố cục không gọn, cho nên tôi cứ bâng khuâng hoài không biết đặt làm sao để tròn một ca khúc tiêu biểu.

Tôi nghĩ về văn học, tôi nghĩ đến Alexander Solzhenitsyn thì tôi thấy ông ta có một tác phẩm One Day in the Life of Ivan Denisovich. Tôi thấy rằng ông này bị tù trong trại tập trung của Liên Xô, ông diễn tả được chuyện chỉ một ngày trong nhà tù thôi. Tôi sực nhớ, liên tưởng đến tù của tôi, nên tôi nghĩ, mình trọn một ngày thôi, mà ngày nào bây giờ. Mình tin tưởng vào Chúa, mình cực khổ quá mà cũng chẳng thấy chúa giơ tay ban giúp gì mình, cho nên tôi mới đặt trọn Chúa Nhật Của Người Tù."


========================

Nguồn RFA

Thù thành bạn từ một bài ca


2012-04-30

Sau 30 tháng 4, chiến tranh VN không chỉ để lại nhiều mất mát, đổ vỡ mà đôi khi cũng có những mối tình đã đứng lên từ những đổ vỡ ấy.

Photo courtesy of wikipedia

Binh sĩ miền Nam VNCH trong thành phố Quảng Trị và tại vùng phụ cận năm 1972.

Tường An kể lại một trường hợp ngẫu nhiên, từ một bài hát đã biến hai người đã từng kẻ thù của nhau, trở thành hai người bạn thân thiết. Một bài báo của Đức cũng đã viết về tình bạn này dưới tựa đề « Von feinden zu Freunden. Eine deutsch-vietnamesische Spurensuch" tạm dịch "Từ thù thành bạn. Đi tìm một chứng tích Đức-Việt". Đó là câu chuyện của hai anh Lê Nam Sơn và anh Phạm văn Mài. 

Ở hai đầu chiến tuyến

Mỗi năm, đến ngày 30 tháng 4, cuộc chiến tranh Việt Nam vẫn được kể lại bằng những xúc động vẫn còn nóng bỏng của những người ở bên hai bờ chiến tuyến. 37 năm trôi qua, đất nước có thể đã thống nhất nhưng lòng người vẫn còn biên giới, vết thương 30 tháng 4 với nhiều người tưởng chừng như không thể hàn gắn được. 

Thế nhưng, thế giới không có quy luật cho lòng người. Vẫn có một chỗ đứng cho tình yêu thương, vẫn có nơi mà những mất mát có thể hàn gắn được. 
Đó là một buổi chiều của năm 1994, trong một hội trường nhỏ bé của thành phố Hannover, Đức quốc khi một người đàn ông với giọng Bắc Hà Nội ôm đàn cất tiếng hát bản « Những ngày xưa thân ái » , khởi đầu cho một tình bạn của hai người đã từng là kẻ thù, đã từng cầm súng bắn vào nhau trên cùng một trận địa ở Cổ Thành Quảng Trị.

Anh Lê Nam Sơn, gia nhập quân lực VNCH tháng 4 năm 1968, anh đã phục vụ trong tiểu đoàn pháo binh, lữ đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến của quân lực VNCH với chức vụ cuối cùng là thiếu úy. Hồi tưởng lại những ngày cuối cùng của cuộc chiến, anh Sơn cho biết :

"Đơn vị tôi là đơn vị cuối cùng rút ra khỏi Quảng Trị, tới Thuận An thì bị kẹt lại, nhưng tôi lại được lên tàu đi đến Đà Nẵng, ở Đà Nẵng tôi được lệnh tái trang bị lại, vừa mới được lệnh đó thì lại có lệnh phải bỏ Đà Nẵng. Với đoàn tàu của Thủy quân Lục chiến tôi mới đi vào Nam, vào đến Cam ranh thì có lệnh tái trang bị, nhưng cuối cùng rồi lại có lệnh bỏ Cam ranh về tới Vũng tàu, sau đó thì đơn vị tôi rã hàng khi ông Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng."

Anh Phạm văn Mài, gia nhập bộ đội năm 1972, thuộc đơn vị trinh sát, trung đoàn 66, sư đoàn 304 với chức vụ cuối cùng là trung sĩ. Anh Mài cho biết về những ngày cuối tháng tư của năm 1975 :

"Ngày 30/4/1975 đơn vị chúng tôi đã tiến vào dinh Độc Lập, đi sau những xe tăng của lữ đoàn 203. Anh Phạm Xuân Thệ, trung đoàn phó của trung đoàn 66 của chúng tôi đã vào và tiếp nhận sự đầu hàng của ông Dương văn Minh. Tôi không có mặt ở dinh Độc lập, chúng tôi đến gần dinh Độc lập. Dinh Độc Lập xong rồi, chúng tôi đi thẳng ra đài phát thanh, lúc bấy giờ ông Thệ dẫn ông Dương Văn Minh ra để đọc lời đầu hàng."

Âm nhạc có sức mạnh vô biên của nó. Nếu những bản nhạc Anh là ai, Việt Nam tôi đâu…của Việt Khang đã đem người Việt trong và ngoài nước đến gần nhau thì bản nhạc « Những ngày xưa thân ái » cũng đã xóa đi được ranh giới giữa hai kẻ thù đã từng cầm súng bắn vào nhau. Có một định mệnh nào đó giữa bản nhạc này và những người yêu thích nó. 

Nếu nhà thơ Phạm Hổ, đồng sáng lập Hội Nhà Văn miền Bắc và nhà xuất bản Kim Đồng đã sáng tác bài thơ « Những ngày xưa thân ái » với những ý tưởng sắt máu, đầy ngập hận thù, thì em ông, nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ, một nhà giáo của VNCH đã biến bài thơ này thành một thông điệp đầy tính nhân bản, đầy lòng yêu thương qua hình ảnh của tình bạn, tình yêu quê hương bên lũy tre làng của thời thơ ấu. 

Khởi đầu một tình bạn

quangtri-worldpress-200.jpg
Cổ Thành Quảng Trị. Photo courtesy of wikipedia
Anh Nam Sơn nhớ lại lần đầu tiên nhìn người đàn ông với dáng dấp nửa chân quê, nửa phố thị ấy cầm đàn hát lên bản nhạc mà chính anh cũng yêu thích :

"Sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ, thỉnh thoảng trung tâm VN Hannover tổ chức những buổi văn nghệ với chủ đề « Xa quê hương nhưng không quên tổ quốc lầm than » trong những đêm văn nghệ chủ đề đó thì có sự hiện diện của các anh em bên Đông Đức, trong đó có anh Phạm văn Mài, và anh Mài với cây đàn guitar và anh xin hát nhạc phẩm « Những ngày xưa thân ái » .

Tôi rất ngạc nhiên vì anh Mài là lính miền Bắc mà ảnh biết nhạc phẩm này vì thế tôi chú ý đến ảnh. Trong lúc anh Mài hát thì ảnh giới thiệu tiểu sử của ảnh là ảnh đã tham dự trận đánh Cổ thành Quảng trị 1972, đơn vị Thủy quân lục chiến của tôi cũng tham dự cuộc chiến ở Cổ thành Quảng trị năm 1972. Anh Mài và tôi đều tham gia một chiến trường ở hai đầu chiến tuyến khác nhau, lúc đó chúng tôi đã nhìn nhau bằng mắt lửa hận thù, chúng tôi xử sự với nhau bằng lưỡi lê, súng đạn và bây giờ thì chúng tôi gặp nhau trên đất nước Đức này. 

Sau khi tôi đã tìm hiểu Mài thì chúng tôi thấy rằng chúng tôi có chung 1 cái quá khứ, anh Mài tuy rằng ở phía bên kia chiến tuyến nhưng cuối cùng thì chúng tôi cả hai do một tình cờ lịch sử mà gặp nhau ở trên 1 nước tự do này và chúng tôi đều là nạn nhân của một cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, do vậy chúng tôi đã kết bạn với nhau kể từ đó."

Chúng tôi có chung 1 cái quá khứ, do một tình cờ lịch sử mà gặp nhau ở trên 1 nước tự do này và chúng tôi đều là nạn nhân của một cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, do vậy chúng tôi đã kết bạn với nhau kể từ đó.

Anh Lê Nam Sơn

Dĩ nhiên, không phải con đường đến với nhau nào cũng đơn giản khi mà sự mất mát đã quá nhiều, hơn 30 năm sau cuộc chiến, lòng người vẫn còn ngổn ngang bao nỗi, không phải ai cũng dễ dàng chấp nhận một sự bắt tay giữa hai bờ chiến tuyến dù rằng ranh giới ý thức hệ ấy nay đã không còn. Nhưng những ám ảnh về quá khứ không còn là rào cản đối với anh Sơn và sự phê phán của cộng đồng chung quanh – nếu có- cũng không làm anh sợ :

"Nếu trong nước thì cái đó có thể làm cho tôi sợ, nhưng mà khi tôi đã sống trên đất nước tự do này thì quá khứ đó không còn ám ảnh tôi nữa. Tôi xem anh Mài và tôi đều là nạn nhân của một ý thức hệ. Tôi không có gì là sợ sệt khi kết thân với anh Mài và sự kết thân đó cũng không ảnh hưởng gì đến cái cộng đồng bảo rằng tôi là lính VNCH lại kết thân với môt anh bộ đội Bắc việt, tôi có cái quan điểm rõ ràng như vậy : tôi là người đấu tranh ôn hòa, không dùng bạo lực và cũng không có ý nghĩ căm thù." 

Nạn nhân của cuộc chiến

bodoiqtri-wiki-200.jpg
Bộ đội Việt Nam tại cổ thành Quảng Trị mùa hè 1972, ảnh minh họa. Photo vourtesy of wikipedia
Một bên là sĩ quan Thủy quân lục chiến, đội quân được từng coi là một trong hai thanh kiếm báu của QLVNCH, một bên là bộ đội phục vụ cho sư đoàn 304, quả đấm thép của quân đội Nhân dân miền Bắc. Hai bên đã từng chiến đấu kinh hoàng để chiếm bằng được Cổ thành Quảng trị, dù lúc đó chỉ còn là đống gạch đổ nát. Hai người lính năm xưa, giờ sống sót trở về và gặp nhau trên nước Đức thống nhất, họ đã tìm lại được tình anh em của Mẹ VN mà chiến tranh đã chia đôi, anh Mài tâm sự :

"Sau ngày 30/4/75 thì tôi đã có đủ góc độ để tôi nhìn lại cuộc chiến ấy và tôi nhận ra rằng ngày trước anh Sơn và tôi cũng đã gặp nhau trên một chiến trường, chúng tôi đã nói chuyện với nhau bằng súng, bằng đạn, bằng vũ khí. Nhưng mà đến bây giờ chúng tôi coi nhau như là những người anh em. Chúng tôi coi cuộc gặp gỡ này là sự tìm lại của những người anh em của cùng một Mẹ VN cả. Ngày trước, chúng tôi nói chuyện với nhau bằng súng đạn, bây giờ chúng tôi nghĩ rằng chúng ta nên xóa bỏ sự hận thù ấy đi, mình nhìn nhau như những người anh em tìm lại nhau, vì vậy chúng tôi kết bạn với nhau, trong lòng rất là thoải mái."

Anh Sơn gửi gấm tâm sự qua một bài anh viết về tình bạn của họ : « chúng tôi nhắc lại chiến trường xưa như nhắc lại một chứng tích của những cuồng ngông đầy máu và nước mắt. Là nạn nhân, chúng tôi thấm thía được cái giá phải trả của chiến tranh và lòng thù hận » Riêng anh Mài bày tỏ :

"Ngày 30/4/1975, cách nay đã 37 năm rồi, nhưng cho đến bây giờ đến ngày 30/4 tôi lại nhớ lại khung cảnh lúc đó, chúng tôi rất vui mừng vì cuộc chiến tranh mấy chục năm trời đã kết thúc, xương máu của anh em đồng đội chúng tôi không phải đổ ra nữa, chúng tôi lại được trở về với gia đình, tiếp tục làm những công việc dang dở của mình. 

Rõ ràng trong niềm hân hoan ấy, chúng tôi cũng nghĩ chúng tôi là người chiến thắng. Nhưng cho đến bây giờ, chúng tôi đã có 1 thời gian dài để chúng tôi thấy rằng sự chiến thắng ấy thật là bẽ bàng. 

Hàng triệu người đã đổ xương, đổ máu để góp phần xây dựng chính quyền, thế nhưng chúng ta đều thấy chính quyền bây giờ không mang lại những điều tốt đẹp cho đất nước VN. Người dân VN vẫn còn phải gánh chịu bao nhiêu nỗi bất công trên đất nước của mình, tôi thấy thật là mỉa mai khi cho rằng chúng tôi là người chiến thắng. Cũng cần phải nói một cách chính xác là trong ngày 30/4 không có ai thắng, ai bại mà chúng tôi chỉ là những nạn nhân mà thôi."

Hơn 30 năm chưa từng trở về lại quê hương dù lòng còn trĩu nặng yêu thương cây dừa bên quán nước làng, anh Lê Nam Sơn vẫn canh cánh bên lòng một niềm hối tiếc :

"Tôi muốn nói với các bạn trẻ, nhất là các bạn trẻ đang đấu tranh cho Dân chủ trong nước, vì tôi là một người lính mang trọng trách giữ gìn bình an cho phần miền Nam tự do còn lại của mình nhưng chúng tôi đã làm không được. Thậm chí còn giao lại cho thế hệ trẻ một thế hệ tồi và dở để thế hệ đàn em chúng tôi phải long đong mà đấu tranh cho Dân chủ của đất nước. Đây là lời tâm ý của tôi."

Cũng cần phải nói một cách chính xác là trong ngày 30/4 không có ai thắng, ai bại mà chúng tôi chỉ là những nạn nhân mà thôi.

Anh Phạm văn Mài

Lần đầu tiên trở về quê hương sau hơn 20 năm xa cách, tại Nội Bài, anh Phạm văn Mài đã bị từ chối cho nhập cảnh. Quê hương của anh với những người chủ mới đã không còn là một quê hương mà thuở nào anh đã yêu thương với một tình yêu cháy bỏng như khi anh nhặt được bài hát nói lên được tâm trạng anh trên Cổ thành Quảng trị:

"Khi mà vào trong Quảng trị thì tôi có nhặt được bản nhạc « Những ngày xưa thân ái », khi mà nhặt được thì tôi rất thích và hát nhưng mà chỉ được hát vụng trộm thôi, tôi có hát cho anh em nghe, và có một số đồng đội rất là thích và anh em chúng tôi rủ nhau ra một góc khuất nào đấy, một góc rừng nào đấy rồi chúng tôi hát cho nhau nghe thôi, chứ còn bài hát này thì bị cấm không được hát trong đơn vị đâu."

Bản nhạc ngày xưa anh Mài phải hát trong sợ hãi, lén lút. Hôm nay đã được hai anh Sơn- Mài cầm đàn hát khắp Âu châu như rao giảng tiếng nói của lòng bao dung, sự vị tha trong căn cước nhân bản của mỗi con người.