Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2012

Trà tối - links tin eimd 1/6/2012

Chép lại từ https://twitter.com/eimd - 1/6/2012 (theo dõi cập nhật liên tục trong ngày ở twitter)


RFA. Nợ của doanh nghiệp nhà nước đầy rủi ro http://bit.ly/KQqFXL
4m 

THẺ ĐẢNG "CẮM" ĐƯỢC BI NHIÊU TIỀN ? http://bit.ly/L2V2c5 (tranhung09)
7m 

Nguyễn Thái Linh – Tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa và luật pháp quốc tế (Kỳ I)http://bit.ly/JWSkVV (danluan)
7m 

Lãnh đạo thời nay nó thế! http://bit.ly/LRFOd9 (dongngan)
11m 

Vụ Đan Mạch ngừng ba dự án ODA: Các bên nói gì? http://bit.ly/LREZRz (vneconomy)
39m 

Tản mạn từ bữa ăn cho trẻ đến chuyện "ăn" của các "ông lớn" http://bit.ly/JWNpnT (nguoilotgach)
39m 

Toàn cảnh kinh tế-tài chính 1-6-2012 http://bit.ly/Jy7S0M (nguoilotgach)
40m 

GDVN. Báo Phụ nữ TP.HCM: Ai lá cải? Ai đơm đặt? Ai dựng chuyện? http://bit.ly/L2qvtg
47m 

Hà Nội: Cháy rụi siêu thị Bibomart http://bit.ly/Nnv1Xh (tuoitre)
48m 

Nguyễn Khắp Nơi : "Việt Cộng con" http://bit.ly/M67Lxl (danchimviet)
50m 

Báo chí & cuộc chiến "lá cải" http://bit.ly/KDmAIr (truongduynhat)
50m 

Trần Khải Thanh Thủy : Gửi mẹ http://bit.ly/JWLDmO (danchimviet)
52m 

Lê Hải Lăng (Danlambao) - Hiện tượng http://bit.ly/KDoRTQ
53m 

Nguyễn Văn Thạnh (Danlambao) - Lực đẩy và lực kéo (Viết tiếp bài: Con người và những qui luật tự nhiên) http://bit.ly/MefMTR
54m 

Sông Tiền (Danlambao) - Thấy gì trong đơn tố cáo của bà Nông Thị Bích Liên?http://bit.ly/JWLb89
1h 

GỬI LÃNH ĐẠO http://bit.ly/Jy5irG (sonthithu)
1h 

kami. Từ giải tỏa, cưỡng chế đến ăn cướp đất http://bit.ly/JWIcfY (rfablog)
1h 

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến : Bạo Lực http://bit.ly/NnoQT6 (rfablog)
1h 

Người Buôn Gió : chúc mừng sinh nhật luật sư Dương Hà http://bit.ly/Kl0MSL
1h 

Tin Khẩn (cụ Lê Hiền Đức bị bảo vệ Sở Văn Hóa Thông Tin TP hành xử côn đồ khiến cụ bị trật khớp tay!) http://bit.ly/KPMk2x
1h 

Bùi Thị Minh Hằng : Thư ngỏ gửi UBND phường 4 Vũng Tàu (vẫn chưa có trả lời dù đã có yêu cầu từ UBND TPVT) http://bit.ly/KPLB1r
6h 

sgtt. Lạc quan trong tầm nhìn dài hạn http://bit.ly/JD3Bho
6h 

Luât gia Trần Đình Thu : CẦN HỦY BỎ VIỆC "PHỤC HỒI NHÂN PHẨM" ĐỐI VỚI PHỤ NỮ BÁN HOAhttp://bit.ly/L7oQZ3 (huynhgocchenh)
6h 

BBC. Việt Nam diễn tập bắn đạn thật trên biển http://bbc.in/N2AOEd
6h 

Asia Times. Chuyện làm ăn quan trọng hơn nhân quyền ở Đông Nam Á http://bit.ly/L7lkxZ(anhbasam)
7h 

Chùm tin v/v thuyên chuyển công tác của Ông Dương Chí Dũng- điển hình của thương vụ "mua quan bán chức" cấp cao ? http://bit.ly/KhdKSc
7h 

Những "quái chiêu" thu hồi đất: Triệt đường, Đánh tỉa, Đánh úp, Đánh hội đồng…http://bit.ly/KhdsdZ (tranhung09)
7h 

Mạnh Quân : Mr # với lời thanh minh quá muộn mằn... http://bit.ly/N2wTr0
7h 

hêm 2 Thanh Niên Công Giáo Được Gặp Gia Đình - Công An Hỏi Thêm Về "Bí Tích Giao Hòa"http://bit.ly/M494Nh (thanhnienconggiao)
7h 

Hạ lãi suất, ngân hàng mời DN chưa dám vay http://bit.ly/KPC6z5 (tamnhin)
7h 

Siết chặt quản lý thuê bao trả trước từ hôm nay http://bit.ly/KwlrSk (tamnhin)
7h 

dudoankinhte - Điểm báo 1.6.2012 http://bit.ly/Nmj6ZV
7h 

Đặng Mỹ Dung - Yung Krall (VRNs) – Thân phận người con gái của Cần Thơ http://bit.ly/K1bOH8(danlambao)
7h 

Bác Thanh (Đà Nẵng) lại... nổ! http://bit.ly/KODYse (danlambao)
7h 

Chuyện "lạ" khi Ngài Bộ trưởng Bộ GTVT bổ nhiệm cán bộ để giải quyết mâu thuẫn nội bộ tại Vinalines ? http://bit.ly/Khak1H (danlambao)
7h 

TS. Nguyễn Sĩ Dũng : THÔNG ĐIỆP TỪ QUỐC HỘI http://bit.ly/Nmenaz (faxuca)
7h 

Mẹ Nấm : Viết cho con nhân ngày Quốc tế thiếu nhi. http://bit.ly/M41gLp
7h 

Bộ trưởng Thăng nói hay hè?! http://bit.ly/L1tWk2 (culangcat)
7h 

nld. Giải trình việc bổ nhiệm ông Dương Chí Dũng: Không thuyết phục! http://bit.ly/KwgdWN(culangacat)
7h 

GDVN. Báo TQ đăng ảnh hoạt động của quân TQ đồn trú trái phép tại Trường Sahttp://bit.ly/JQC7WZ (culangcat)
8h 

Tháo lồng cho hòn đá bị giam http://bit.ly/L26RPQ (culangcat)
8h 

Vụ tranh chấp di sản "1000 tỉ" đồng: Tài sản tích tụ từ bún và bất động sản http://bit.ly/L7dqEP(culangcat)
8h 

"Đập tràn" giữa lòng thủ đô http://bit.ly/N2oC6b (tuoitre)
8h 

Nghịch lý vụ bà già phải nhập viên vì 2 quả xoài http://bit.ly/JQAPve (tamnhin)
8h 

Nghệ An: Viết tiếp bài "Uẩn khúc" trong quy trình bổ nhiệm cán bộ" http://bit.ly/Nm6fqE (tamnhin)
8h 

Lúc bổ nhiệm chưa nghe "mùi khét" http://bit.ly/Lk19JF (tuoitre)
8h 

Không thể có sự canh tân mà lại chà đạp luật luân lý (Phỏng vấn Đức TGM Angelo Becciu, Phụ tá Quốc vụ khanh Tòa Thánh) http://bit.ly/L78OOT
8h 

Đoàn Thanh Liêm - Và tôi đã khóc tại vườn Lukxemburg ở Paris http://bit.ly/JxuZIY (danchimviet)
8h 

Bùi Tín (VOA) - "Thủ Tiêu" : cuốn sách gây kinh hoàng http://bit.ly/KOo54T (danchimviet)
8h 

Bộ Ngoại giao Ba Lan lưu ý "búa liềm" trong Euro 2012 http://bit.ly/L78tf8 (danchimviet)
8h 

Quân đội Nhân dân giảng bài cưỡng chế.... http://bit.ly/Kh1mSb (danlambao)
8h 

Phạm Trần - Tái cơ cấu để nuôi tham nhũng? http://bit.ly/KOmU5F (danlambao)
8h 

bee. Bảo vệ dân phố bị tố đánh chết người http://bit.ly/NlXWeh (danlambao)
8h 

Tài liệu đặc biệt: Nội dung giao thiệp của Bộ ngoại giao TQ ngày 19.4.2012 với Đại sứ VN tại Bắc Kinh http://bit.ly/Kh0VY1 (danlambao)
9h 

Khải hoàn môn cưỡng chế Cái Răng http://bit.ly/LPWySe - Biếm họa HatKa (Danlambao)
9h 

Hoàng Thanh Trúc (Danlambao) - Trường Sa... là sa trường!? http://bit.ly/Kw9Gvb
9h 

Li Ming (bạn đọc Danlambao TrTh dịch) - Phân tích tà thuyết Marxist của đảng Cộng sản Trung Quốc http://bit.ly/KPmFXC
9h 

Lê Dủ Chân (Bạn đọc Danlambao) Dân Làm Báo - Bạn "Còm" và tôi http://bit.ly/L77qMo
9h 

David Thiên Ngọc (Danlambao) - "Cứu" và "Đau" http://bit.ly/L1fngs
9h 

Tại sao đến bây giờ mới khẩn!? (người Trung Quốc "đóng bè" trên vịnh Cam Ranh)http://bit.ly/JQpaMO (danlambao)
9h 

Đào Tuấn : Quyền làm súc vật của con bò, quyền làm người của Cao Thái Sơn http://bit.ly/M3qTfu
9h 

Một người Việt bị bắt tại Mozambique vì buôn lậu sừng tê giác http://bit.ly/NlOh7M (thuymyrfi)
9h 

RFA. Đan Mạch hủy ba dự án viện trợ cho Việt Nam vì lý do gian lận và tham nhũnghttp://bit.ly/JQoS8L
9h 

RFA. Nam Sinh Lớp Tám Tự Vận Động Vào Chương Trình Xuất Sắc Đặc Biệt Tại Đại Học Nữhttp://bit.ly/L71NOj
9h 

TRUYỆN NGẮN NGUYỄN KHẮP NƠI : MỢ TÔI http://bit.ly/KPeJ8G (sonthithu)
9h 

LÃO HỦ * CHUYỆN QUÊ NHÀ http://bit.ly/NlNELj (sonthithu)
9h 

VẠN MỘC CƯ SĨ * THƠ SỰ ĐỜI I http://bit.ly/Mdlqpk (sonthithu)
10h 

NHỤC THÂN BẤT HOẠI http://bit.ly/KObjn4 (sonthithu)
10h 

Song Chi. Một môi trường báo chí đang bị vẩn đục http://bit.ly/JQnnav (rfablog)
10h 

Nguyễn Thế Thịnh - Quan tự đục đáy thuyền http://bit.ly/KgSWtY (quechoa)
10h 

Phạm Viết Đào. BÁO ĐỘNG ĐỎ VỀ CÁI QUY TRÌNH SẢN SINH RA LOẠI QUAN CHỨC NHƯ DƯƠNG CHÍ DŨNG http://bit.ly/KPcemP
10h 

TN. YÊU CẦU BÁO CÁO KHẨN VỀ VỤ NGƯỜI TQ NUÔI CÁ TRÊN VỊNH CAM RANHhttp://bit.ly/N2bKx6 (xuandienhannom)
10h 

NGUYỄN THÁI SƠN : Hãy tin ở hoa anh đào http://bit.ly/L6ZESz (nguyentuongthuy)
10h 

NGUYỄN TƯỜNG THỤY - Tiễn Tễu đi "họp" http://bit.ly/KgSjAB
10h 

VIỆT NAM VÔ ĐỊCH http://bit.ly/K0SF8a (Văn Công Hùng)
10h 

Phan Tất – Pháp luật ở xứ Thiên đường http://bit.ly/JViw3l (danluan)
10h 

gocomay – Cha đời con đĩ cầu Nôm http://bit.ly/NlHDOK
10h 

PHONG THỦY http://bit.ly/N29iXt (dongngan)
10h 

Tống Văn Công (viet-studies) - Cả nước vì ngư dân! http://bit.ly/KO3pdm (BVN)
11h 

BBC. 'VN cần nghiêm túc về nhân quyền' http://bbc.in/NlsKvZ
11h 

BBC. Giảm án cho 'cộng sự của Cha Lý' http://bbc.in/KvSMNp
11h 

BBC. Fitch lại cảnh báo về Hoàng Anh Gia Lai http://bbc.in/N202CF
11h 

TTXVN. THẾ TIẾN THOÁI LƯỠNG NAN "KẺ THẮNG, NGƯỜI THUA" CỦA CHÂU ÂUhttp://bit.ly/LjHlpv (anhbasam)
11h 

TTXVN. NHÂN TỐ TRUNG QUỐC VÀ ASEAN TRONG CẢI CÁCH TẠI MIANMA http://bit.ly/N1ZVHh(anhbasam)
11h 

Tin thứ Sáu, 01-06-2012 http://bit.ly/LPrfHb (anhbasam)
11h 

Bùi Hằng phát biểu tại khu phố http://bit.ly/Nls6OM (danoanbuihang)
20h 

Huỳnh Thục Vy - Tại sao là Miến Điện mà không phải Việt Nam? http://bit.ly/KLTJjm (danlambao)
20h 

Bùi Thị Minh Hằng : Cuộc gặp gỡ đầy cảm động và bất ngờ http://bit.ly/KLTrZO
20h 

RFI. NHẬT BẢN - CHÂU ÂU: Khởi động lò hạt nhân hay không, thủ tướng Nhật bị dồn vào chân tường http://rfi.my/KZCLeg
20h 

RFI. TRUNG QUỐC - NHÂN QUYỀN: Trung Quốc gia tăng đàn áp ly khai trước kỷ niệm biến cố Thiên An Môn http://rfi.my/KZC6cz
20h 

Thư gửi bạn nhân 1-6 http://bit.ly/L9g7T0 (hieuminh)
20h 

Người Miền Trung (Danlambao) - Một thoáng Pleiku qua ảnh http://bit.ly/MbPim2
21h 


Đoan Trang : VÀ QUYỀN LỰC THỨ TƯ (phần 6): NGƯỜI HÀ NỘI

Nguồn haydanhthoigian

NGƯỜI HÀ NỘI

Hà Nội đáng yêu, đáng giận, đáng thương

Tôi vừa trở về Hà Nội sau một đợt công tác tại Tp.HCM. Như mọi cuộc đi và về khác, chuyến công tác này cũng để lại trong tôi nhiều cảm xúc cả vui và buồn.

Phần lớn là niềm vui, vì những tấm lòng bạn bè miền Nam cởi mở, chân thành, tự nhiên – lẽ ra phải nói là "tự nhiên như người Sài Gòn" mới đúng. Chẳng mấy khi ở Hà Nội mà tôi có thể nắm tay các bạn nhảy múa, có thể hô một tiếng "nhậu đi" rồi kéo nhau ra bờ kè, tức kênh Nhiêu Lộc, ăn uống và đàn hát trắng đêm.

Chẳng mấy khi ở Hà Nội tôi có thể điềm nhiên bước vào một nhà hàng hay quán nước, ngồi vắt chân và chờ cô hay cậu bồi bàn tiến lại, lễ độ: "Dạ, chị dùng gì?". Tôi sẽ trả lời ngắn gọn và chờ được phục vụ rất nhanh chóng sau đó, gọn gàng, khẽ khàng, không xủng xoẻng như thể sắp làm vỡ ráo cả mớ chén bát, ly cốc. Tôi cũng sẽ không phải nhìn những bộ mặt lạnh băng, và nhất là không bị người phục vụ "khuyến mãi" cho một ngón tay cái ngập vào bát nếu như tôi có lỡ gọi món phở.

Sài Gòn rộng thênh thang, nhiều hàng quán, nhiều đồ nhậu ngon rẻ và nhiều chỗ vui chơi mở cửa tới khuya. Nói chung ở đó, một "người Hà Nội khắc khổ" là tôi có cảm giác được hưởng thụ hơn một chút.

Nhưng sau những niềm vui, cũng đọng lại cả nỗi buồn. Một nỗi buồn, như dân teen bây giờ hay nói, "rất chi là bao đồng".

Người Hà Nội xấu xí

Nỗi buồn ấy thực chất là cảm giác tủi thân và xót xa khi thấy nhiều người Sài Gòn không ưa Hà Nội đến thế. Điều này được thể hiện một cách không giấu giếm, qua những lời bình phẩm, qua thái độ – vốn chân thật – của người Sài Gòn. Dân Sài Gòn, cụ thể là nhiều người tôi đã gặp, nghĩ về Hà Nội như một cái gì rất thủ cựu, lạc hậu, chậm tiến, đã thế lại còn kênh kiệu, tự cho mình là thủ đô thanh lịch, tóm lại là tệ hại.

Câu cửa miệng là "dịch vụ ngoài đó chán lắm phải không?", "ngoài đó lừa đảo nhiều lắm phải không?". Có lần, ở một quán nước trong Tp.HCM, khi chúng tôi muốn rời từ bàn này sang bàn khác, bạn tôi ngoắc người phục vụ, ra hiệu "chuyển bàn giùm". Sau khi chúng tôi đã yên vị ở chỗ ngồi mới, bạn hỏi tôi: "ở ngoải chắc phục vụ không kê bàn ghế cho khách đâu hả, mình phải tự làm hả?". ấn tượng về "phở quát, cháo chửi" in vào tâm trí các bạn quá sâu nặng rồi.

Ăn một món gì đó, tôi cũng có thể được nghe giới thiệu: "ở ngoài Hà Nội không có cái này đâu nha".

Thời gian gần đây, gây mất thiện cảm nhất cho người Sài Gòn có lẽ chính là… chiến dịch mừng Đại lễ 1000 năm của Hà Nội. Một chiến dịch gắn với đủ loại bê bối: sơn vàng phố cổ, lát ngói xanh vỉa hè, bươi nát vỉa hè. Hà Nội nghìn năm thành đại công trường khói và bụi. rồi mùa hè đổ lửa với 45 độ ngoài trời tháng sáu, cúp điện World Cup, ngập lụt mưa tháng bảy. Thủ đô gì mà mưa xuống một tí, ba người chết vì điện giật, một người bị rắn cắn. rồi hàng tỷ đồng xây cổng chào, làm phim Lý Công uẩn "lai Tàu". Vân vân, vân vân. Động vào đâu cũng nghe và thấy bê bối, lãng phí, thẩm mỹ kệch cỡm, văn hóa lùn. Một không khí "nhốn nháo kỷ niệm nghìn năm Thăng Long – Hà Nội".

Hình ảnh Hà Nội trong mắt người dân Tp.HCM giờ đây có lẽ hỏng mất rồi.

Đáng thương hơn đáng giận

Tôi buồn, vì ngay trước mặt tôi, các bạn miền Nam của tôi thể hiện suy nghĩ và nói về Hà Nội tiêu cực như thế. Một Hà Nội thủ đô thủ cựu, lạc hậu, xấu xí. Khi nghĩ vậy về Hà Nội, Sài Gòn – Tp.HCM cũng mặc nhiên nhận về mình những gì là tiến bộ, văn minh, đẹp đẽ.

Nỗi buồn sở dĩ mang màu sắc "bao đồng" bởi tôi không muốn thấy trong cùng một đất nước, người dân hai miền – mà là hai thành phố thuộc hàng hiện đại nhất nước – mãi giữ những ấn tượng không tốt đẹp về nhau.

Đến bao giờ người Việt Nam mới biết đoàn kết, thương yêu nhau?

Hà Nội có thực tệ hại? Đặt sang một bên tình cảm gắn bó với nơi mình sinh ra và lớn lên, tôi phải trả lời thành thực rằng: Có, Hà Nội khá tệ hại, càng tệ hại hơn khi đó là một thủ đô, được kỳ vọng là nơi thanh lịch nhất, nơi hội tụ và kết tinh nền văn hóa của cả một đất nước có chiều dài 4000 năm lịch sử. Có thể không tới con số 4000, nhưng thủ đô của một quốc gia thì rõ ràng phải là bộ mặt đại diện cho văn hóa của xứ sở. Nhưng Hà Nội, ngoại trừ một vài tuyến phố "linh thiêng", bẩn quá, bụi quá, lắm rác quá.

Những người chúng ta gặp trên phố phần đông là thô lỗ, ích kỷ, hiếu chiến. Họ có thể vượt đèn đỏ vì không chờ nổi vài chục giây ở ngã tư, phóng long tóc gáy, như thể đang bận rộn lắm, hối hả lắm, thế rồi nhác thấy một tai nạn giao thông thì dừng lại xem, mất toi 45 phút. Họ sẵn sàng tranh cướp nhau từng mét đường mỗi lúc kẹt xe, và rất nhiệt tình ném vào mặt nhau những lời tục tĩu nhất. Có thể không ít trong số họ là người có học, nhưng không hiểu sao cứ hễ ra ngoài đường là cái tinh túy của Chí phèo lại phát tác.

Có lẽ do hoàn cảnh. Chiếc áo không làm nên thầy tu, nhưng con đường làm nên tính cách người đi đường. Bụi thế, chật chội thế, ồn ào thế, một năm mấy tháng trời nóng thế, lại thêm cuộc sống vội vàng gấp rút, người ta hòa nhã với nhau làm sao được.

Đã từng có thời

Chắc là do hoàn cảnh. Bởi, điều làm tôi băn khoăn về tính cách Hà Nội, là hình như đã từng có thời người Hà Nội không thô lỗ, hung bạo. Không lẽ câu "chẳng thơm cũng thể hoa nhài/ dẫu không thanh lịch cũng người Tràng an" là một câu ca dao không có chút cơ sở thực tế nào?

Ông tôi, cụ giáo trường Hàng Kèn năm xưa, sinh thời từng thủ thỉ với tôi rằng: "Trước năm 1954, trẻ con Hà Nội không biết chửi bậy". Chẳng biết trí nhớ của ông có ghi nhận đúng đặc điểm đó của trẻ con thủ đô không, nhưng bản thân ông thì đúng là không biết nói tục, không văng bậy được dù chỉ một từ. Đi trên phố, mỗi lần thấy đám tang qua, ông lại dừng bước, cung kính ngả mũ chào người vừa qua đời. Không bao giờ ông nói nặng với ai một câu. Ngay với đám cháu lít nhít nội ngoại, có sai các cháu làm gì, ông cũng dùng lời lẽ hết sức lịch thiệp: "Nếu có thể, cháu giúp ông…".

Những người giúp việc trong nhà rất quý ông, "cụ giáo Hàng Kèn". Chắc chắn họ chưa bao giờ nghĩ ông "bóc lột", kênh kiệu, cậy mình trí thức thủ đô khinh rẻ dân lao động ngoại tỉnh.

Từ lúc nào ở thủ đô, người lớn biết chửi bậy, rồi trẻ con theo đó mà bắt chước? Có lẽ điều này đòi hỏi chúng ta phải "truy tầm" về nguồn gốc của những từ tục của bây giờ, mà đó là việc nằm ngoài khả năng cũng như bài viết này của tôi.

Ngoài ra, tôi cũng không tin là người Hà Nội thời trước 1954 hoàn toàn không chửi bậy. Đọc hồi ký của nhạc sĩ phạm Duy, thấy ông có nhắc tới những tiếng lóng, những câu hát xuyên tạc rất tục những năm 20-30 của thế kỷ trước. Nói cho đúng, ngày xưa Hà Nội phân biệt rõ ràng hơn giữa tầng lớp trí thức "có học, có chữ nghĩa" (tức "có văn hóa") và tầng lớp bình dân, trong đó có thể bao gồm cả thành phần du thủ du thực ít văn hóa. Còn ngày nay, tầng lớp "văn hóa thấp" đã "xâm thực" khắp xã hội. Số đông cư dân ở Hà Nội hiện nay, nếu tự đánh giá mình là thanh lịch, sâu sắc, thâm trầm, thì quả là lố bịch.

Song, tôi tin không phải người Hà Nội luôn thô lỗ và kênh kiệu, cũng như không phải mọi công dân thủ đô đều có tính xấu ấy. Không phải người Hà Nội nào cũng thích ăn "phở quát cháo chửi", cũng chẳng phải hàng quán nào ở Hà Nội cũng có những thiên-thần-mậu-dịch-viên đáng sợ.

Nhiều tính cách tệ hại của dân chúng Hà thành có lẽ đã xuất phát từ hoàn cảnh, mà nếu thực vậy thì Hà Nội đáng thương hơn là đáng giận.

… Và đáng yêu

Với riêng tôi, Hà Nội còn có sự đáng yêu, cái đáng yêu của một thành phố trẻ đang phải gồng lên làm nhiệm vụ của một thủ đô nghìn năm.

Sẽ còn rất nhiều, vô số bất cập và lộn xộn, nhưng thảng hoặc cũng có những nét cho thấy một nỗ lực của Hà Nội vươn lên làm thủ đô văn hiến. Con đường gốm sứ ven sông Hồng, tuy một số đoạn vừa hoàn thành đã nứt, nhưng nhiều đoạn màu sắc long lanh rực rỡ. Con mắt thô thiển của tôi dám chắc như thế là đẹp, và chắc chắn là đẹp hơn khi không có đường gốm sứ ấy.

Những gì là xấu xí, tiêu cực, ước mong thủ đô sẽ xóa chúng đi dần dần. Nếu tính xấu đã do hoàn cảnh mà mọc ra thì cũng có thể hy vọng chúng sẽ mất đi khi hoàn cảnh thay đổi, để một nền văn hóa mới sẽ hình thành ở Hà Nội, thanh lịch hơn, sâu sắc hơn mà cũng cởi mở hơn.

Hà Nội, trong tôi, cũng đáng nhớ nữa. Vào năm 2000, tôi từng viết trong một bức thư gửi những người bạn ở phương xa, rằng thế hệ chúng tôi may mắn được trải qua thời khắc chuyển giao thiên niên kỷ đáng nhớ, 1000 năm mới có một lần. Mấy ai được đón chào và cảm nhận thời khắc ấy? Lịch sử vốn dài đằng đẵng. Nói như Nguyễn Huy Thiệp, 1000 năm trước, biết hoa ban có trắng như bây giờ?

Nếu quan niệm như thế, tôi sẽ thấy năm 2010 này lại cũng là một thời gian đáng nhớ trong đời mình. Hàng chục triệu gương mặt người Việt Nam đã mờ nhòa trong lịch sử, nào phải ai cũng được đón sự kiện nghìn năm Thăng Long như chúng tôi đây? Để rồi mai kia một cụ ông nào đó còn có chuyện mà kể cho con cháu nghe: "Hồi ấy, ông hay đi dọc con đường gốm sứ với bà. Hơi nhiều bụi một tí, nhưng đường mát và đẹp lắm, bà cũng đẹp. Cái chỗ ấy bây giờ là gì nhỉ bà nhỉ?…".

 ***

"Giải mã" cách đặt tên phố ở thủ đô

Các đường phố ở thủ đô ngày nay được đặt tên không phải tùy tiện, ngẫu hứng, mà phần lớn tuân theo một quy tắc đã có từ năm 1945. Những ý kiến ủng hộ xem đây là một điểm đáng khen ngợi trong công tác quản lý đô thị của Hà Nội.

Trong hoạt động quy hoạch và quản lý đô thị, đặt tên đường chưa bao giờ là việc nhỏ. Nhiều thành phố trên thế giới có những "chính sách" riêng trong việc này. Ví dụ, ở Brisbane (Queensland, Úc), các con phố ở khu trung tâm được đặt tên theo các nhà vua và nữ hoàng anh. Các phố tên vua song song với nhau và cắt các phố tên nữ hoàng (cũng song song với nhau).

Tại các thành phố lớn ở Mỹ, đường xá nói chung được đặt theo tên con số, quang cảnh, cây cối, chẳng hạn Oakhill (Đồi Sồi) là tên kết hợp giữa "đồi" và "cây sồi". Lấy tên danh nhân vật đặt cho đường cũng là một truyền thống ở nhiều nơi trên thế giới: đại lộ Wilson ở Brooklyn (New York), phố Enrico Fermi ở Rome, đại lộ Victor Hugo ở Paris v.v. Hoặc dựa theo một nghề kinh doanh đã từng phổ biến ở con đường đó: phố Haymarket (như kiểu Hàng Cỏ của ta), phố Millstone (cối xay gió) ở London… (nguồn: Wikipedia)

Ở Hà Nội, việc đặt tên phố phường theo tên các anh hùng, danh nhân là cách làm phổ biến nhất. Song, đáng chú ý là các tên tuổi không bị xếp lộn xộn mà theo một trật tự rõ ràng. Quy tắc ấy như thế này: phố phường Hà Nội (phần chưa mở rộng) được đặt theo từng cụm, mỗi cụm tương ứng với một thời, một triều đại nhất định trong lịch sử.

Một cách "học lịch sử trên đường phố"

Có thể xem mạn quanh Hồ Gươm – trung tâm thủ đô – là "khu vực" của các triều đại mở đầu cho lịch sử đất nước: Ngô, Đinh và Tiền Lý. Các phố Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lý Thái Tổ đều là những con đường lớn, rất đẹp và nằm gần nhau ở nơi trung tâm thành phố. Đi về hướng Cung Văn hóa Hữu nghị là "địa phận" của nhà Trần với các phố Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Yết Kiêu, Dã Tượng, Đỗ Hành.

Những phố phía hồ Tây mang tên các văn nghệ sĩ nổi tiếng: Xuân Diệu, Đặng Thai Mai, Tô Ngọc Vân. Những phố nằm gần Doanh trại Quân đội trên đường Trường Chinh được đặt theo tên các vị tướng tài ba của Việt Nam: Vương Thừa Vũ, Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, và đội trưởng du kích Nguyễn Ngọc Nại (hy sinh trong chiến dịch 60 ngày đêm bảo vệ thủ đô).

Một loạt phố mới mở, nằm khá gần nhau trên địa bàn giáp ranh ba quận Thanh Xuân – Ba Đình – Đống Đa, lấy tên các nhà văn hiện thực thời 1930-1945: Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyên Hồng…

Trật tự này tất nhiên chỉ được áp dụng một cách tương đối, bằng chứng là ta vẫn có phố Nguyễn Khuyến nằm "gối đầu" vào con đường thiên lý Lê Duẩn dù đó là hai danh nhân ở hai thời kỳ cách xa nhau. Tuy thế, cũng thú vị nếu đang ở phố Trần Hưng Đạo, ta có thể đoán rằng hai con phố Yết Kiêu, Dã Tượng nằm gần đó. Hoặc đường Trần Quang Khải thì nhất định ở gần đường Trần Nhật Duật. Với những người có chút quan tâm đến lịch sử Việt Nam thì đây là một quy tắc đặt tên đường phố giúp người ta dễ tìm lối đi. Nhưng quan trọng hơn là nó cho thấy một tính toán khoa học và có văn hóa của những người đứng đầu một thành phố.

Tác giả của sáng kiến đặt tên

Theo nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh phúc, trước thời thuộc pháp, phố phường Hà Nội cũ được đặt tên theo một số cách. Chẳng hạn, dựa theo các dải đất hoặc công trình mà phố đi qua, như phố Cầu Gỗ vốn nằm gần một cái ngòi nối vào Hồ Gươm, trên ngòi này bắc một cây cầu làm bằng gỗ. phố Tràng Tiền có một "trường đúc tiền" xây dựng từ năm 1807, chuyên sản xuất tiền đồng để gửi vào kinh thành Huế và lưu hành trên toàn quốc. Cách khác là lấy tên các sản vật mà người phố đó buôn bán, ví dụ Hàng Điếu thời xưa chuyên bán các loại điếu hút thuốc lào, Hàng Dầu bán dầu lạc, dầu vừng, Hàng Muối bán muối…

Tới thời thuộc địa, chính quyền thực dân pháp tiến hành dịch những tên này sang tiếng pháp, chẳng hạn Hàng Điếu thành "rue des pipes", Hàng Muối thành "rue de Sel". Bên cạnh đó, họ du nhập truyền thống lấy tên danh nhân đặt cho đường phố vào nước ta, chỉ có điều các con đường được đặt tên theo lối này đều phải mang tên danh nhân… người pháp. Họ đặt một loạt tên mới: Laveran (phố Lê Văn Hưu ngày nay), Henri Rivière (nay là phố Ngô Quyền), mở mới đường Francois Garnier – viên đại úy đánh thành Hà Nội – chính là đường Đinh Tiên Hoàng bây giờ, mở mới đại lộ Gambetta (phố Trần Hưng Đạo ngày nay). Con phố Tràng Tiền đẹp đẽ biến thành "rue paul Bert".

Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính pháp. Ngày 20 tháng 7, bác sĩ Trần Văn Lai nhậm chức Đốc lý Hà Nội. Từ đó cho tới ngày Cách mạng tháng Tám nổ ra, nhiệm kỳ của ông kéo dài chưa được một tháng.

Tuy nhiên, trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy, Thị trưởng Trần Văn Lai đã kịp thực hiện một công việc quan trọng cho Hà thành: sửa đổi và hệ thống lại tên đường phố. ông Nguyễn Vinh phúc nêu rõ: Việc đầu tiên là Thị trưởng cho kéo đổ một loạt tượng đài thực dân, như tượng "bà đầm xòe" ở vườn hoa Cửa Nam, tượng Toàn quyền paul Bert ở vườn hoa paul Bert (vườn hoa Lý Thái Tổ ngày nay).

Song song với đó, chính quyền Trần Văn Lai bỏ hết những tên phố của pháp để đổi thành tên các danh nhân Việt Nam, theo quy tắc mà ngày nay đang tuân thủ: Tên danh nhân lớn đặt cho phố lớn, phố chính, tên các danh nhân hoặc vùng đất liên quan thì đặt cho các phố thứ, phố xương cá. Ví dụ, Trần Hưng Đạo là phố chính thì có một loạt phố nối vào mang tên Trần Bình Trọng, yết Kiêu, Dã Tượng, rồi các ngõ Vạn Kiếp, Tức Mạc. phố chính Lê Thái Tổ nối với các phố thứ Lê Lai, Lê Thạch, Đinh Lễ – những viên tướng tài của vua Lê. Mạn sông Hồng vinh danh các tướng thủy chiến nổi tiếng đời Trần: Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Nguyễn Khoái.

Cách đặt tên đường phố của Thị trưởng Trần Văn Lai không chỉ thể hiện tầm văn hóa của chính quyền, nó còn là một sáng kiến độc đáo ít nơi có. Ngay ở một đô thị lớn và hiện đại như Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, các đường cũng được đặt tên… không theo một quy tắc nào, xét trên phương diện sử học. Chẳng hạn, Đinh Tiên Hoàng có thể nối với Võ Thị Sáu, cũng như Hai Bà Trưng đâm thẳng vào Lê Lợi! (19)

Các nhà nghiên cứu ngày nay cho rằng, tầm nhìn về quy hoạch của bác sĩ Trần Văn Lai thật đáng nể, khi cách đặt tên có tính khoa học của ông khiến đường phố ở Hà Nội được hệ thống lại, những tên phố chính thì giữ ổn định, như chúng ta vẫn dùng cho đến nay. Nhà văn Tô Hoài cho biết, hầu hết tên đường và phố Hà Nội đều do ông Trần Văn Lai đặt. Thị trưởng Trần Văn Lai cũng là người định tên gọi "Quảng trường Ba Đình" cho khoảng đất trước phủ Toàn quyền mà nay là phủ Chủ tịch.

Quy hoạch tên phố ngày nay

Theo nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh phúc, trong việc đổi hoặc đặt tên mới cho đường phố hiện nay, Sở Văn hóa – Thông tin thành phố có thành lập một hội đồng tư vấn riêng để tham khảo ý kiến, gồm nhiều nhà sử học uy tín. ông bảo: "Có lẽ vì vậy mà công việc này đang dần đi vào quy củ hơn, sau một khoảng thời gian lộn xộn, có phố mới mở, thích tên gì thì đặt tên ấy, thích đổi tên thế nào thì đổi, không hỏi ý kiến ai cả". (Vì sự "thoải mái" đó nên mới có chuyện đường Lê Duẩn tiếp giáp phố Nguyễn Khuyến như ngày nay).

Cách làm khi xưa của cụ Trần Văn Lai giờ đang được Hội đồng tư vấn đặt tên đường phố của Hà Nội thực hiện theo: Các phố mới của thủ đô được đặt tên theo một cụm có ý đồ khá rõ, ví dụ loạt "phố nhà văn" Nam Cao, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng…; "phố văn nghệ sĩ" Văn Cao, Đặng Thai Mai, Tô Ngọc Vân; ; phố "tướng quân đội" Vương Thừa Vũ, Nguyễn Ngọc Nại, Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái… Ngay cả đoạn phố nhỏ Vũ Thạnh, mới có tên cách đây vài năm, cũng được xếp một cách hữu ý bên phố Hào Nam: Trại Hào Nam vào thế kỷ 17 là nơi ở của nhà sư phạm nổi tiếng – Thám hoa Vũ Thạnh.

Hà Nội nay đã mở rộng gấp 3,5 lần, số lượng đường phố sẽ tăng ít nhất là gấp đôi, đòi hỏi một sự sắp xếp, hệ thống lại và đặt mới rất nhiều tên gọi hành chính. ông Nguyễn Vinh phúc tỏ ý mong rằng quy tắc đặt tên phố của cụ Trần Văn Lai thời 1945 sẽ được Hà thành duy trì và tôn trọng. ông khẳng định: "Tên thì không thiếu. Chúng ta đâu có thiếu danh nhân, nhà văn hóa, anh hùng cách mạng… Vấn đề chỉ là đặt ai vào đâu cho hợp lý".

Một khi tên đã đặt sai thì việc sửa chữa sẽ rất khó, gây phiền phức cho dân và tốn kém cho ngân sách Nhà nước. Vì thế, việc chọn tên cho đường phố luôn cần được làm nghiêm túc, có tính toán ngay từ đầu, tốt nhất là có sự tư vấn của các chuyên gia – như những gì chính quyền thủ đô đang thực hiện.

Đặt sang một bên những hạn chế, sai lầm hay thiếu sót mà chính quyền có thể mắc phải (và đã mắc không ít trong năm qua), chúng ta có thể thấy Hà Nội – cả xưa và nay – đã thể hiện một nét văn hóa độc đáo trong một chuyện không hề nhỏ: đặt tên đường phố.

19. Khoảng một năm sau khi thực hiện bài viết này, tôi nhận được phản hồi từ một độc giả rằng thật ra ý tưởng quy hoạch tên đường phố thành cụm theo "triều đại lịch sử" đó không phải chỉ áp dụng tại Hà Nội thời Thị trưởng Trần Văn Lai. Thành phố Hồ Chí Minh cũng từng có thời kỳ đặt tên đường phố một cách rất có văn hóa như vậy, dấu ấn nay vẫn còn lại ở khu vực Quận 5. Độc giả đó cũng có ý trách tôi "chưa tìm hiểu kỹ đã 'đập' Thành phố Hồ Chí Minh". Tôi kiểm tra lại và thấy rằng nhận định của anh là hoàn toàn chính xác, nên đã hứa sẽ có một bài viết về cách đặt tên đường ở Thành phố Hồ Chí Minh để làm rõ vấn đề, coi như một cách chuộc lỗi sau bài này. xin nhận lỗi trước bạn đọc về sai sót trên đây trong bài "Văn hóa Tràng an trong chuyện đặt tên đường phố".

 ***

Ca trù – "thời vang bóng" đã xa

Nét mặt hiền từ, cử chỉ lịch lãm và phong cách ăn mặc nền nã, đặc biệt giọng nói ấm và vang dù đã ngoài 80 tuổi, bà gợi cho người ta thấy ngay hình ảnh một đào nương ca trù Hà Nội xưa. Bà là phó Kim Đức, đào nương nổi tiếng ở phố Khâm Thiên thời kỳ 1943-1945.

Khi được hỏi về "sinh hoạt cô đầu ở phố Khâm Thiên" những năm thuộc pháp, bà Kim Đức tỏ vẻ không vui. Khâm Thiên thời ấy nổi tiếng là khu phố cô đầu, tối tối đỏ đèn với các canh hát ả đào, nơi cả cô đầu hát lẫn cô đầu rượu cùng phục vụ khách – người thì bằng tiếng hát, người thì bằng nhan sắc…

Sinh năm 1931, bà Kim Đức hồi đó mới chỉ là một cô bé 12 – 13 tuổi, nhưng đã là một đào nương có tiếng, nói theo ngôn ngữ thời nay là rất "đắt sô". Nhà bà ở số 89 Khâm Thiên, nghĩa là ngay giữa con phố cô đầu đặc trưng của Hà Nội. Bà sinh ra trong một gia đình có nòi ca trù (bố là nghệ nhân phó Đình ổn, từng là quản giáp của một giáo phường danh tiếng), được bố dạy hát dạy đàn từ năm lên 7.

Thêm năng khiếu trời cho, 12 tuổi bà đã cùng anh trai phó Đình Kỳ đi biểu diễn ở khắp các nhà hát trong phố. Tiếng hát, giọng phách trong vắt, đầy mê hoặc của bà nhanh chóng chinh phục được quan khách nên chẳng bao lâu sau, "cô Đức cậu Kỳ" đã được mời đi hát ở khắp các nhà hát tại Hà Nội và cả các tỉnh lân cận. Nhà văn tài tử Nguyễn Tuân, bạn của ông phó Đình ổn, mê giọng ca của bà lắm, thường tấm tắc: "Con bé này sau này sẽ có tương lai lắm đây".

"Tôi sống với bố mẹ. Ban ngày ở nhà trông em, đi học khâu, học thêu, học may, gia chánh, tối thì đi hát cho những nhà mời mình. Người ta cho xe tay đến đưa đi. Nhiều nhà hồi ấy giàu lắm, có ôtô riêng, thì họ đưa mình đi bằng ôtô. Hát từ độ 7-8h tới 11h, hôm nào khuya thì 12h đêm" – bà Kim Đức nhớ lại. Hà Nội ngày ấy ca quán ca trù nhiều như nấm sau mưa. Không có thống kê chính thức, chỉ biết ký giả Hồng Lam trong một bài phóng sự điều tra trên báo Trung Bắc chủ nhật có viết rằng, riêng năm 1938, ngoại ô Hà Nội có 216 nhà hát và gần 2000 cô đầu, trong khi dân số toàn Hà Nội thời ấy chỉ khoảng 25 vạn.

Bà Kim Đức hồi tưởng: "Hà Nội ngày ấy nhiều nhà hát ca trù lắm, tôi đi hát suốt. Khâm Thiên, Vạn Thái, Ngã Tư Sở, Vĩnh Hồ, đường Láng, các cửa ô Đồng Lầm, Đông Mác, Gia Lâm, Gia Quất, Gia Thượng… chỗ nào cũng có ca trù. Không như bây giờ, thì chỗ nào cũng không có".

Cô đầu hát, cô đầu rượu

Theo bà Phó Kim Đức, ca trù là một nghệ thuật rất cao: "Không chỉ là nghệ thuật ca hát mà nó còn là văn học nữa, người nào hiểu văn sẽ yêu ca trù, sẽ thấy nó cao cấp, hàn lâm, khoa học". Bà cho rằng, chỉ từ khi chính quyền thực dân cấp môn bài bừa bãi, nhiều nhà giàu thừa tiền mở nhà hát lung tung, thì cô đầu rượu mới xuất hiện và ca trù rước tiếng xấu từ đó. Bà nói một cách bức xúc: "Khổ thế chứ. Người ta có tiền mở nhà hát, mình có nghề mà không có tiền thì phải đi hát thuê, thế rồi đến lúc mang tiếng thì mình là người hát, mình chịu cả. Cho dù có nghề, tài ba đến mấy thì mình vẫn bị gọi là "cô đầu" với nghĩa rất xấu. Thật ra cô đầu đúng nghĩa phải là những đào nương tài hoa, có nghề ca trù vững vàng. Nhưng ai hiểu đâu. Mấy bà ghen tuông vớ vẩn còn bảo "chồng tôi toàn đi chơi cô đầu". Cô đầu thì chơi thế nào được? phải nghe hát chứ sao lại đi chơi cô đầu?".

Tuy vậy, giai đoạn trước năm 1945, thực sự là ca quán ca trù nào cũng có cả cô đầu hát (đào nương) và cô đầu rượu. Suốt chầu ca trù, cô đầu hát thì cứ hát mà cô đầu rượu thì cứ tiếp rượu, tiếp trà cho khách. Ngày ấy, báo chí cũng có nhiều hí họa, nhiều phóng sự phản ánh về khu phố Khâm Thiên, Vạn Thái, trong đó cả đào rượu lẫn đào nương đều bị gọi ráo là cô đầu.

Thêm nhiều vụ các bà ghen tuông vì các ông đi "chơi cô đầu", thế là tiếng xấu càng dày thêm. Nhắc đến hát ả đào, người ta nghĩ đến một thú ăn chơi trác táng, còn cô đầu là loại người "lấy khách – khách bỏ về Tàu, lấy nhà giàu – nhà giàu hết của".

Hỏi bà Kim Đức về chuyện đó, bà bực bội: "Nhà nào mà chẳng có cô đầu rượu. Tôi làm nghề, tôi chỉ biết hát thôi, kệ người ta. Hát xong thì tôi về, chứ biết đâu chuyện "công đoạn ba". Chắc là cũng có những cô không nghề nghiệp gì, nhưng có sắc, xin vào làm cô đầu rượu… vớ vẩn lại vớ được ông chồng giàu!". Tuy thế bà cũng khẳng định, vẫn có nhiều nhà hát mà khách đến vì muốn được thưởng thức ca trù thật sự, "nghe sạch, nghe hay", chứ không phải vì muốn tìm kiếm "món lạ". Và bà nhấn mạnh: "Ngày xưa, nghe ca trù, phải tới 70-80% khách hiểu và yêu ca trù, không phải như bây giờ, mấy ai hiểu về cái hay, cái đẹp của nó".

Không gian ca trù xưa

Thời xa xưa, ca trù diễn ra chủ yếu trong không gian đình (đền) làng, nên nó còn được gọi là hát cửa đình. Thời pháp thuộc, khi việc mở nhà hát trở thành một nghề kinh doanh, được cấp môn bài và phải đóng thuế, thì chầu hát được tổ chức trong nhà. Trong căn phòng (đã có đèn điện bóng tròn chiếu sáng), người ta kê vài bộ ghế ngựa, một tấm phản. Đào nương và kép (người gảy đàn) ngồi xếp bằng tròn trên phản, hát theo yêu cầu của khách. Bà Kim Đức kể: "Một chầu hát chỉ có hai anh em tôi thôi, họ đã mời mình rồi thì không mời người khác nữa. Hát nhiều lắm, tới mấy tiếng đồng hồ, người ta yêu cầu bài gì thì mình hát bài đó, đủ cả: thơ Nguyễn Công Trứ, thơ Cao Bá Quát, Thét nhạc, Bắc phản… Tất nhiên người nghe cũng biết ý, mình hát xong, họ cho nghỉ một lát, rồi mới đề nghị tiếp. Quan viên cầm trống, bảo tôi: "Cháu hát Thiên Thai nhé", thế là tôi hát, ông anh tôi đàn. Người nghe ngồi im phăng phắc, lịch sự, tôn trọng lắm".

Đào nương hát hay sẽ được quan khách thưởng bằng tiền, bỏ phong bì đặt cẩn thận vào đĩa (thời ấy chưa có vỗ tay, tặng hoa, ném xu lên sân khấu). Bà Kim Đức và ông phó Đình Kỳ đều là "sao", được thưởng rất nhiều: "Hồi ấy 500 đồng tiền Đông Dương là lớn lắm, mà hai anh em tôi có khi mỗi tối cũng kiếm tới 4-500 đồng bạc".

12 tuổi, cô bé Kim Đức, tóc búi, áo dài quần trắng giản dị, không son phấn, đã đi hát ca trù hàng đêm như thế. rất nhiều người đã nghe và say tiếng hát của "cô Đức", trong số ấy, có những gương mặt mà mãi về sau, bà mới biết họ là các trí thức - đảng viên cộng sản, như các ông Vũ Đình Tụng, Phạm Lưu Bổng, Nguyễn Đăng Quốc, Nguyễn Công Truyền…

Sau Cách mạng tháng Tám, ca trù, với những tiếng xấu đang phải gánh chịu, bị gộp chung vào với "các tàn dư của chế độ phong kiến" và bị xóa bỏ dần theo hướng "để cho chết". Tất cả đào nương đều lặng lẽ chôn vùi thân phận, giấu phách, bỏ đàn. Bà Kim Đức tản cư, sau đó về thành làm nghề sản xuất và buôn đồ nhựa một thời gian. Năm 1962, bà được nhận vào công tác ở Đài Tiếng nói Việt Nam với công việc hát chèo, ngâm thơ. Năm 1993, bà được phong danh hiệu NSƯT, cũng với chức danh nghệ sĩ chèo.

Giờ đây, nhớ về những năm tháng làm "đào nương nhí" trước 1945, nghệ sĩ Kim Đức vẫn bồi hồi nghĩ đến một thời vang bóng của ca trù, khi người ta lắng nghe ca trù với tất cả sự hiểu biết và tôn trọng. Đồng thời, bà cũng không khỏi bức xúc khi xã hội vẫn tò mò, kỳ thị về hai tiếng "cô đầu"…

 ***

65 năm một mùa thu

Hà Nội sắp vào thu. Trời rất xanh và nắng rất trong, không còn dấu vết gì của những ngày nóng 40 độ C vừa qua. Người ta hay bảo mùa thu là mùa của thi sĩ, văn sĩ. Nhắm mắt lại cũng nhớ ra bao nhiêu câu thơ, câu văn, câu hát về mùa thu:

"Em không nghe mùa thu
Lá thu rơi xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô"

(Lưu Trọng Lư)

"Ta biết ngươi buồn sáng hôm nay
Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay"

(Thâm Tâm)

"Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới"

(Nguyễn Đình Thi)

Riêng tôi đặc biệt thích đến thuộc lòng một đoạn trích từ truyện ngắn "Chiếc mỏ neo" của Nguyễn phượng Cầu. Nhân vật chính của truyện là một nhà báo u sầu. Truyện làm tôi thích và do đó, nhớ rất lâu, tuy chẳng hiểu gì:

"Trời lại vào thu năm 1993. Giữa những ngày mưa có vài ngày nắng ráo. Nắng trong và sánh lại vàng như mật. Cây lá trong vườn biếc xanh. Tôi lại đi qua những khu vườn vắng, trên bãi cỏ lấm chấm một loài hoa dại màu tím và từ đấy chập chờn màu vàng cánh bướm. Trong một khoảnh khắc, tôi lại thấy Anna với khuôn mặt ngời sáng cùng những đường nét thanh xuân đang ngồi trên cỏ. Tôi vụt chạy đến, đàn bướm tỏa ra và bay lên, một lúc sau màu vàng tụ lại trên một đám cỏ khác. Tôi có bắt được con cá vàng nào trong cuộc đời này? Tôi còn có thể bắt được con cá vàng nào trong cuộc đời này? Trong một buổi chiều tôi đi qua bến đò, cầu tre đã bị nước lũ cuốn trôi từ trước đó, một mình lên núi Vạn. Trên chỗ cao nhất, nơi ngày xưa từng đứng, tôi nhìn xuống thị trấn Sông Lại, tôi nhìn vào trời mây, cặp bồ câu xưa giờ ở nơi đâu?

Gió núi cuộn lên từ lũng xa sau một lúc rung từng tán lá xào xạc giờ đã lặng hẳn. Tôi đứng yên, hai tay chắp trước ngực, chờ nghe lời mẹ gọi: "Dậy! Dậy học bài đi con!" …".

Và mùa thu cũng là mùa gợi cho người ta nhớ lại "những ngày thu năm xưa", năm 1945. Là kẻ hậu thế, không có được dù chỉ một bức ảnh rõ ràng về "mùa thu cách mạng" ấy, nhưng đã nhiều năm nay, gần như tháng 8 nào, tôi cũng lần mò tìm gặp lại những người từng sống qua năm 1945 lịch sử. Nhiều khi cũng chẳng để làm gì, vì bài viết ra đâu có được đăng tải – lý do nhạy cảm chỉ là một phần, phần còn lại là do độc giả của báo chí được mặc định là không thích những đề tài lục lọi quá khứ. Tôi cũng chẳng biết có phải như thế không.

Nhưng tôi vẫn muốn tìm gặp những nhân vật ấy, để nghe những câu chuyện của họ, để lục lại những mẩu ký ức xa vời trong đầu họ. Và xót xa thấy cứ mỗi năm, số gương mặt từng chứng kiến mùa thu lịch sử 1945 lại vơi đi dần.

Họ có thể là những ai? Là cô thiếu nữ Hà Thành ngây thơ trong sáng, trốn bố mẹ đi "làm cách mạng", mà khi tôi hỏi: "Đi làm cách mạng là đi đâu hả bác?", thì cô thiếu nữ năm xưa trả lời: "Hồi đó tôi đâu có biết, người ta giao cho tôi báo Cứu Quốc rồi bảo tôi đi phát, rồi gọi đấy là "làm cách mạng" thôi".

Họ là cậu thiếu niên 14-15 tuổi, người duy nhất trong vùng được đi học trường Tây, nhưng rất căm thù thực dân pháp. "Hồi đó ai mà chả ghét Pháp? Bọn nó khinh mình, coi mình là An Nam mít, chửi mình, đá đít mình. ai cũng ghét Pháp, muốn đuổi nó đi".

Họ là người trí thức thành phố, chưa biết sử dụng súng đạn, nhưng một lòng đi theo Cách mạng: "Hồi đó, chúng tôi dũng khí thì có dư mà kinh nghiệm trận mạc, tổ chức đội ngũ chả có gì. Cướp được súng của Nhật, của pháp, súng bự quá lại không biết cách tháo ra, cả chục người phải xúm lại khiêng một khẩu".

Họ là nhà tư sản (mà sau này sẽ được/bị phân loại rõ ràng, hoặc là tư sản mại bản, hoặc là tư sản dân tộc) đã đổ công đổ của nhà ra để phục vụ cách mạng, từ bữa cháo gà cho các nhà cách mạng (miễn phí, tất nhiên) đến khoản "tài trợ" hàng triệu đồng Đông Dương, quy ra vàng lúc đó là hơn 5000 lượng.

Họ là những người đã hoạt động nội thành, trong vùng bị tạm chiếm, đầy căng thẳng và nguy hiểm. Không điện thoại di động, Internet – thời đó cơ sở hạ tầng thông tin làm gì được như ngày nay – họ chỉ có thể thỏa thuận trước với nhau tín hiệu riêng: Khi nào mở cánh cửa sổ bên trái là có lính pháp đi càn, khi nào đóng nghĩa là an toàn. Cũng những con người ấy, khi chiến tranh kết thúc, họ lúng túng, sượng sùng trước mặt các đồng chí công an nghiêm khắc:

- Biệt thự này, các ông các bà bóc lột ai mà có được?

Thế đấy. Tất cả những gương mặt ấy đã và đang nhòa dần vào lịch sử đau thương của dân tộc.

Tôi có thể nói gì về những câu chuyện ấy, con người ấy? Tôi không đủ tư cách để nói gì nhiều. Tôi chỉ dám nói một điều thôi, cũng là điều rất nhiều người đã nói: Đó là, dù thế nào, lịch sử Việt Nam thế kỷ 20 cũng đã có một thời kỳ rất đẹp – theo cái nghĩa là toàn dân thống nhất một lòng chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Thời kỳ ấy đầy khói lửa, máu xương, chết chóc, nhưng "đẹp" là vì sự đoàn kết, vì tình người. Nhạc sĩ phạm Duy gọi đó là những năm "cả nước lên đường". Trước khoảng thời gian ấy, ở Việt Nam, nhiều người ghét thực dân, nhưng thật ra cũng sợ thực dân nữa. Chưa bao giờ cả một dân tộc nhỏ bé, nghèo nàn lạc hậu, vùng lên chiến đấu như thế.

Và thời kỳ đẹp đẽ ấy, như thói thường, rất ngắn ngủi. Từ đó cho đến nhiều năm về sau, cho đến… tận bây giờ, Việt Nam không có được một giai đoạn nào "cả nước đứng lên", "toàn dân như một" nữa. Bây giờ, lãnh đạo có kêu gào khản cổ "chống tham nhũng", cũng chẳng ai buồn đáp lại bằng hành động, và thật lố bịch nếu nghĩ rằng các cháu học sinh, các em sinh viên sẽ cắm đầu vào học sau khi được kêu gọi "học cho giỏi để mai sau kiến thiết nước nhà". Cũng lố bịch không kém nếu ai đó tưởng rằng các doanh nhân – những nhà tư sản dân tộc của ngày hôm nay – sẽ hăng hái "thi đua sản xuất" để cạnh tranh với hàng ngoại nhập, đưa nền kinh tế đất nước vươn lên.

Bây giờ, mỗi lần gặp một nhân chứng của thời xưa, nghe chuyện họ kể, tôi lại bần thần hồi lâu. Tôi tự hỏi, các nhà lãnh đạo nói riêng hay tất cả những người tự nhận là "trung thành với Đảng, với lý tưởng cộng sản" nói chung, họ có biết họ đã đánh mất một thứ quý giá lắm hay không? Thứ mà ngày xưa họ đã từng có. Thứ mà giờ đây cực kỳ khó lấy lại.

Đó là lòng dân.

Họ có biết không nhỉ? Biết quá đi chứ. Nhưng chắc đối với họ, mất thì làm sao nào, quan trọng gì?

… Trời vào thu, Việt Nam buồn lắm em ơi…

Tiếp theo: NHỮNG GƯƠNG MẶT

Bùi Văn Bồng : LÒNG THAM VÀ SỰ ĐỚN HÈN

Nguồn buivanbong

                                           
Dân gian có câu: "Lủi như cáo như cheo / Trốn như mèo ăn vụng. Trốn chui, trốn lủi là một nỗi nhục nhã. Ấy vậy, nhưng thời buổi hiện nay trên đời lại xuất hiện nhiều kiểu trốn tránh, chui lủi, tránh dư luận, né khuyết điểm, tránh bị điều tra, thanh tra, xác minh, ra tòa,  thiếu hẳn dũng khí của một con người chân chính. Trong cuộc chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 lần này, người lãnh đạo và các tổ chức Đảng cần phải sớm nhận diện, nhanh chóng vạch tên chỉ mặt những sai phạm, xử lý nghiêm khắc những cán bộ, đảng viên sợ khuyết điểm, sợ pháp luật mà  sống theo kiểu đó. Ta vẫn thường thấy trong xã hội, cái mô-típ đồng dạng và cũng rất đồng bộ của bản thân mỗi con người. Người có lòng tham thường đi kèm theo lối sống và tính cách gian dối, trí trá, không trung thực, đớn hèn và nhiều thủ đoạn, lắm mánh lới, có máu lưu manh, côn đồ. Những người đó mà "nhảy" được vào trong hàng ngũ Đảng, lại có chức, có quyền, chui sâu leo cao thì thật là nguy cho xã hội, là cái họa cho dân tộc, hại dân, mọt nước. 
     Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất ghét và luôn cảnh báo những người như thế, thường xuyên phê phán lối sống như thế. Theo tư tưởng và lời dạy của Người: "Cán bộ đã mất hết uy tín, không chịu nhận khuyết điểm, không chịu từ chức, thậm chí còn ngoan cố chống chế, bảo thủ, quanh co, đổ vấy trách nhiệm cho người khác, thế là hèn. Tham và hèn là thứ sâu mọt đục phá nhân cách". Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc gì cũng phải rất thiết thực, cụ thể và đã làm phải nhanh chóng, đến cùng trên cơ sở đã tính toán kỹ. Ở phần 6, khi nói về tật xấu là thói ba hoa của cán bộ, đảng viên, Bác viết rất dân dã như nông dân nói trên bờ ruộng, dễ hiểu và thấu đáo: "Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết. Trước khi nói, phải nghĩ cho chín, phải sắp đặt cẩn thận. Phải nhớ câu tục ngữ: "Chó ba quanh mới nằm. Người ba năm mới nói"… Nghe những lời răn dạy này cứ như Bác chỉ ra khuyết điểm cho mấy ông lãnh đạo Hải Phòng đã phát ngôn sai trái, thiếu suy nghĩ trong vụ cưỡng chế đất sai pháp luật ở Tiên Lãng, nói rằng dân bức xúc, ghét ông Vươn đã tự tổ chức nhau lạ để phá nhà ông Vươn... Lại như ông Đinh La Thăng, ở cương vị bộ trưởng mà phát ngôn nhiều khi tùy tiện, tiền hậu bất nhất, quanh co, dễ bị "cướp cò lưỡi". 


Theo định kỳ, Đảng cần thường xuyên lấy ý kiến phê bình của người  dân  

Một trong những giải pháp để chỉnh đốn Đảng lần này là tự phê bình và phê bình. Đây là khâu mở đầu, mấu chốt, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Phương châm, phương pháp tiến hành là phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nhất là những mặt còn yếu kém, không nể nang, né tránh; đề ra các biện pháp khắc phục, sửa chữa thiết thực, khả thi…(Chỉ thị số 15-CT/TW của Bộ Chính trị về việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI).
Lời Chủ tịch Hồ Chí Minh ngắn gọn, súc tích nhưng đầy khí phách và thể hiện thái độ dứt khoát: "Một đảng mà không biết sửa chữa khuyết điểm là một đảng hỏng". Vậy, suy ra, một đảng viên mà che giấu khuyết điểm, bảo thủ cái sai, không tự giác nhận khuyết điểm cũng không còn xứng đáng là đảng viên. Trước hết, trong đợt chỉnh Đảng lần này, các đảng viên phải rất tự giác, cầu thị, phải "tiên trách kỷ, hậu trách nhân", tự xem lại mình trước trước khi phê bình người khác. Đó là lòng tự trọng cần thiết. Không biết tự trọng đồng nghĩa với tự phỉ báng lương tâm. Chính vì thế, khi nói về phê bình và sửa chữa, Bác đã nhấn mạnh đến chữ "DŨNG", rất cần dũng khí trong đấu tranh tự phê bình và phê bình. Bác viết: "DŨNG là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực khổ khó khăn, có gan chịu đựng. Có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý, không chính đáng. Nếu cần, thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát".
Nói chuyện tại buổi bế mạc lớp bổ túc cán bộ trung cấp về đạo đức cán bộ, đảng viên, Bác nhấn mạnh: "DŨNG là phải mạnh dạn, quả quyết nhưng không phải làm liều. Phải có kế hoạch, rồi kiên quyết làm ngay. Nguy hiểm cũng phải làm. Nghĩa là phải có lòng dũng cảm trong công việc" (Báo Vệ quốc quân, số ra ngày 10-10-1947).
Chữ "gan" rất giản dị mà Bác đã dạy chính là dũng khí. Khi con người có lòng tự trọng và bản lĩnh, có nghị lực thì sẽ có dũng khí. Trên thế giới ta đã thấy không ít những vị lãnh đạo, những chủ doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế tuyên bố từ chức. Nhưng ở nước ta thì rất hiếm. Khi một người tuyên bố từ chức, thì điều ghi nhận đầu tiên của mọi người là người đó có lòng tự trọng, có dũng khí. Làm không được việc, hoặc vì lý do nào đó mà chức trách không hoàn thành, việc bị hỏng, gây hậu quả nghiêm trọng, thì mất uy tín. Khi đã mất uy tín, nếu tìm mọi cách cố bấu víu quyền lực, dù có được tại vị  sẽ bị người đời coi thường, xử lý công việc kém hiệu quả và luôn ở thế "há miệng mắc quai". Như ở cương vị ông Bùi Thanh Quyến, Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương, nếu thực sự bản thân và gia đình trong sạch thì phải tự chứng minh trong sạch, sao cứ nói năng cái lối u u chung chung. Khi dư luận rùm beng về cái vườn "thượng uyển " của cậu quý tử, ông có đủ bộ máy, đệ tử trong tay và có đủ quyền năng để cậu Tùng báo rõ tiền ở đâu ra mà chơi sang vượt mặt thiên hạ, mang tai tiếng cho ông. Nhưng vì nhiều khuất tất,  khó nói ra nguồn thu bất chính ở nơi đây chỗ đó, cho nên khi nhà báo hỏi ông nói lấp lửng: "Các anh cứ việc theo công chuyện của các anh mà làm ...". Ông bị hàm oan đến mức ấy, thì mắc mớ gì không biết sớm đưa ra những chứng lý để tự giải oan? Ở ương vị Bí thư Tỉnh ủy, lại đang triển khai thực hiện NQTW 4, nếu nư có đảng viên dưới quyền ông bị báo chi nêu như thế, ông cho kiểm tra, điều tra, xác minh như thế nào để làm trong sạch Đảng? Còn đã mắc khuyết điểm, mục đích bất thành, âm mưu bại lộ thì phải tự phê bình, nhận sai, tạ lỗi. Cách tốt nhất là xin từ chức một cách hợp lý thể hiện văn hóa ứng xử. Như thế, thiên hạ chẳng ai cười, lại còn cho là người tự trọng và được tôn trọng. Theo lẽ thường, từ chức là hành động văn minh. 
Cùng đồng cảm, chia sẻ với quan niệm về từ chức, Tiến sĩ Tô Văn Trường đã viết: "Văn hóa nói chung và văn hóa từ chức nói riêng là không phải tự nhiên mà có, hơn nữa đó lại là thứ văn hóa đặc biệt quý giá. Dân tộc ta có một "nền văn hiến đã lâu" như Nguyễn Trãi đã khẳng định trong Bình Ngô đại cáo. Vậy sao bây giờ "văn hóa từ chức" lại chưa có và khó làm đến thế! Từ chức là một nét văn hóa đẹp, đáng kính trọng, thể  hiện sự tự trọng và nhân cách của con người. Thiếu vắng hiện tượng từ chức đích đáng không phải chỉ đáng tiếc mà là đáng buồn và xấu hổ".
Suy cho cùng, có sai thì nhận sai thực sự chân thành để sửa, nếu không thì từ chức - đó là lối ứng xử có văn hóa. Tham lam, ích kỷ, nói điêu, vu khống, né tránh khuyết điểm, ưa nịnh không phải là có văn hóa. Có những cán bộ thời nay vẫn thích khen, che giấu khuyết điểm, sợ bị chê, sợ bị phê bình, thích nghe tâng bốc. Họ coi những kẻ dù vô văn hóa, kém tài, gian xảo nhưng giỏi nịnh là "đệ tử". Thậm chí chỉ nghe kẻ ton hót xiểm nịnh "tâu" những chuyện người khác chê mình đã nổi cáu, rồi "ghi sổ", hằm hè, xoi mói, để ý người phê bình mình, thậm chí chèn ép, kìm hãm, trù dập. Đó là ứng xử, đối phó của kẻ hèn mạt, không có dùng khí. Biểu hiện ngoan cố, báo cáo sai lệch, phát ngôn sai, đánh lạc hướng dư luận của một số cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Hải Phòng trong các vụ Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ Bản , có khuyết điểm, vi phạm pháp thì chạy trốn như vụ bà Diệu Hiền, vụ Vinashin, Vinalines… Đó là sự thể hiện những kết cục của lòng tham và sự đớn hèn.
Trong việc bổ nhiệm ông Dương Chí Dũng (Vinalines), cho thấy công tác cán bộ được coi llà khâu then chốt, quyết định mọi thành bại. Chả thế mà từ trung ương xuống địa phương, về phía chính quyền có bộ Nội vụ, bên đảng có hẳn ban Tổ chức Trung ương (thậm chí quyền hành còn hơn bộ Nội vụ), cứ thế từ trên xuống dưới là cả bộ máy tổ chức chặt chẽ, cồng kềnh, tầng tầng lớp lớp, tưởng con kiến cũng không chui lọt. Họ có đủ cả quy trình, quy định, quy tắc, quy chế, sàng sảy kỹ hơn sàng tấm, lúc nào cũng rêu rao chọn người tài đức, vừa hồng vừa chuyên. Bao năm nay người dân vẫn tin thế, nhưng khi phát hiện ra ông to bà lớn móc ngoặc với nhau đưa con cháu, quý tử vào bộ máy công quyền bất chấp tiêu chuẩn. Đó là những sai lầm, vi phạm nguyên tắc tổ chức cán bộ. Nhưng có ai dám nhận khuyết điểm chưa? 
Việc bổ nhiệm ông Dương Chí Dũng thì Bộ Nội vụ cũng không dám đứng ra nhận sai lầm, thậm chí còn khẳng định rằng bộ này chỉ chịu trách nhiệm "thẩm định quy trình, thủ tục" cho ông Dương Chí Dũng thôi chức Chủ tịch Hội đồng Thành viên Vinalines. Thế thì sự thẩm định đến đâu? Thực hiện đã đúng quy định, quy trình theo điều 50, điều 51 Luật cán bộ, công chức hay chưa? Thế mà Bộ nội vụ vẫn nói việc bổ nhiệm ông Dũng vào ghế Cục trưởng Cục hàng hải thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Thăng và "không liên quan đến trách nhiệm của Bộ Nội vụ". Còn Bộ trưởng Thăng thì vẫn tìm mọi cách quanh co, thậm chí còn nói rất vô lý và "ngây thơ cụ" là "điều động để giữ đoàn kết nội bộ". Cái lối luận giải tùy tiện như nói dối trẻ con của ông Thăng làm cho người ta nghĩ rằng, nếu biết sắp bị thanh tra hoặc thích chuyển cương vị khác cứ gây mâu thuẫn mất đoàn kết nội bộ là sẽ được điều động, bổ nhiệm như ý định (!?). Đó cũng là sự hèn nhát, lấp liếm, né tránh, thiếu dũng khí, thiếu trung thực, không dám mạnh dạn nhận ra sai trái để sửa chữa. Như thế là sự chối bỏ trách nhiệm, không có chút dũng khí nào, không xứng đáng là đảng viên cộng sản.
Cho nên, chịu phê bình đã khó, tự phê bình càng khó hơn. Dũng khí đảng viên còn phải được thể hiện ở chỗ không chỉ mạnh dạn tự nói ra cái yếu, cái sai của mình, mà rất cần phải nói thẳng cái sai, cái yếu của đồng chí mình, nhất là của cấp ủy, thường vụ, bí thư. Khi thấy cấp trên sai nhưng ai cũng né tránh, sợ đụng chạm bất lợi cho cá nhân mình cũng là biểu hiện sự hèn kém, cá nhân chủ nghĩa. Ngậm miệng ăn tiền, khi thấy nhiều người nói thì mình mới nói theo, gọi là a dua, không muốn tỏ rõ chính kiến. Cái có lợi cho mình thì hết sức làm, cái có hại cho tập thể, cho người dân, hại cho xã hội thì né tránh không can thiệp cũng là biểu hiện lối sống ích kỷ, vụ lợi, không có dũng khí của cán bộ, đảng viên.   
Bác Hồ đã chỉ bảo chí tình, chí lý: "Các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế, Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công. Nếu không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh".
Trong báo Sự Thật số ra ngày 15-4-1949, Bác đã có bài viết phê phán những cán bộ, đảng viên có khuyết điểm, mắc sai lầm mà cứ muốn giấu nhẹm đi, ngán ngại khi nghe người khác phê bình, chỉ sợ nói ra bị mất uy tín, mất chức, hết "ghế ngồi". Những cán bộ như thế, Bác đã thẳng thừng chỉ trích: "Cán bộ nào không dám công khai thừa nhận khuyết điểm của mình, e sợ lời phê bình của đồng sự và của nhân dân, không có can đảm sửa chữa khuyết điểm thì những người đó không xứng đáng là cán bộ".
Phê bình, tự phê bình không nên chỉ tiến hành trong nội bộ Đảng, mà cần phải đưa ra quần chúng, phải trưng cầu dân ý, phải thỏa chí dân nguyện, tôn trọng dân và cần được nhân dân góp sức trong cuộc đấu tranh này thì mới nhanh chóng có kết quả, triển khai Nghị quyết mới có hiệu lực trong thực tiễn cuộc sống. Cũng là thực hiện lời Bác dạy: "Việc phê bình phải từ trên xuống và từ dưới lên. Cấp trên phê bình, chưa đủ. Đồng chí, đồng sự phê bình, chưa đủ. Phải hoan nghênh quần chúng phê bình nữa, thì sự phê bình mới hoàn toàn". 
Trong thực tế, thường là ích kỷ, tham lam, đầu óc còn cá nhân, thực dụng mới sinh ra hèn nhát, ngại người khác phê bình mình, khó chịu khi nghe dân phê phán, vạch ra những cái sai. Sự che giấu khuyết điểm của kẻ đớn hèn biểu hiện con người bị thiểu năng nhân cách, lừa dối dư luận, sống không thật lòng. Nó không đơn thuần ở cái lý lẽ thường thấy "tốt đẹp phơi ra, xấu xa đậy lại", mà đây chính là che giấu khuyết điểm trước để ngầm nuôi dưỡng cho khuyết điểm sau lớn hơn, "nặng đô" hơn. Có khi, sự cố tình che giấu khuyết điểm, đánh lạc hướng dư luận, thậm chí còn tìm mọi thủ đoạn, mánh lới "tự đánh bóng mình" để nhằm nuôi dưỡng cho một ý đồ, một âm mưu thâm hiểm hơn, hại xã hội, hại người khác, lợi cho bản thân mình. 
Do đó, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã yêu cầu: Mỗi cán bộ, đảng viên rất cần nêu cao tính đảng, tính trung thực, thẳng thắn, cầu thị, trên tinh thần xây dựng vì lợi ích của dân, của đất nước, vì sự trong sạch, vững mạnh của Đảng. Trước hết là các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các đồng chí Ủy viên Trung ương đều thể hiện rõ phẩm chất và bản lĩnh cộng sản kiên cường, cần có dũng khí tự phê bình và kiên quyết đấu tranh phê bình. Tự phê bình và phê bình là vũ khí sắc bén. Vũ khí tuy sắc bén nhưng cũng dễ bị vô hiệu hóa, không còn phát huy tác dụng nếu người sử dụng vũ khí không có dũng khí, không đủ bản lĩnh, lồng động cơ cá nhân, không trung thực. Phê bình, tự phê bình rất cần dũng khí như người lính ra trận mà kẻ thù chính là chủ nghĩa cá nhân.
                                                                                         Bùi Văn Bồng

Đào Tuấn : Quyền làm súc vật của con bò, quyền làm người của Cao Thái Sơn

Nguồn daotuanddk

Trong khi một số tờ báo, tự cho mình là chính thống, lên giọng đạo đức với báo "lá cải" thì một tờ báo cho mình là "giáo dục" lại cử phóng viên vác máy quay dí vào mặt những cô gái mãi dâm bị bắt. Còn QH thì bàn chuyện mãi dâm.


Chiều qua, ĐB QH Đặng Thị Kim Chi, Chủ tịch Hội phụ nữ tỉnh Phú Yên đứng trên nghị trường đề nghị ""Nếu người bán dâm phải vào cơ sở chữa bệnh thì cũng nên đưa người mua dâm vào. Bởi không có cơ sở nào nói rằng người bán dâm thì bị bệnh mà người mua dâm thì không". Quốc hội nghe câu này liền cười ồ tán thưởng.
Ngẫm ra, lời phát biểu của bà Kim Chi đúng là lẽ công bằng. Nếu người bán dâm phải vào cơ sở chữa bệnh theo diện "phục hồi nhân phẩm" thì không có lý nào người mua dâm lại không phải "phục hồi nhân phẩm". Nhớ hồi tháng 11 năm ngoái, ĐB QH Đặng Thuần Phong (Bến Tre) nói thẳng  rằng việc đưa người bán dâm vào cơ sở chữa bệnh là hạn chế quyền tự do chứ không phải chữa bệnh chữa biếc gì hết. Trong chính tờ trình của Chính phủ lần này cũng "gạch đầu dòng" hàng loạt lý do để bỏ hẳn câu chuyện "chữa bệnh", thực ra là cái "bình mới" của sự ngớ ngẩn và bảo thủ mang tên "phục hồi nhân phẩm" cũ rích. Thứ nhất: Việc đưa các cô gái vào "cơ sở chữa bệnh" thực chất là vì hành vi vi phạm của họ, chứ không phải họ bị bệnh. Thứ hai: Mục đích của việc "chữa bệnh" là cách ly họ khỏi cộng đồng, bản chất là hạn chế quyền tự do của công dân. Mại dâm là vấn đề xã hội, cần được giải quyết chủ yếu bằng các giải pháp kinh tế – xã hội, bằng sự bảo vệ, chứ không thể cưỡng từ đoạt lý mà tống một vi phạm hành chính, một đối tượng bị tổn thương, vào trại.
Sẽ không bao giờ có chuyện "Trang Trần đắc thắng với Hồng Hà", câu chuyện "phục hồi nhân phẩm" cũng sẽ trở thành tiếu lâm khi mà mại dâm được chính thức thừa nhận như một thứ nghề- một thứ lao động phải đổ không ít mồ hôi trên mồ hôi dưới.
Đức Khổng Tử có câu: Muốn chê nhà người khác bẩn, phải xem lại trên mái nhà mình có tuyết không đã. Thưa các bậc nhân phẩm cao cả. Các cô gái chẳng may bị bệnh thì người phải lo cuống lên đầu tiên là chính họ. Còn chuyện nhân phẩm ư. Khó nói lắm thưa các đồng chí chưa bị lộ.
Nghe Chính phủ trình thế, Quốc hội bàn vậy, toàn những tư tưởng tiến bộ, người mừng nhất có lẽ là…Hồng Hà. Ấy thế nhưng chính báo chí lại làm cái việc là bôi do trát chấu nhân phẩm của các cô gái. Hồng Hà hôm qua đã được cho về nhà. Khổ nỗi, cô muốn yên thân nhưng báo chí dứt khoát không cho cô yên. Một tờ báo đã cử hẳn "nhóm phóng viên" vác camera dí vào mặt cô và sau đó một clip được đăng với tựa đề "Diễn viên Hồng Hà gạt máy ảnh phóng viên khi bị quay phim".
Nhớ lại hồi câu chuyện các cô gái mại dâm bị bắt, bị "lột truồng", bị quát "bỏ tay ra" để "nhà chức trách" quay phim, chụp ảnh ở Quảng Ninh, nỗi nhục bấy giờ còn có mái tóc để che, chứ không đến mức bị báo chí chĩa máy ảnh vào mặt như bây giờ. Mới biết "lá cải" hay không "lá cải" không ở câu chuyện số lượng những bản tin "cướp hiếp giết". Và, giữa người bị quay phim vì bán dâm và người quay phim để bán sự xấu hổ của các cô gái thật khó nói ai mới là người cần "phục hồi nhân phẩm".
Xin cảm ơn Quốc hội, cảm ơn nữ nghị sĩ Đặng Thị Kim Chi. Chỉ tiếc là không ai nói thêm cho các cô gái một thứ "quyền cơ bản" là "quyền được che mặt", chí ít là bằng…báo, để khỏi bị bêu là "gạt máy ảnh phóng viên khi bị quay phim". Nếu muốn có một tiền lệ, xin hãy ngó sang báo chí nước ngoài. Ngay cả trọng phạm cũng không bị dí máy ảnh vào mặt trước khi bị tòa án tuyên là có tội. Bởi điều lớn hơn cả sự vi phạm, là quyền con người, quyền được tôn trọng nhân phẩm ngay cả khi anh phạm tội.
Tuần rồi, giới "sâu bít" lại xảy chuyện. Lần này là scandal của chàng ca sĩ "Con đường mưa" Cao Thái Sơn. Không bình luận việc đây có phải là một kiểu "lộ hàng" hay "chén sống fan hâm mộ" để tự PR. Cũng không nói đến việc có tới 30 nhà báo đến… nhà hàng và làm một cái việc là "vote cho Cao Thái Sơn là gay". Chỉ xin nói đến hai chữ "nghi án giới tính" và thái độ "bàng hoàng" mà báo chí đã dùng. Sự "bàng hoàng" đối với "nghi án" này sẽ dẫn tới một logic là: "Nghi phạm" Cao Thái Sơn mắc "tội" bị gay. Đấy, báo chí tự vỗ ngực "không lá cải" đã cho mình một cái quyền to như quan tòa dù đồng tính không phải là bệnh hoạn, không vi phạm pháp luật, thậm chí từ năm 1973, đã không còn không còn bị coi là một bệnh tâm thần nữa. Chẳng phải là vừa tuần trước, Tổng thống Mỹ Obama trả lời phỏng vấn hãng tin ABC đã nói rằng ông nghĩ các cặp đôi đồng tính nên được làm đám cưới.
Thật may cho Elton John, cho Ricky Martin, cho Lindsay Lohan vì họ không phải sống trong sự kỳ thị, không bị báo chí kết tội như ở Việt Nam.
Chuyện Cao Thái Sơn tất nhiên sẽ trôi vào dĩ vãng, bởi anh có "chuẩn men" hay không chỉ mỗi anh biết, trừ phi anh đòi cưới…chồng. Nhưng phải nhắc trước họ Cao rằng anh muốn lấy…chồng, muốn mưu cầu hạnh phúc cũng không phải là dễ.
Gương tày liếp cũng vừa đó xảy ra ở Cà Mau xa thẳm với một đám cưới có nhiều sự lạ. Lạ không phải là cả tân giai nhân và tân nương đều có… râu cằm mà ở chỗ "khách không mời" hiếu kỳ đến xem đông gấp mấy lần khách có thiệp mời đãi tiệc, và lạ nhất là chính quyền đến lập biên bản tại "hiện trường".
Bản thân sự hiếu kỳ của "hàng trăm khách không mời" đã cho thấy sự kỳ thị đối với những người đồng tính. Còn việc cử công an, dân phòng đến "lập biên bản tại hiện trường" yêu cầu "chú rể và cô dâu" ra khỏi tiệc cưới cho thấy sự mẫn cán đáng ngạc nhiên của chính quyền trong việc tẩy chay "thế giới thứ ba" và kiên quyết lùa bọn "bóng" ra khỏi luật Hôn nhân và gia đình. Khổ cho cô dâu chú rể. Họ muốn được làm người- một người thuộc thế giới thứ ba- nhưng không ai cho họ làm người. Họ muốn chỉ một điều giản dị là "mưu cầu hạnh phúc"- cũng là thứ quyền được Hiến pháp trang trọng tuyên bố, nhưng chính quyền nhất nhất cho đó là sai trái và bị dư luận xã hội ném đá bệnh hoạn.
Cách đây chưa lâu, tờ Bưu điện Washington đã kêu gọi "quyền làm súc vật" cho những con bò khi đăng trên trang nhất hình ảnh một con bò đang bị làm thịt mà không được tiêm thuốc mê, thậm chí chưa  chết hẳn trước khi bị sả thịt. Một biểu tượng về sự tàn ác của con người khi sự vô cảm với đau đớn đã trở thành phổ biến, thành bình thường.
Có thể, những con bò Mỹ, nhờ Bưu điện Washington sẽ có "quyền làm súc vật". Có thể, luật pháp Mỹ, nhờ sự ủng hộ của tổng thống đương nhiệm Obama sẽ sửa đổi để công nhận hôn nhân đồng tính. Nhưng ở ta, nhu cầu được yêu thương, mong ước được sống bình dị và hạnh phúc bên "người vợ" của những người đồng tính hơi bị khó.
Năm ngoái, khi đám cưới đồng tính nữ đầu tiên diễn ra ở Hà Nội, một quan chức Bộ VH-TT và DL phẫn nộ: "Tôi cực kỳ lên án sự kiện này, điều này không chỉ làm ảnh hưởng tới thuần phong mỹ tục của người Việt, mà còn là trái với pháp luật VN".
Thuần phong mỹ tục là gì vậy? Luật pháp phải chăng là do người ngoài hành tinh tạo ra, thưa ông quan?
Những người thuộc giới tính thứ ba, những đám cưới đồng tính có bất thường không ? Hoàn toàn không. Sự bất thường, nếu có, là ở xã hội, ở luật pháp. Một xã hội kỳ thị, ném đá những người "khác mình" là một xã hội man rợ. Một hệ thống luật pháp không bảo vệ quyền chính đáng cho dù chỉ một thiểu số công dân thì đó là thứ luật pháp không vì con người.

Song Chi. Một môi trường báo chí đang bị vẩn đục

Nguồn rfablog

Mấy hôm nay báo chí "lề phải" ở VN đang "đánh" nhau. Một số tờ báo như Sài Gòn Giải Phóng, Phụ Nữ TP.HCM... đang tấn công vào một loạt báo "lá cải" bao gồm một số trang báo điện tử, các ấn phẩm, phụ san của một số tờ báo…Những tờ này, chẳng hạn như Đời sống và Pháp luật, phản pháo lại bằng những từ ngữ cũng nặng nề không kém.

Thật sự, nhiều bậc phụ huynh ở VN từ lâu nay đã phải than trời trước tình trạng nhảm nhí, rẻ tiền, độc hại của vô vàn những trang báo mạng, trang tin điện tử kiểu như kenh14.vn, Eva.vn, 24h.com... những tờ báo in hoặc ấn phẩm như Đời sống và Pháp luật, Đời sống và Pháp luật tuần, Hôn nhân và Pháp luật thứ 7, Tuổi trẻ và Đời sống, Người đưa tin, Cuộc sống, Gia đình và Cuộc sống, Đang yêu...

Chỉ cần nhìn qua hàng loạt cái tít chưa nói đến nội dung bên trong, người đọc cũng đã hoảng hồn vì mức độ gây sốc, thô thiển, trần tục. Những đề tài ưa thích là "cướp, giết, hiếp"-khai thác tỉ mỉ chi tiết mọi vụ án; hoặc đời tư, scandal có thật và không thật của giới showbiz trong nước và nước ngoài. Với giới showbiz, mọi chủ đề vặt vãnh nhảm nhí nhất theo kiểu "nhìn qua lỗ khóa", "bà tám ở chợ" đều được khai thác tối đa. Từ những sự cố, những cảnh hớ hênh, khoe thân, lộ da thịt vô tình hay cố ý của các ca sĩ, diễn viên, người mẫu… được gọi bằng cái từ rất xúc phạm là "lộ hàng", những bài báo chạy theo bình phẩm cách ăn mặc, giá cả những bộ trang phục, trang sức, nhà cửa, xe cộ…của các sao, chuyện tình yêu, nghi án có bầu, chia tay v.v…

Ngay cả trên những tở báo điện tử (hoặc bản điện tử của những tờ báo giấy) không phải thuộc loại vô danh như VNExpress, VietnamNet, Tiển Phong, Ngôi Sao, Dân trí, Dân Việt, Công An TP.HCM…không ngày nào là không có những tin tức về "cướp, giết, hiếp". Có những vụ như vụ sát thủ Nguyễn Đức Nghĩa giết người yêu cũ rồi chặt đầu để phi tang, sát thủ Lê Văn Luyện giết hại cả gia đình một chủ tiệm vàng…báo chí khai thác đến tận cùng mọi chi tiết, những người thân của sát thủ và nạn nhân cũng bị đưa vào các bài báo…

Trong những vụ hiếp dâm cũng vậy, ngay cả khi nạn nhân còn ở lứa tuổi đang đi học, một số tờ báo tiếng là viết tắt hoặc đổi tên nạn nhân nhưng lại đưa tên trường, tên lớp, có khi đưa cả địa chỉ thì nhiểu người quen biết cũng có thể đoán ra nạn nhân là ai, khiến nạn nhân vốn đã chịu đau đớn tủi nhục càng thêm xấu hổ, khó mà tiếp tục sống yên với dư luận hàng xóm láng giềng. Nếu là những vụ án mua dâm có dính dáng đến những người mẫu, hay diễn viên có chút tên tuổi, báo chí càng lao vào khai thác. Bản thân cô người mẫu, diễn viên đó sinh năm nào, quê quán ở đâu, đã từng đóng phim gì…đểu được trưng ra trên báo. (Nhưng những kẻ bỏ ra hàng ngàn đô để mua dâm cô người mẫu, diễn viên kia mà nhiều phần phải là giới có tiền, nếu không là đám quan lại tham nhũng thì cũng là đám tư bản đỏ dư tiền để chơi bời, thì lại không bị nhắc đến, cũng chẳng bị trừng phạt gì). Có khi vụ án đã mươi năm trước, cô người mẫu, diễn viên từng là gái bao, gái điếm, bây giờ đã có gia đình, cuộc sống yên ổn, vẫn bị báo chí nhân dịp này khui lại…

Trong cái cách làm báo của nhiều phóng viên, nhà báo bây giờ, thấy rõ họ không hề có chút lương tâm, hay lòng nhân đạo nào. Ngược lại, phải nói là họ ác, quá ác.

Với những vụ án, những vụ mua dâm, hiếp dâm, người làm báo không lương tâm đã giết thêm nạn nhân một lần nữa, và giết luôn những người có liên quan-cha mẹ, họ hàng, người yêu, chồng hay vợ, con cái…của nạn nhân và cả của thủ phạm. Không những thế, họ còn đầu độc người đọc ở lứa tuổi thiếu niên, vị thành niên.

Một kẻ phạm tội giết người chỉ giết vài ba mạng, cùng lắm một kẻ sát nhân hàng loạt hoặc một tên khủng bố đặt bom có thể giết vài ba chục, thậm chí vài trăm mạng người. Nhưng một bài báo độc hại thì có thể đầu độc hàng ngàn, hàng vạn người. Và nếu cả một môi trường báo chí tràn ngập báo "lá cải", tràn ngập cỏ dại như hiện nay thì rõ ràng báo "lá cải" đã góp phần đầu độc cả một thế hệ.

Báo "lá cải" đã và đang tồn tại ở nhiều quốc gia. Nhưng ở những quốc gia phát triển có những tiêu chuẩn, ranh giới rõ ràng, báo "lá cải" có chỗ đứng riêng, không nhập nhằng với báo tử tế, báo chính luận. Không có hiện tượng báo đàng hoàng nhưng thỉnh thoảng vẫn có những thông tin, bài báo mang tính giật gân rẻ tiền, khai thác sâu và tỉ mỉ những vụ án hoặc đời tư giới showbiz; hoặc báo đàng hoàng nhưng lại có thêm những ấn phẩm, phụ bản "lá cải" như ở ta. Thứ hai, ở những quốc gia phát triển có một hệ thống luật pháp rõ ràng, nếu một tờ báo là cải đưa tin bịa đặt, vu khống, làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, đời sống tinh thần, vật chất…của một cá nhân hay một cơ quan, tổ chức, sẽ bị cá nhân/cơ quan/tổ chức đó kiện và có khi sập tiệm, chứ không phải đã là báo "lá cải" thì muốn viết thế nào thì viết.

Trong khi đó, ở VN, các nhà báo có vẻ hết sức tự tin rằng không ai làm gì được họ, chuyện kiện tụng một tờ báo cũng mệt mỏi, mất thì giờ và thường là công cốc như mọi vụ kiện tụng khác, nên thường là nạn nhân đành cho qua.

Đừng hỏi tại sao những vụ án cướp của, hiếp dâm, giết người ở VN ngày càng nhiều, với mức độ dã man ngày càng tăng, với chân dung những kẻ thủ phạm, thủ ác ngày càng muôn mặt, có thể là bất kỳ ai trong xã hội và cũng ngày càng trẻ hóa hơn. Đôi khi chỉ mới là học sinh lớp 8, lớp 9 đã phạm trọng án rồi.

Đừng hỏi tại sao môi trường showbiz Việt ngày càng lắm trò nhăng nhố, với những màn khoe thân khoe của lố lăng, với phong cách sống chụp giựt, đi tắt, chọn cách gây scandal để chóng nổi tiếng, hoặc thực dụng hơn bao giờ hết, chỉ muốn sống sướng, nhà lầu xe hơi trang sức đắt tiền…bất kể kiếm tiển bằng cách nào…Chính báo chí "lá cải" đang góp phần kích thích lối sống ấy khi suốt ngày chạy theo đưa tin ngôi sao này sắm bộ váy hàng ngàn đô la Mỹ, ngôi sao kia tậu xe tiền tỷ, ngôi sao nọ có bồ đại gia…

Nhưng suy cho cùng, báo chí băng hoại cũng chỉ là một phần trong cà bức tranh xã hội VN băng hoại về mặt đạo đức hôm nay mà thôi!

CUA RẬN : "BẠN ĐỜI ƠI! HÃY TIN, HÃY YÊU VÀ HÃY... ĐỢI!" ("thâm" niên nhà giáo!)

Nguồn cuaran

Nghe tin Đảng và Nhà nước quan tâm đến nghiệp gõ đầu trẻ: cho các Nhà giáo được hưởng thâm niên từ tháng 5/2011. Úi giời ơi... mừng ơi là mừng!

 
          Các ông bà giáo nông thôn vốn bị bệnh viêm màng túi kinh niên bắt đầu ngồi tính cua trong lỗ. Từng tốp từng tốp các ông các bà giáo hấp háy mắt, mặt mũi rạng ngời phấn khởi thi nhau hí hoáy tính ra nào là mình sẽ được thêm bao nhiêu phần trăm… vậy thì thành tiền là bao nhiêu bao nhiêu…Sướng!

          Tháng 8 năm ấy… thấy im thít! Chắc nhà nước đang chuẩn bị tiền. Yên tâm đợi.

          Tháng Mười…vẫn năm ấy… lặng như tờ. À thì ra chưa có văn bản hướng dẫn. Yên tâm. Chả sao… chắc là sắp có!

          Tháng Mười hai…năm ấy… vưỡn chưa động tĩnh. Tự an ủi. Chả sao! Tết này truy lĩnh một cục, những mấy triệu bạc… chắc sẽ có cái tết kha khá.

          Tết Rồng giáng..."Mừng Đảng, mừng Xuân" và mừng hụt… vì vẫn chả thấy mặt ngang mũi dọc thằng thâm niên ở chỗ nào. Cái thằng này đến là giỏi trốn… Tự dưng các ông bà giáo thành ra những kẻ nói khoác vì mọi lời hứa với con cái đều thành hứa hão.

          Tháng Ba năm nay thấy bắt đầu triển khai. Phải thế chứ. Mười tháng rồi còn gì. Vậy là lại ngồi tính xem mình được bao nhiêu. Rồi tính cả phần truy lĩnh mười tháng thâm niên. Hỉ hả lắm.

          Nhưng Nhà nước rất cẩn thận. Quyết tâm phòng chống tham nhũng triệt để. Đề phòng cánh giáo viên khai gian năm công tác để hưởng nhiều phần trăm thâm niên… Cho nên yêu cầu phải xuất trình các quyết định từ khi bắt đầu ra trường dạy học.

          Khốn khổ cho những anh nhiều năm công tác thâm niên cao.  Biết lấy đâu ra quyết định tuyển dụng, quyết định hết tập sự bây giờ. Vì ngày xưa có anh nào được cầm những thứ ấy đâu. Tất cả đều được cấp trên quản lý theo chế độ "Mật". Nếu có chuyển từ cơ quan này sang cơ quan khác thì hồ sơ được niêm phong đóng dấu bảo mật chuyển đi. Giá người ta có phê vào lý lịch là phản động thì đương sự cũng chả hề hay biết. Hồ sơ phải do cấp Phòng, Huyện quản lý vì ngày ấy Nghị quyết đã đề ra mỗi huyện phải là một pháo đài…

          Vậy là nhao nhao lên phòng lên huyện tìm hồ sơ. Bây giờ mới biết bọn mối mọt là kẻ thù trực tiếp. Và tiếc thay cái lệnh cấm pháo của Chính Phủ mãi đến năm 1994 mới ban hành. Vì trước đấy người ta  chỉ "bảo mật" mà có chịu"bảo quản" đâu… Nơi để hồ sơ của các cái gọi là "pháo đài" nhà dột, mối xông, cửa mở toang hoang để bọn trẻ con thoải mái đột nhập vào kiếm giấy cuộn pháo…

 
          Rồi cũng tạm xong! Đã sang tháng sáu…

          Hôm nay thấy hồ sơ đợi duyệt thâm niên vẫn nằm im thin thít trong góc phòng. Hỏi bao giờ mới duyệt? Cứ yên tâm. Chưa có lịch. Mà mỗi huyện hàng mấy nghìn cán bộ giáo viên. Duyệt, thẩm định, ra quyết định và… ký; Ba đầu sáu tay cũng phải dăm tháng nữa mới xong chứ tưởng bỡn…

          Ối giời ơi!

          Lại tiếp tục đợi!

          "Tuyệt đối tin tưởng vào chủ trương chính sách của Nhà nước và các quy định của pháp luật" bao giờ cũng phải ghi câu ấy vào tự kiểm điểm cuối năm. Vậy nên chả dám ngẫm ngợi gì. Chỉ có cái cổ dài ra mỗi ngày…

          Chợt nhớ câu hát của bác Hoàng Vân: "Bạn đời ơi, hãy tin hãy yêu…"

          Chí lý! Hãy tin hãy yêu và hãy... đợi!