Thứ Ba, 5 tháng 2, 2013

Tường thuật cuộc gặp gỡ đoàn đại biểu các nhân sĩ trí thức kí tên vào bản kiến nghị sửa đổi Hiến pháp với đại diện Ủy ban sửa đổi Hiến pháp của Quốc hội

Post lại từ quechoa

Nguyên Bộ trưởng Nguyễn Đình Lộc (phải) trao bản kiến nghị sửa đổi Hiến pháp cho Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Lê Minh Thông

Nguyên Bộ trưởng Nguyễn Đình Lộc (phải) trao bản kiến nghị sửa đổi Hiến pháp cho Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Lê Minh Thông

Bình luận của Huy Đức: Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc (1992-2002) hiểu rõ lịch sử sao chép (từ phe xã hội chủ nghĩa) của Hiến pháp 1959, 1980, ông là Trưởng ban Biên tập Hiến pháp 1992, Trưởng ban soạn thảo Bộ luật Dân sự… Việc ông làm Trưởng đoàn đại biểu trí thức trình bản kiến nghị 7 điểm sửa đổi Hiến pháp 1992 là dấu hiệu cho thấy sự thay đổi sâu sắc trong nhận thức về dân chủ của những đảng viên cao cấp và đặc biệt cho thấy, những ai có trách nhiệm với đất nước sẽ không thể ngồi yên để những tư duy đã chết chi phối tiến trình hình thành nền tảng pháp lý cho tương lai của Việt Nam.

Hồi 10h sáng thứ Hai 4-2-2013, một đoàn đại biểu gồm 16 nhân sĩ trí thức, đại diện cho 72 người đầu tiên trực tiếp ký tên và hàng ngàn đồng bào đã tham gia ký tên vào bản "Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992", đã đến Địa điểm tiếp nhận ý kiến đóng góp của nhân dân tại 37 Hùng Vương, Hà Nội, để trao bản Kiến nghị cho Ủy ban.

Thành phần Đoàn đại biểu gồm: Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội; Phan Hồng Giang, TSKH ngành nghiên cứu văn học, Hà Nội; Lê Công Giàu, nguyên Phó Bí thư thường trực Đoàn TNCS HCM – TPHCM, TPHCM; Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ KH & CN, Hà Nội; Phạm Duy Hiển, nguyên Phó Viện trưởng Viện năng lượng nguyên tử Việt Nam, Hà Nội; Vũ Đức Khiển, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội, Hà Nội (vắng mặt đột xuất); Tương Lai, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội; Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội; Hồ Uy Liêm, nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội KH & KTVN, Hà Nội; Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hà Nội (Trưởng đoàn); Huỳnh Tấn Mẫm, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, TPHCM; Nguyên Ngọc, Nhà văn, Hội An; Hoàng Xuân Phú, GS, Viện Toán học, Hà Nội; Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa-Giáo dục & Thanh thiếu niên-Nhi đồng Quốc hội, Hà Nội; Nguyễn Trung, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội; Tô Nhuận Vỹ, Nhà văn, Huế.

 

Trước đó, Đoàn đã thông báo mời một số báo chí tới tham dự, đưa tin.

Tiếp Đoàn có ông Lê Minh Thông, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Phó Ban Biên tập dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 và một số cán bộ trong Văn phòng Ủy ban sửa đổi Hiến pháp.

Phóng viên các báo Thanh niên, Tuổi trẻ, VietnamNet đều có mặt.

Sau đây là một số hình ảnh và nội dung phát biểu:

DSC01103

Nguyên Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc, Trưởng đoàn, ký vào văn bản gửi Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992

Ông Lê Minh Thông: Thay mặt cho Ban biên tập, chúng tôi nhiệt liệt chào mừng các bác đến Văn phòng của Ủy ban sửa đổi Hiến pháp để thăm và trao đổi công tác. Tôi xin giới thiệu tôi là Lê Minh Thông, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội, Phó trưởng ban thường trực Ban biên tập Ủy ban sửa đổi Hiến pháp. Xin được thay mặt Ban biên tập một lần nữa xin được kính chào các bác, chúc các bác sức khỏe (vỗ tay). Và thay mặt Ban biên tập, chúng tôi xin được rất hân hạnh lắng nghe ý kiến các bác. Làm việc với các bác hôm nay có tôi và các đồng chí chuyên viên của Văn phòng Ủy ban sửa đổi Hiến pháp. 

Ông Chu Hảo: Có lẽ anh Thông cho phép tôi được giới thiệu các thành viên trong đoàn (Nội dung như ở trên). Sau đây chúng tôi xin được mời Trưởng đoàn của chúng tôi phát biểu.

2 (1)

Ông Nguyễn Đình Lộc: Thực ra tôi và các anh bên Quốc hội cũng rất là quen, vì tôi … (cười) … Nhưng có lẽ theo tôi là chúng ta nên bình thường hóa cái quan hệ này đi, xem đây là một sinh hoạt rất bình thường, sinh hoạt dân chủ. Nhưng mà dù sao thì tôi cũng phải có vài lời cho rõ: 

Kính gửi Ủy Ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. Chúng tôi những công dân có tên trong danh sách 16 người kèm theo đại diện cho 72 người đã trực tiếp ký tên vào "Kiến nghị sửa đổi Hiến pháp 1992" và hàng ngàn người khác đã tham gia ký tên tiếp. Hôm nay đến địa điểm tiếp nhận ý kiến đóng góp của nhân dân tại 37 Hùng Vương để trao Bản Kiến nghị cho quý Ủy Ban.

Việc chuẩn bị cho Bản kiến nghị đã được thực hiện một cách công phu lấy ý kiến nhiều chuyên gia pháp luật, các vị nhân sĩ nguyên là lãnh đạo Quốc hội, Đảng, Chính phủ, các nhân sĩ tri thức đã từng tham gia nghiên cứu, đóng góp nhiều ý kiến sâu sắc để sửa lỗi Hiến pháp trong những năm qua. 72 người đã đi đến nhất trí về ký tên ban đầu vào Bản Kiến nghị thể hiện ý thức trách nhiệm của mình đối với vận nước. Ngày 22 tháng 01 năm 2013, chúng tôi đã chính thức công bố toàn văn Bản Kiến nghị và Dự thảo trên trang mạng boxit để lấy ý kiến đóng góp của mọi người dân khắp trong và ngoài nước. Có hơn 2000 chữ ký nhất trí với nội dung Bản Kiến nghị, ngoài ra còn rất nhiều ý kiến đóng góp chân tình, có giá trị của người dân. Với mong muốn đem trí tuệ của mình, kiến thức tập thể, ý nguyện đông đảo người dân tới người có trách nhiệm nhất góp phần cho Bản Hiến pháp mới thực sự của dân, do dân, vì dân, những người tham gia xây dựng Bản Kiến nghị thống nhất cử một số đại diện đảm bảo Kiến nghị này trực tiếp gửi tới Ủy Ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Ngoài bản Kiến nghị này, có tài liệu tham khảo là Bản Dự thảo Hiến pháp năm 2013 làm rõ các nội dung rất mới mẻ trong đó. Cũng để tăng cường hơn nữa ý kiến đóng góp của người dân, mong Ủy ban Dự thảo cho công bố với báo chí tóm tắt tinh thần Bản Kiến nghị này của chúng tôi. Đấy là tôi nói vắn tắt. (Ông Nguyễn Đình Lộc trao bản Kiến nghị cho ông Lê Minh Thông. Vỗ tay).

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Ông Lê Minh Thông: Trước hết là thay mặt cho Ban biên tập, tôi xin được nhận Bản Kiến nghị của các bác. Và trách nhiệm của Ban biên tập là chúng tôi sẽ báo cáo với Ủy ban sửa đổi Hiến pháp về Kiến nghị của các bác, còn việc lắng nghe cái ý kiến kiến nghị như thế nào thì thuộc thẩm quyền của Ủy ban Sửa đổi Hiến pháp. Trách nhiệm của chúng tôi sẽ chuyển đến tận tay các đồng chí trong Ủy ban Sửa đổi Hiến pháp. Xin được cám ơn các bác! Các bác còn có ý kiến gì nữa không ạ?

Ông Nguyễn Đình Lộc: Tôi thì … tôi nghĩ những buổi như thế này thì cũng nên là ngồi lâu lâu tí chăng? Chúng ta tạo cái sinh hoạt dân chủ trong … của đất nước. Nên xem đây là sinh hoạt dân chủ, vì chúng tôi với tất cả thành tâm mà đến đây, không có một ý đồ nào khác. Và chắc các anh tiếp chúng tôi cũng vì … đây là những người thành tâm đến với chúng ta.  Nhưng mà … là sự ban đầu. Mọi sư ban đầu bao giờ cũng có cái bỡ ngỡ của nó. Nhưng mà ,trước lạ sau quen, tôi nghĩ rằng dần dần rồi chúng ta tạo ra cái không khí dân chủ, để mọi tiếng nói dân chủ đều có thể bọc bạch ra được.  Cho nên tôi nghĩ là … anh Trung xem có ý kiến gì thêm nói thêm nữa ? …

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Ông Nguyễn Trung: Trước hết tôi rất hoan nghênh việc đồng chí đã đại diện cho Ủy ban sửa đổi Hiến pháp tiếp chúng tôi và tiếp nhận chính thức Bản Kiến nghị của chúng tôi và đồng thời tiếp nhận luôn cả cái Hiến pháp mẫu để tham khảo.

Cho tôi xin nói một vài suy nghĩ thế này. Hiến pháp là một việc cực kỳ hệ trọng, quyết định vận mệnh của một quốc gia, nó lại là một văn bản thiêng liêng nhất, tối cao nhất đối với cả nước. Cho nên tôi nghĩ rằng cái việc lần này tiến hành sửa đổi Hiến pháp là một cái sinh hoạt chính trị cực kỳ quan trọng của đất nước. Xin cho phép tôi nói thế này, một cách rất thẳng thắn: hiện nay phải nói rằng dư luận trong nước đã rất sôi nổi xung quanh vấn đề này. Rất không may là tự nhiên nó hình thành ra hai cái loại, xưa nay vẫn có một cái danh từ tôi không biết ai đặt cho, một bên là dư luận của báo chí "lề phải", một bên là dư luận của báo chí "lề trái". Tôi nghĩ rằng là cái sự phân chia như vậy nó rất không nên và tôi nghĩ rằng về phía nhà nước là những người đang trực tiếp được dân ủy nhiệm tiến hành những cái việc như thế này nên làm sao có một cái thống nhất hay là một cái trao đổi giữa các báo chí, giữa các luồng dư luận khác nhau để mà đừng có cái chuyện lề trái, lề phải nữa. Lề trái hay lề phải, nhưng mà vấn đề Hiến pháp là Hiến pháp của cả nước. Cho nên việc đầu tiên tôi xin đề nghị nên có một cái cách gì đó làm sao để mà có một cái thực sự một cái diễn đàn của nhân dân bàn về những vấn đề vận mệnh của đất nước. Đó là ý kiến thứ nhất.

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Ý kiến thứ hai tôi cũng thấy rằng, tiếc rằng cho đến nay tất cả những báo chí chính thống của chúng ta hầu như là đứng ngoài cuộc. Và thậm chí là có những cái gì mà đưa lên thì lại đưa lên một chiều thôi. Còn rất nhiều cái ý kiến khác thì tôi thấy rằng là hầu như là vắng bóng, tôi nghĩ rằng là bây giờ nên giao nhiệm vụ cho các báo chí chính thống đang được nhà nước ủy nhiệm vai trò báo chí làm sao cũng phải sưu tầm những cái tiếng nói xây dựng chung quanh cái chuyện sửa đổi Hiến pháp này để thực sự nó trở thành một vấn đề thảo luận, chứ đừng để cho cái việc xây dựng Hiến pháp nó chỉ là một bên nói, một bên không nghe hoặc ngược lại. Thì như thế là nó không thể nào hình thành được một cái diễn đàn mà nhất là vấn đề xây dựng Hiến pháp bây giờ lại là vấn đề hết sức hệ trọng đối với đất nước.

Ý thứ ba cho phép tôi nói thế này, sự thực ra tình hình đất nước của chúng ta hiện nay đang có rất nhiều vấn đề vừa là những cái thách thức cực kỳ lớn, rất nguy hiểm nhưng mà đồng thời cũng là những cơ hội rất lớn. Cho nên tôi nghĩ rằng, việc sửa đổi Hiến pháp lần này hoặc là cái việc viết lại, viết Hiến pháp mới nó là cái cơ hội vô cùng lớn. Có thể từ cái chỗ này chúng ta tạo ra được một cái sức mạnh của dân tộc, cái ý chí của dân tộc để mà giải quyết những các thách thức đất nước bây giờ đang phải đối mặt cũng như là để giải quyết những các nhiệm vụ bây giờ đất nước phải làm.

Cho nên bây giờ chúng tôi rất thiết tha đề nghị với Ủy ban Sửa đổi Hiến pháp quan tâm đến chuyện này và lưu ý đến những các đề nghị của chúng tôi. Nhất là chúng tôi thiết tha đề nghị nên có một diễn đàn công khai, cởi mở. Một cái diễn đàn này mà tôi nghĩ rằng là hoàn toàn trong tầm tay tổ chức chứ không phải là có vấn đề gì trừ phi là chúng ta sợ cái sự thảo luận công khai thì chúng ta không dám làm. Còn nếu chúng ta thật sự vì quan tâm đến vận mệnh của đất nước, thực sự là vì muốn cần phát huy cái ý chí của nhân dân, thực sự cần một cái sự đồng tâm nhất trí rất cao độ, nó gần như là một cái dạng Diên Hồng mới cho một thời điểm vô cùng quan trọng của đất nước, thì tôi đề nghị một cái diễn đàn như vậy. Dân tộc này hoàn toàn đủ trưởng thành để mà có một cái diễn đàn như vậy. Tôi không nghĩ rằng chúng ta làm được một cái diễn đàn như thế, những cái người nào xấu, những cái người nào mà muốn lật đổ cái đất nước Việt Nam này có thể có chân trong cái diễn đàn đó được. Đấy là một cái đề nghị rất thiết tha của chúng tôi. Xin hết.

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Ông Lê Công Giàu: Tôi xin có ý kiến! Mấy hôm nay trong TP HCM cũng có một số cuộc họp, Câu lạc bộ Hưu trí, rồi vân vân … Một số anh em ngồi lại với nhau cũng có trao đổi về vấn đề sửa đổi Hiến pháp. Có một điều mà anh em đề nghị tôi rất là cấp bách đó là vấn đề kéo dài thời gian góp ý. Vì hiện nay quy định là 3 tháng mà "tháng giêng là tháng ăn chơi", hết một tháng rồi. Mà ngay cái việc triển khai xuống cho đến tận tay người dân đến giờ này vẫn chưa có nhiều cái thông tin. Ngay Bản Dự thảo thì cũng chỉ mới đưa xuống một vài nơi. Cho nên tôi đề nghị cái này là … cái này là rất cấp bách: đề nghị gia hạn thời gian cho góp ý Hiến pháp, mà chúng tôi đề nghị, trong cái bản đề nghị chung này chúng tôi cũng đã có rồi đấy, rất nhiều anh em nhắc đi nhắc lại là nếu có dịp thì anh phải nói đề nghị Ủy ban Soạn thảo Hiến pháp rồi trình ra cho cấp có thẩm quyền kéo dài cái này ra 1 năm thì mới đủ thời gian để anh em và dân chúng góp ý. Chứ đâu phải Hiến pháp là ai cũng có thể móc từ bụng ra nói được ngay mà phải trao đổi thảo luận và phải có thời gian để mà suy nghĩ, nghiên cứu. Thì tôi xin đề nghị là nhấn mạnh cái điểm thời gian là 3 tháng, mà trừ tháng tết là còn có 2 tháng rất là gấp. Không thể nào là một cái Hiến pháp mà có thể 5 năm, 10 năm, 20 năm nữa mới thay đổi mà lại chỉ có thể làm trong 2 tháng thì có lẽ đối với chúng ta ai cũng thấy cái điều đó nó quá cấp bách, rất là khó thực hiện. Và nếu như thế là sẽ làm qua loa, làm cho nó có hình thức thôi chứ không thể nào nó có chiều sâu được. Tôi xin hết.

7

Ông Phạm Duy Hiển: Tôi xin có một ý kiến, ngắn thôi. Chúng tôi ở đây cũng nhiều lần là cũng được các ban của Quốc hội mời đến để mà tham vấn về chuyện này chuyện khác, lần này thì không được mời nhưng mà chúng tôi tự động có cái ý kiến gửi. Tôi chỉ rất mong là làm thế nào những ý kiến này được phản hồi, mà tốt nhất là được phản hồi trong một cái cuộc ngồi lại giữa những người Sửa đổi Hiến pháp và những người lãnh đạo Quốc hội cùng đối thoại với chúng tôi để xem chúng tôi sai ở chỗ nào. Rất mong!

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Ông Nguyễn Đình Lộc: Tôi xin phát biểu thêm một ý kiến. Hôm nay chúng ta nói đến Hiến pháp mà Hiến pháp thì chúng ta biết được về mặt lý luận chúng ta xác định rõ, mà ngay Tư sản cũng đã xác định rõ là luật cơ bản. Vừa rồi tôi cũng đột nhiên được đọc một tác phẩm về Mác, chính ông Mác cũng nói: Hiến pháp là luật cơ bản … Cái chữ "cơ bản" của ông ấy rõ lắm. Nhưng mà hiểu như thế nào được đầy đủ các từ đó, rồi tính đến cái việc vận dụng vào xã hội ta như thế nào? Thì có một điều mà tôi băn khoăn như thế này:

Thật ra, nhân dân đã quan tâm đến Hiến pháp chưa? Bao nhiêu người quan tâm? Người nông dân ai nghĩ đến Hiến pháp? Cho nên làm thế nào những cái dịp như chúng ta tổ chức lấy ý kiến hiện nay phải là một cái cơ hội để làm thế nào để tuyên truyền thật rộng rãi đến những kiến thức rất là cơ bản nhưng cũng là tối thiểu có thể đến được đối với người nông dân. Không thì người dân vẫn cứ dửng dưng mà mình thấy hơi lo, hơi lo là vì cơ bản như thế mà mình xem thường thì tức là tai họa rồi. Thật ra đấy là một sự lãng phí rất lớn trong quá trình phát triển cái nền văn bản pháp luật, nền văn bản Hiến pháp. Đấy là một sự lãng phí rất lớn. Nhưng mà vì tình hình nó như thế cho nên chúng ta có vẻ như là chấp nhận nó và xem đó như là một việc bình thường trong sinh hoạt của chúng ta. Cho nên rõ ràng đó là một tai họa. Vì vậy những dịp như chúng ta đang thực hiện hiện nay, thì phải thấy rằng đây là một thời cơ, cơ hội rất lớn cho chúng ta và các cơ quan có trách nhiệm, mà tôi nghĩ rằng là chính Quốc hội của chúng ta chứ không phải ai khác, phải là cơ quan đi đầu trong việc như vậy. Vì vậy tôi thấy rằng là nếu mà Quốc hội chúng ta lại lặng lẽ như thế này như hiện nay ý thì thực ra cũng là đáng tiếc. Nên như thế là một sự lãng phí rất lớn vì loài người đã đi đến cái Hiến pháp hàng 2, 3 thế kỷ nay rồi. Thế mà bây giờ chúng ta cứ lẽo đẽo chạy theo mà chạy không kịp chứ không phải chạy đuổi. Thường thường anh đi sau phải nhanh hơn anh đi trước thì thực tế bây giờ chúng ta lại lẽo đẽo đi sau. Và vì vậy mà cái kiến thức Hiến pháp rất cơ bản đó, hết sức thiêng liêng đó, hết sức quý giá đó, hết sức giá trị đó lại thật ra treo lơ lửng, ai cũng nhìn thấy được nhưng không ai thấy nó phải làm gì cả.

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Cho nên tôi nghĩ rằng là không biết làm thế nào đây, phải chăng vừa rồi như anh Trung nêu ý kiến, phải chăng là phải biến những cái dịp này tổ chức nhiều hội thảo và tìm ra những cái ý kiến nó mạnh mẽ đối với nhau, để tìm ra cái… Và tôi nghĩ rằng anh em phải nói rằng là phía Nam mạnh hơn ở chỗ này, vì miền Bắc chúng ta có một thời gian dài là theo Hiến pháp Sô viết, mà Hiến pháp Sô viết là Hiến pháp Stalin, mà Hiến pháp Stalin, Hiến pháp Lênin là nói chuyên chính thôi. Bây giờ thì không khí khác hẳn. Nói đến Hiến pháp thì không thể nói đến chuyên chính. Đương nhiên đó là công cụ quan trọng nhưng mà nó chủ yếu không phải để chuyên chính, để mà thay đổi xã hội, để mà phát triển xã hội. Nhưng mà bây giờ ý kiến ấy chúng ta nói được với nhau, thuyết phục không đơn giản. Cho nên … không biết là … Có anh Thông chủ trì thế này là may quá, cho nên nêu vấn đề này để rồi làm thế nào để  tri thức Hiến pháp, văn hóa Hiến pháp nó lan rộng trong nhân dân như là làn sóng. Tôi nghĩ là rằng là một thuận lợi rất cơ bản, nếu bỏ qua là một sự lãng phí, đáng trách và đáng phê phán. 

Ông Tương Lai: Tôi thì cũng có dịp theo dõi và biết được anh Thông cũng đã có phát biểu trên diễn đàn Quốc hội, trên báo chí. Thế nó có một cái tình cờ thế này, ở trong đoàn hôm nay đi là có 3 người, trước hết là có anh Lộc, nguyên Bộ trưởng Tư pháp, trưởng Ủy ban mà do Quốc hội và Bộ Khoa học công nghệ thành lập gọi là Ủy ban … gì nhỉ … duyệt về thảo luận Hiến pháp do anh Lộc làm trưởng ban (ông Lộc: cũ rồi) và anh Vũ Đức Khiển và tôi cũng có dịp được tham gia vào trong … Tôi nghĩ cách đây cũng 5 năm rồi anh Lộc ạ, và hôm ấy ông Lộc có một cái kết luận tôi nhớ mãi sau đó ông Nguyễn Khánh cũng là thành viên của Ban ấy cũng nhấn mạnh là các anh lưu ý ý anh Lộc là cái đề tài mà Bộ Khoa học công nghệ trao hồi ấy cho cái viện của anh Đường, sau này là anh Thảo phụ trách đấy, là lập một cái đề tài cấp nhà nước về sửa đổi Hiến pháp. Mà phải thành đề tài cấp nhà nước và làm trong mấy năm, một cái chi phí khá lớn, cái số tiền bỏ ra khá lớn nhưng mà vấn đề là làm thế nào để qua cái này nâng cao hiểu biết về pháp luật, về dân trí. Bởi vì muốn nói thực thi dân chủ mà dân, trình độ dân không am hiểu về luật pháp, không có tinh thần thượng tôn luật pháp thì rất khó để mà thực thi dân chủ.

Từ bấy đến nay thì vô hình chung hôm nay cả 3 thành viên đó có mặt trong đoàn đến đây để mà đưa cái kiến nghị ra. Thì chúng tôi nghĩ như thế này, tại sao chúng tôi làm cái việc kiến nghị sửa đổi Hiến pháp và trong một thời gian vắn tập trung cao độ trí tuệ của một nhóm người. Bên cạnh cái kiến nghị là đưa ra một cái dự thảo Hiến pháp mới dựa trên những cái thành tựu mà như là anh Lộc đã trình bày, vượt qua cái thời kỳ, cái tư duy của Stalinit, Maoit về chuyên chính vô sản. Và đã gọi là chuyên chính vô sản thì không thể có một cái Hiến pháp là công cụ của dân để mà kiểm soát nhà nước.

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Thực chất Hiến pháp là Bộ luật cơ bản để mà ai kiểm soát ai, là dân kiểm sát cái quyền lực, để dân trao quyền mà không bị mất quyền. Đó là cái bi kịch lớn nhất của loài người từ xưa đến nay mà đến bây giờ vẫn chưa vượt qua được. Nhưng mà dù sao những thành tựu của văn minh nó cũng đã bước những cái bước tiến để nó đạt tới cái chỗ là dân qua công cụ của pháp luật mà trước hết là qua Hiến pháp – cái đạo luật cơ bản mà anh Nguyễn Đình Lộc vừa nói để mà kiểm soát quyền lực của nhà nước, để nhà nước không phải muốn làm gì thì làm mà nhà nước chỉ làm được những cái việc mà luật pháp cho phép, còn dân thì được làm tất cả những việc gì mà luật pháp không cấm. Và như vậy thì không thể có khái niệm về chuyên chính vô sản được, cho nên cái đó phải loại trừ ra khỏi đời sống tinh thần của đất nước thì mới có thể bàn tới chuyện Hiến pháp. Chừng nào còn giữ cái tư duy ấy, chừng ấy không thể có Hiến pháp và mọi cái sự sửa đổi vụn vặt đều trở nên vô nghĩa. Cái tinh thần ấy chính là tinh thần chúng tôi đưa ra trong Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp. Và đó cũng là tinh thần mà trí tuệ dồn vào để đưa ra như là một tài liệu tham khảo về Hiến pháp sắp tới của một nước Việt Nam dân chủ.

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Chúng ta đã bao nhiêu núi xương sông máu đổ ra để giành được độc lập, nhưng mà có độc lập mà không có tự do, không có dân chủ, không có hạnh phúc thì độc lập không có ý nghĩa gì. Điều này thì nó trở thành câu nói cửa miệng của mọi người rồi. Nhưng mà trên thực tế chúng ta mới có độc lập nhưng mà chúng ta chưa có dân chủ, chưa có tự do. Trên thực tế cho đến hiện nay là nông dân, bà con Dương Nội vẫn đang ngồi biểu tình và trên những cái video mà phi chính thức đó, ngoài luồng đó thì vẫn thấy là dân… Mặc dầu là trong những cái diễn văn thì chưa bao giờ những cái từ "vì dân", "phục vụ dân", "gần dân" nó lại nhiều như bây giờ. Và dân nói là gần dân, phục vụ dân và đừng thụi dân như người ta đang thụi dân trên, ngay cả vấn đề đối với bà con Dương Nội, bà con Văn Giang. Cho nên cái Hiến pháp này tôi đề nghị, nhân ở đây thì đề nghị là các vị ở trong cái … tiếp nhận ý kiến sửa đổi Hiến pháp làm sao để lắng nghe cho được cái tiếng nói của dân. Và trong tiếng nói của dân thì có tiếng nói của cái nhóm trí thức mà chúng tôi đã kiến nghị, thì chúng tôi xin có ý kiến thêm là như vậy.

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Ông Nguyễn Đình Lộc: Thôi như thế có lẽ cũng là … Mở đầu tôi nghĩ cũng là tốt rồi. Mong có thể được gặp lại. Và thay mặt cho các đồng chí anh em ở đây xin được cám ơn đồng chí Thông và tất cả anh em ở Ủy ban đã giành thời gian ưu tiên cho chúng tôi trong những ngày bận rộn này của các anh để tiếp chúng tôi, tuy cũng không được dài lắm nhưng cũng đậm đà rồi đấy. Tin xin chia tay, cám ơn. 

Ông Lê Minh Thông: Một lần nữa tôi xin thay mặt cho Ban biên tập chúng tôi xin cám ơn các bác đã bố trí thời gian đến trực tiếp gặp Ban biên tập và chúng tôi sẽ chuyển Kiến nghị của các bác đến các cơ quan có thẩm quyền để xem xét các Kiến nghị của các bác. Tết Nguyên đán sắp tới, xin thay mặt Ban biên tập chúc sức khỏe các bác, chúc cho một Năm mới các bác và gia đình dồi dào sức khỏe và đón Mùa Xuân hết sức an lành. Xin tạm biệt các bác. (Vỗ tay).

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Ông Nguyễn Đình Lộc bắt tay ông Lê Minh Thông

9

Hàng thứ nhất, từ trái: Hồ Uy Liêm, Nguyễn Trung, Phạm Chi Lan, Nguyên Ngọc, Nguyễn Đình Lộc, Huỳnh Tấn Mẫm, Tương Lai, Nguyễn Minh Thuyết, Tô Nhuận Vỹ.

Hàng thứ hai, từ trái: Lê Công Giàu, Chu Hảo, Nguyễn Quang A, Phạm Duy Hiển, Hoàng Xuân Phú, Phan Hồng Giang. (Ảnh: Lê Kiên).

Theo ABS

Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2013

Hà Sĩ Phu : Lai rai Câu đối Tết - Bài thứ tư: Ếch Rắn giao tranh

Nguồn boxitvn

Đối với con người, Rắn có hại nhiều hơn có lợi nên thường tránh xa. Tuy cũng có nơi thân thiện nhưng nhìn chung thì con người sợ Rắn. Bệnh sợ rắn (Ophidiophobia) có vẻ là một bệnh bẩm sinh của con người, hình thành từ trong lịch sử đấu tranh sinh tồn, hơn là bệnh do tâm lý hay kinh nghiệm cá nhân, vì nhiều người tự nhiên có ám ảnh sợ Rắn mặc dù chưa nhìn thấy Rắn bao giờ.

Ngay cả tục thờ Rắn (ophiolatry) chủ yếu cũng do sợ mà ra. Thói đời, khi ghê sợ nhưng đành chịu không tìm được cách đối phó thì liền coi đó là vật thiêng phải tôn thờ, mà thờ lâu quá có khi lại sinh ra yêu mới khổ! Ôi chao, "tình yêu" là thứ mà các nhà văn nhà thơ coi là linh thiêng bậc nhất nhưng đôi khi (đôi khi thôi nhé) lại chỉ do bất lực, do bị áp đặt, do bất khả kháng mà ra. Mà khi đã buộc phải yêu thì thường nghĩ ra những thứ lý luận để tự biện minh, che giấu sự thua kém của mình. Tội nghiệp cho con người, hội chứng Stochkholm yêu kẻ nguy hiểm hại mình cũng do một bản chất như vậy.

Động vật thượng đẳng như người mà còn sợ Rắn thì những loại ếch ộp, cóc nhái ễnh ương sợ Rắn đến mất hồn là chuyện đương nhiên. Những ai có nhà vườn, ban đêm từng được nghe tiếng kêu thảm thiết của một chú ếch nhái, đang tuyệt vọng trước hàm một con Rắn thì ắt hiểu thấu cái thành ngữ thế nào là "kêu oai oái như rắn bắt ngóe".

clip_image002

Nhưng quy luật dẫu đương nhiên đến đâu cũng vẫn có ngoại lệ. Nếu bảo Tạo hóa sinh loài Rắn để "đính chính" cho bọn Ếch nhái sinh sản tùm lum, như loài mèo để đính chính loài chuột, thì Tạo hóa cũng cho Ếch nhái một cơ hội "phản biện", ấy là sinh ra loài Ếch xanh Australia thích ăn thịt Rắn như ta ăn gỏi.(hình bên).

Câu chuyện ngược đời Ếch ăn thịt Rắn, kể ra cũng chẳng phải chuyện gì ghê gớm, nhưng trong bối cảnh Việt Nam đang có một "cuộc chiến sôi động" liên quan đến Ếch, vào thời khắc "Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh" của Sấm Trạng Trình này, dường như đang có sự ứng nghiệm rất kỳ lạ!

 

Sự kiện nóng hổi nhất là hội nghị TW6 cuối năm con Rồng vừa rồi đã "đẻ" ra một chú ẾCHkhổng lồ, mà tên bị gọi chệch đi là "đồng chí X"! Ngay khi ra đời, đồng chí Ếch đã lập một chiến công vĩ đại chưa từng có là vô hiệu hóa được trung tâm quyền lực tuyệt đối của xứ sở, nơi các "vua tập thể" bấy lâu vẫn được coi là người nắm giữ toàn bộ ấn tín và khuôn vàng thước ngọc truyền lại từ các tiên đế gồm "mấy ông có râu" vĩ đại! Quyền lực tối cao ấy giáng xuống đâu là chỗ ấy chết cứng, cúi đầu, không nhúc nhích. Nay không biết chú Ếch khổng lồ có quái chiêu gì mà khiến cho các Vua tập thể mặt mũi đăm chiêu, đức Vua tối cao đã phải ngậm ngùi rơm rớm mấy giọt nước mắt cá… nhân và xin "tạm rút lui" một cách rất có trật tự, hẹn đến hồi sau sẽ tiếp?

 

Nhưng ở đời, cao nhân tất hữu cao nhân trị thì "cao vật" cũng có "cao vật" trị! "Cao vật" cứu nguy lúc này không ai khác, chính là Rắn! Đồng chí Rắn sinh đúng năm con Rắn 1953, oai phong xưng "" một vùng, tuy không phải Hùm nhưng "mắt thần khi đã quắc" trong rừng núiNgũ Hoành thì cũng khiến cho"mọi vật đều im hơi" chứ đâu có xoàng?

Cuộc chiến giữa Rắn và Ếch tất nhiên nổ ra, hứa hẹn nhiều pha cụp lạc. Ai gian hơn ai, aihùng hơn ai, chưa biết.

 

Không biết tự bao giờ, ông cha ta lại hình dung ra cái cảnh ngược đời:

Bao giờ cho đến tháng ba,

ẾCH cắn cổ RẮN tha ra ngoài đồng

 

Ếch cắn cổ Rắn? Rắn vẫn bắt ngóe chứ đồng chí Ếch lại xơi tái được đồng chí Rắn ư? Biết đâu đấy, xứ này đã quen với quá nhiều nghịch lý và phản nghịch lý, mọi sự đều có thể. Ăn thua là ở thời cơ và "công lực". Thời cơ thì biến chuyển khôn lường, còn "công lực, chưởng lực" thì quy luật xưa nay vẫn tỷ lệ nghịch với sự giáo dục và chữ nghĩa, càng ít chữ nghĩa thì công lựccàng phi thường.

 

Có người coi câu ca dao trên đây là lời Sấm, ứng cho năm nay. Mà đã là Sấm thì chữ nghĩa rất bí hiểm, phải "luận" mãi mới ra. Nên họ xì xào rằng sự rắc rối ở đây còn ở chữ "tha", tha là lôi ra đồng để xơi tái, hay tha đồng nghĩa với thả, là buông tha nhau ra? Có khi hai bậc hảo hớn ấy chỉ dọa nhau chơi rồi cọp nào lại về rừng ấy, chứ chẳng anh nào nuốt được anh nào chăng? Phải để hạ hồi phân giải.

 

Mặc, người làm câu đối thì cứ biết làm câu đối mừng Xuân (chứ chẳng mừng đồng chí Rắn đồng chí Ếch nào hết).

Nhân câu ca dao (hay lời Sấm) nói trên, với chữ "tha" hóc hiểm, hủ nho tôi xin xuất một vế đối vui, mời các "đối sĩ" cao thủ thử tài:

 

Ếch "tha" cổ Rắn ra đồng, Ếch "thaRắnRắn không "thaẾch?

 

H. S. P.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN 

Công dân Nguyễn Thị Từ Huy : GÓP Ý CHO DỰ THẢO SỬA ĐỐI HIẾN PHÁP 1992

Nguồn boxitvn

Văn bản này được soạn thảo nhằm đáp ứng lời kêu gọi của Quốc hội về việc đóng góp ý kiến cho Dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992 (từ đây được viết tắt là Dự thảo). Ở đây chúng tôi phát triển các ý căn bản đã trình bày tạiHội thảo phụ nữ trí thức và doanh nhân góp ý dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992, do Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tổ chức ngày 1/2/2013 tại thành phố Hồ Chí Minh.

Chúng tôi xuất phát từ quan niệm chung về hiến pháp:

Ý nghĩa của hiến pháp, lý do khiến cho một dân tộc phải có hiến pháp, đó là nó nhằm bảo vệ quyền con người và các quyền tự do công dân, chống lại sự lạm dụng có thể xảy ra của những người nắm giữ các quyền lực. Những quy định về tổ chức nhà nước và sự phân quyền của các bộ phận lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm đảm bảo cho các quyền con người và tự do công dân được thực hiện một cách tốt nhất. Vì thế mà mệnh đềđầu tiên (tôi nhấn mạnh) của"Lời nói đầu" tức cũng là của toàn bộ Hiến pháp nước Cộng hòa Pháp là: "Nhân dân Pháp trịnh trọng tuyên bố cam kết thực hiện Quyền Con Người". Vì thế mà trong điều 1 của hiến pháp nước này (được đặt riêng, trước tất cả các chương) có quy định rằng "nước Pháp phải đảm bảo sự công bằng trước pháp luật cho tất cả mọi công dân không phân biệt nguồn gốc, chủng tộc hay tôn giáo". Vì thế mà điều XVI của "Bản tuyên ngôn về quyền con người và quyền công dân năm 1789", được đưa vào như một phần của Hiến pháp Cộng hòa Pháp, nói rõ: "MỌI XÃ HỘI trong đó các Quyền con người không được đảm bảo, sự phân lập các Quyền lực [lập pháp, hành pháp, tư pháp] không được xác định, thì không hề có Hiến Pháp (tôi nhấn mạnh)". Điều này giải thích tại sao thời phong kiến không có hiến pháp mặc dầu có luật pháp. Nó cũng giải thích tại sao hiến pháp chỉ có thể ra đời cùng với cách mạng dân chủ tư sản. Chỉ trong thể chế dân chủ quyền con người mới được đảm bảo.

Cũng vì thế mà hiến pháp đúng nghĩa phải là sản phẩm của toàn thể nhân dân. Hiến pháp là cam kết của tất cả mọi người trong xã hội về những quy định chung cần phải thực hiện và tôn trọng. Không một ai, không một tổ chức nào được áp đặt ý chí của cá nhân mình, của nhóm mình, của tổ chức mình lên toàn xã hội. Vì thế hiến pháp phải được toàn thể nhân dân thông qua. Nếu hiến pháp không thông qua trưng cầu dân ý, không được toàn thể nhân dân thông qua, nếu hiến pháp chỉ là kết quả bị áp đặt bởi ý chí của một bộ phận nhỏ trong xã hội, thì hiến pháp sẽ đánh mất toàn bộ ý nghĩa của nó.

Trên cơ sở quan niệm chung đó về hiến pháp, tôi phân tích một số chi tiết sau đây của Dự thảo:

1. Về "Lời nói đầu": Lời nói đầu không nên quá dài dòng như trong Dự thảo và chỉ được đề cập đến một chủ thể duy nhất là nhân dân Việt Nam. Bởi vì trong khái niệm "nhân dân Việt Nam" đã bao hàm toàn bộ những người Việt Nam, dù đứng ở cương vị nào, làm công việc gì, tham gia đoàn hội hay đảng phái nào. Tham khảo các nước khác, chẳng hạn Pháp hay Hoa Kỳ, cũng thấy rằng trong lời mở đầu của hiến pháp chỉ có một chủ thể duy nhất là nhân dân: "nhân dân Pháp", "nhân dân Hợp chúng quốc". Lời nói đầu chỉ cần đề cập đến chủ thể nhân dân là đủ, vì chủ thể đó đã bao hàm hết tất cả mọi chủ thể khác trong xã hội. Đó mới đúng là tinh thần của một hiến pháp của dân, do dân, và vì dân. Lời nói đầu của Dự thảo quá dài, với những tuyên dương công trạng không đúng chỗ. Điều đó làm mất ý nghĩa của hiến pháp. Bởi vì hiến pháp phải là nơi không được thể hiện bất kỳ sự thiên vị nào. Người soạn thảo hiến pháp phải đứng từ vị thế của nhân dân. Những người soạn thảo hiến pháp và những người có trách nhiệm đảm bảo cho hiến pháp được thực thi, cần tự nhìn mình từ góc độ là một phần của nhân dân.

2. Nếu quan niệm chung cho rằng hiến pháp là một văn bản được lập ra nhằm bảo vệ quyền con người thì điều 4 của Dự thảo hiến pháp sẽ không cho phép mục đích này được thực hiện. Vì quyền con người chỉ được đảm bảo bởi các nguyên tắc dân chủ. Mặc dù Dự thảo xác định Việt Nam là một nước dân chủ, nhưng các nguyên tắc dân chủ không thể thực hiện được khi chỉ có một lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo và điều hành xã hội. Nếu những người soạn thảo hiến pháp chịu nhìn thẳng vào thực tế sẽ thấy rõ như vậy. Như nhiều người đã phân tích, điều 4 tạo mâu thuẫn với nhiều điều khoản khác trong hiến pháp, sẽ không cho phép những điều khoản khác được thực hiện, vì nó mâu thuẫn với nền tảng của hiến pháp, mâu thuẫn với tinh thần của hiến pháp và mục đích của hiến pháp. Khi các nguyên tắc dân chủ không thể thực hiện được, khi quyết định chỉ nằm trong tay một thiểu số, khi tất cả đều vận hành theo phương thức áp đặt, thì việc quyền con người bị xâm phạm là điều không thể tránh khỏi. Nếu mục đích của hiến pháp là phòng ngừa sự lạm dụng của những người có quyền lực thì điều 4 lại tạo hậu thuẫn cho những người nắm quyền lập pháp, tư pháp và hành pháp có điều kiện để lạm dụng các quyền mà họ có trong tay, đặc biệt khi tam quyền không phân lập, bị chi phối và bị kiểm soát bởi một quyền lực lãnh đạo duy nhất. Bản thân việc thực hiện bản sửa đổi hiến pháp lần này rất nhiều khả năng sẽ là một ví dụ chứng minh cho điều đó. Sau khi hiến pháp 2013 được công bố, nếu điều khoản này vẫn được duy trì, thì ta sẽ thấy chắc chắn quyền con người sẽ càng bị vi phạm nặng nề hơn nữa. Hiện nay, chúng ta đã không thể phủ nhận được rằng quyền con người luôn là một vấn đề khiến Việt Nam gặp khó khăn trong nhiều hoạt động ở phạm vi quốc tế. Bởi theo đánh giá của thế giới chúng ta là một trong những nước vi phạm nhân quyền nặng nề nhất. Làm sao phủ định được điều đó? Không thể phủ định được thực tế và cũng không thể phủ định được rằng sự vi phạm quyền con người đã bị quy định từ trong hiến pháp cùng với điều khoản về quyền lãnh đạo của một đảng duy nhất. Và như thế, vì không hướng tới bảo vệ quyền con người nên hiến pháp không còn là hiến pháp nữa.

3. Về khoản 2 của điều 15 trong Dự thảo: "Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khoẻ của cộng đồng". Khoản 2 này, nếu không thêm vào mệnh đề: "những lý do này được xác định cụ thể trong bộ luật" thì rất có thể sẽ vô hiệu hóa khoản 1 của điều 15: "Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền con người, quyền công dân được nhà nước và xã hội thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật". Khoản 1 này là quy định cốt lõi nhất về quyền con người trong Dự thảo. Nhưng quy định này sẽ bị vô hiệu hóa khi khoản 2 không định nghĩa thế nào là lý do quốc phòng, an ninh quốc gia? Đây rất có thể là những lý do mơ hồ muốn diễn giải như thế nào cũng được và trở thành chỗ dựa để vi phạm quyền con người. Nếu lấy quyền con người là mục đích tối cao của một hiến pháp đích thực, thì khoản 2 của điều 15 trong Dự thảo lại tạo cơ sở để vi phạm mục đích đó. Một hiến pháp không thể nào lại có thể có những điều khoản mâu thuẫn đến như vậy được.

4. Điều 22 của Dự thảo bỏ mất một ý quan trọng của điều 71 Hiến Pháp 1992: "Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp tội phạm bắt quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật". Cần phải khôi phục lại điều này, nếu không quyền con người sẽ tha hồ bị vi phạm, sẽ bị vi phạm nặng nề. Vì lúc đó bất kỳ ai cũng sẽ bị bắt mà không cần lý do, không cần các thủ tục pháp lý. Lúc đó sẽ không thể nào có một nhà nước pháp quyền, và công dân sẽ hoàn toàn không được bảo vệ.

Trong khi đó Hiến pháp Mỹ quy định cụ thể: "Quyền của con người được đảm bảo về cá nhân, nhà cửa, giấy tờ và tài sản khỏi mọi sự khám xét và bắt giam, quyền này sẽ không được vi phạm. Không một lệnh, trát nào được cấp nếu không có lý do xác đáng căn cứ vào lời tuyên thệ hoặc sự xác nhận, đặc biệt cần miêu tả chính xác địa điểm khám xét, người và đồ vật bắt giữ".

5. Điều 26 của Dự thảo quy định: "Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật". Liên quan đến nội dung về tự do ngôn luận, hiến pháp Cộng hòa Pháp có hai điều: "Không ai bị đối xử tàn tệ vì quan điểm của người đó, ngay cả các quan điểm tôn giáo, miễn là việc trình bày các quan điểm đó không gây ra đổ vỡ hòa bình được thiết lập bởi luật pháp""Tự do trao đổi suy nghĩ và ý kiến là một trong những quyền quý giá nhất của con người (tôi nhấn mạnh). Vì thế, bất kỳ công dân nào cũng có thể nói, viết và công bố tự do; tuy nhiên, họ sẽ chịu trách nhiệm nếu lạm dụng quyền tự do này theo quy định của pháp luật". Vì sao nước Pháp quan niệm rằng tự do trao đổi suy nghĩ và ý kiến lại là một trong những quyền quý giá nhất của con người? Vì đó là thứ tự do tạo điều kiện cho con người phát triển hết tất cả các năng lực của mình. Bởi vì tư duy là một năng lực mà chỉ con người mới có. Quốc hội và Ủy ban Dự thảo cần đối diện với thực tế để thấy rằng, mặc dù Hiến pháp 1992 quy định công dân có quyền tự do ngôn luận, nhưng quyền đó đã không được thực thi trên thực tế. Những cáo buộc của quốc tế về sự vi phạm nhân quyền ở Việt Nam chủ yếu liên quan đến vấn đề tự do ngôn luận.

6. Điều 38 của Dự thảo xóa bỏ các trách nhiệm và nghĩa vụ của nhà nước đối với người lao động được quy định ở điều 55 và 56 của Hiến pháp 1992. Như vậy sẽ không còn các chính sách và chế độ bảo hộ lao động, người lao động có thể bị đối xử như thế nào cũng được.

7. Điều 41 của Dự thảo xóa bỏ hầu hết các nghĩa vụ và trách nhiệm của nhà nước trong lĩnh vực y tế được quy định trong điều 39 và điều 61 của Hiến Pháp 1992. Cần khôi phục lại các trách nhiệm và các nghĩa vụ đó, nếu không xã hội của chúng ta sẽ là một xã hội vô nhân đạo nhất hành tinh.

8. Điều 42 của Dự thảo xóa bỏ tất cả các trách nhiệm và nghĩa vụ của nhà nước đối với nền giáo dục quốc dân đã được quy định rõ trong điều 59 của Hiến pháp 1992. Cần khôi phục lại các trách nhiệm và nghĩa vụ này. Nếu không nền giáo dục đang hết sức khủng hoảng này sẽ còn tồi tệ hơn nữa và sẽ không thể hình dung hết hậu quả.

9. Điều 47 của Dự thảo: "Tội phản bội Tổ Quốc là tội nặng nhất". Thế nào là tội phản quốc? Và tại sao nặng nhất? Nếu không xác định rõ thế nào là tội phản bội tổ quốc thì điều luật này cũng có nguy cơ, một mặt trở thành cái cớ cho sự vi phạm nhân quyền, mặt khác sẽ dung túng cho những kẻ thực sự phản bội tổ quốc. Hiến pháp Hoa Kỳ nêu rõ: "Tội phản quốc chống lại Hoa Kỳ bao gồm hành vi gây chiến tranh tấn công nước này hoặc ủng hộ kẻ thù, trợ giúp và úy lạo chúng. Không một ai bị phán quyết về tội phản quốc, trừ phi có hai người làm chứng về hành vi phạm tội hoặc có sự thú tội công khai trước tòa".

10. Điều 58 của Dự thảo sửa đổi, bổ sung điều 18 của Hiến pháp 1992. Quan điểm quan trọng nhất của việc sửa đổi hiến pháp 1992, được nêu trong "Báo cáo thuyết minh về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992" của Ủy ban Dự thảo sửa đổi hiến pháp, ở mục 2.1 là: "Phải dựa trên cơ sở tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992 và các đạo luật có liên quan". Theo tôi đây là một quan điểm rất đúng. Bởi vì phải căn cứ trên thực tế, căn cứ vào vào những vấn đề nảy sinh khi thi hành hiến pháp, để lấy cơ sở cho sự sửa đổi hiến pháp. Điều 18 của Hiến pháp 1992 đã làm nảy sinh quá nhiều bất cập trong thực tế, tạo ra bao nhiêu bi kịch cho người dân, tạo ra những bất ổn trong lòng xã hội. Tiếp tục duy trì điều luật này về đất đai sẽ tiếp tục taọ ra những bất công trầm trọng. Trong khi đó hiến pháp phải là văn bản tạo cơ sở đảm bảo sự công bằng cho tất cả mọi người. Ở đây tôi chỉ nói từ góc độ tinh thần hiến pháp, còn những hậu quả khác đã được phân tích rất nhiều.

11. Điều 70 của Dự thảo đã được nhiều người nêu ý kiến vì sự bất cập không thể phủ nhận của nó. Hiến pháp là của nhân dân, của tất cả những người có cùng chung Tổ quốc. Chính Dự thảo cũng không thể bác bỏ được điều này. Vì thế không thể đi ngược lại tinh thần của Hiến pháp, quân đội chỉ có thể bảo vệ Tổ quốc và nhân dân mà thôi. Điều 12 của Bản tuyên ngôn nhân quyền và quyền công dân 1789 ghi rõ: "Đảm bảo các quyền con người và của công dân cần tới các lực lượng công [cảnh sát, quân đội v.v..]. Những lực lượng này, do đó, được thành lập để phục vụ mục đích chung, và không phải để sử dụng riêng cho mục đích của những người mà công chúng tín nhiệm giao phó quyền lãnh đạo lực lượng".

Quốc hội cần phải nhìn thấy trước rằng, nếu bảo vệ Tổ quốc và nhân dân trở thành nhiệm vụ thứ yếu của quân đội Việt Nam thì không những quyền con người có nguy cơ bị vi phạm, mà cả an ninh quốc gia cũng có thể sẽ không được đảm bảo một cách chắc chắc.

Cá nhân tôi không thể nhận xét hết tất cả các điều khoản trong Dự thảo, một công việc đòi hỏi công sức của toàn dân.

Nhận xét chung của tôi là, với Dự thảo lần này, nghĩa vụ và trách nhiệm của nhà nước trong việc đảm bảo quyền con người bị giảm thiểu thái quá. Trong khi đó nhiều điều khoản taọ cơ sở cho sự vi phạm quyền con người. Không chỉ đơn giản là vi phạm quyền con người, mà nó còn tạo cơ sở cho bất công, cho sự bất ổn của xã hội, và sự bấp bênh của an ninh quốc gia. Quốc hội cần cân nhắc.

Nếu lấy điều XVI của "Bản tuyên ngôn về quyền con người và quyền công dân năm 1789" (mà tôi trích dẫn ở đầu văn bản) làm quy chiếu thì Dự thảo mà chúng ta đang bàn luận ở đây sẽ không được các dân tộc khác coi là hiến pháp. Nguy cơ là khi Dự thảo được thông qua và trở thành Hiến pháp thì xã hội của chúng ta sẽ trở thành một xã hội "không hề có Hiến pháp". Vậy Quốc hội và Ban soạn thảo có nên cân nhắc lại về công việc mà mình đang làm hay không? Trách nhiệm của quý vị đối với cộng đồng sẽ rất nặng nề khi là tác giả của một bản hiến pháp nhưng lại không phải là hiến pháp như vậy. Chúng ta không ai tránh được sự phán xét của lịch sử. Nhưng điều quan trọng hơn, không phải là bị phán xét hay không, mà chúng ta cần hình dung hậu quả mà hành động của mình sẽ gây ra cho cả cộng đồng trong đó mình tồn tại. Nếu một bản hiến pháp sẽ đẩy cả cộng đồng xuống vực thẳm thì mỗi người chúng ta cũng ít hoặc không có cơ may ở lại được trên bờ vực.

Điều quan trọng là phải có một bản hiến pháp thực sự, một bản hiến pháp bảo vệ được quyền con người và chống lại một cách hiệu quả nguy cơ quyền lực bị lạm dụng bởi những người nắm giữ nó.

Hiện nay có một bản Phác thảo (tôi dùng từ này để phân biệt nó với Dự thảo của Quốc hội) do 72 trí thức Việt Nam chấp bút, với ý thức và trách nhiệm công dân của họ. Quốc hội cần ghi nhận và tham khảo bản Phác thảo hiến pháp này. Trong đó sẽ có một số thay đổi căn bản. Đó là những thay đổi không thể thiếu, những thay đổi bắt buộc phải có, nếu muốn xây dựng một hiến pháp thực sự, một hiến pháp đúng với tinh thần hiến pháp.

Những ý kiến trên đây là của một công dân Việt Nam chưa bao giờ có ý định sống và làm việc ở một nơi nào khác hơn là Việt Nam, chưa bao giờ thôi mong muốn rằng có thể tự hào khi là công dân Việt Nam, chưa bao giờ thôi mơ ước rằng một ngày nào đó Việt Nam có thể bình đẳng với các nước khác trên thế giới.

Tp Hồ Chí Minh, ngày 1/2/2013

N.T.T.H.

(Văn bản này đã được gửi tới văn phòng Quốc hội qua thư điện tử)

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2013

Hà Sĩ Phu : Lai rai Câu đối Tết - Bài thứ ba: Rắn cũng phải… cười !

Nguồn boxitvn

(Tếu táo cùng Quý Tỵ)

 

                                       

clip_image002 

Nhạc… bạc… nhạc !

     (Thân tặng nhạc sĩ Đinh Tặc)

     

       Ai đem điệu "thứ" rất SI

    thành LA-THĂNG-TRƯỞNG,

        nghe thì tưởng ngon

       

        Khoá VÀNG

        đâu phải khoá SON (SOL)

        ĐÔ-LA hai nốt

        TRẮNG

        TRÒN…

        cứ chơi!

 

        Một canh bạc…nhạc, ớn rồi

        Sao anh "Vua nổ"

        còn chơi…

        xập…

        xì… ình… ình…?

 

     Những "cặp đôi" kỳ lạ

      Kẻ  không thấy DIỆN    

      Dân BẦN nên rất TIỆN

      Có CÔNG thì rất NÔNG

      Biết TỤNG không biết KIỆN

 

      Càng LỎI lại càng LEN

      Chưa CHÍNH đã đòi CHUYÊN

      Tưởng có TIỀN là TIẾN     

      Nghĩ TỔ mình là TIÊN

      NGUY BIẾN thì NGỤY BIỆN!

 

 

clip_image004

Ảnh "đẹp" trong năm:

Ảnh được tìm thấy trên Facebook của Quỳnh Vy

 

 

Tè giữa "con ngươi"!

 

 Vén Văn hóa (*) tưới vào Văn hóa

 Lo gì Văn hóa chẳng xanh tươi?

 

Đoàn kết thiêng như con ngươi mắt

Anh cu tè vào giữa "con ngươi"!

 

Để cho thiên hạ sinh mù cả

Anh Chột khinh đời đến thế thôi!

-------------------------------

(*) Bộ nam phục này đích thị Văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc.

 

H. S. P.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2013

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến : Một Người Hiểu Chậm

Nguồn rfablog
Fri, 02/01/2013 - 11:03 — tuongnangtien

 

Chắc rảnh – và rảnh lắm – nên nhà văn Phạm thị Hoài xoay ra kiếm chuyện (cà khịa) với đồng nghiệp chơi, cho nó qua ngày:

"... tác giả văn chương, chung quy có ba loại. Loại dành cho đồng nghiệp, tác giả của tác giả. Loại dành cho công chúng, tác giảcủa độc giả. Và loại dành riêng cho sự tự mê hoặc của những tác giả tự phong."
 Loại thứ nhất hiếm hoi, là những người không thể thay thế, mất một ai trong số họ là cơ thể văn chương nhân loại tàn phế một bộ phận trọng yếu... 
Loại thứ hai đông hơn và là đối tượng chính của các nhà điểm sách, phê bình và nghiên cứu văn học. Đánh giá về tài năng và tầm cỡ của họ là việc phụ thuộc chủ yếu vào khí hậu và môi trường văn hóa...
Loại thứ ba đông hơn cả, nhưng chỉ đáng quan tâm ở khía cạnh họ là những kẻ làm ngôn ngữ xói mòn nhanh nhất, ngốn nhiều giấy mực và byte nhất, và là thủ phạm chính khiến văn chương bị xóa thành công khỏi danh sách nhu yếu phẩm tinh thần của con người..."
 
Tôi cũng đã có lúc học đòi theo chuyện "văn chương" nên đọc xong đoạn văn thượng dẫn mà không khỏi ... bần thần (chút đỉnh) khi tự xét rằng chắc (chắn) mình thuộc loại ... thứ ba. Cái loại viết "với phương châm thà bị tống vào thùng rác còn hơn không tồn tại."  Nói cho nó gọn: cái thứ người cầm bút như tôi thiên hạ gọi là lều văn, túp văn, hay chòi văn, hoặc chuồng văn ... gì đó!
 
Cùng với đám chuồng văn này, nước Việt còn có một hiện tượng độc đáo khác nữa gọi là chuồng học – theo như cách mô tả của phóng viên báo Dân Trí , đọc được vào hôm 5/ 9/2012:
 
"Huổi Chát là một bản Mông chừng vài chục nóc nhà ở huyện nghèo Mường Tè. Hôm chúng tôi có mặt, chỉ còn 7 ngày nữa là đến ngày hội khai giảng, nhưng những gì bày ra trước mắt thật đắng lòng:
Một căn lều tranh tre nứa lá gió thổi tứ bề, xiêu vẹo, ghế gãy bàn long, ủn ỉn trong đó một cặp lợn mán, được cô giáo cắm bản giới thiệu là trường học...
 
Cô giáo Đinh Thị Vin nói bằng tiếng Mông, vẫy chúng xuống lớp. Lớp học là một căn chòi lá rộng độ bằng 4 chiếc chiếu đôi xiêu vẹo, vách tre vọc vạch, hở hoác. Bên trong bàn ghế gãy nát, đầy mạng nhện, ngổn ngang phân heo. Không biết đã từ bao giờ, trường học của lũ trẻ đã trở thành nơi trú ngụ cho một cặp heo mán với 4 heo con. Có người trong số chúng tôi gọi đùa, giọng không ít cay đắng: "Đây là chuồng học chứ đâu phải trường học..."
 
Ảnh: Dân Trí
 
"7 năm trước, cô giáo Đinh Thị Vin từ Phú Thọ rừng cọ đồi chè lên Mường Tè theo tiếng gọi tình nguyện...Và giờ, cô giáo người Kinh đã trở thành đứa con của Huổi Chát, của Nậm Manh, nói tiếng Mông để dạy tiếng phổ thông, ăn mèn mén, sắn khô, măng rừng, với ước mơ giản dị là một ngày nào đó sẽ có một đứa trò nhỏ người Mông thi đậu vào đại học."
 
Vạn sự khởi đầu nan mà. Qua khỏi bậc tiểu học (nghĩa là sau giai đoạn thụ giáo ở những chuồng học) học sinh sẽ được nghe giảng bài bằng tiếng của người Kinh, và bước chân vào những trường trung học bề thế hơn nhiều – như cái trường này đây: Trường THCS Nậm Kè.
 
 
Ảnh: Dongsongxanh
 
Phải đợi cho đến khi lên đến bậc đại học thì những mầm non Việt Nam – xuất thân từ chuồng học – sẽ mới có cơ hội bước vào những cơ sở giáo dục hoành tráng, ở tầm mức quốc tế, được giảng dậy bằng Anh ngữ, theo như ... dự án (Bắt Tay Xây Dựng Trường Đại Học Trí Việt) đã được thông báo, từ nhiều năm trước:
 
"Sáng 7.11.2007, tại trụ sở Ủy ban về người VN ở nước ngoài (NVNƠNN) TP.HCM, Câu lạc bộ Khoa học và Kỹ thuật NVNƠNN (OVSCLUB) và Hội đồng sáng lập Dự án trường Đại học tư thục Trí Việt đã ký kết Thỏa thuận hợp tác: xây dựng một trường đại học chính quy hiện đại, trên tinh thần thực học để đào tạo nhân lực chất lượng cao phục vụ cho công cuộc hiện đại hóa và công nghiệp hóa đất nước.
Đại diện cho Hội đồng sáng lập Dự án Đại học tư thục Trí Việt là bà Tôn Nữ Thị Ninh, Chủ tịch Hội đồng và đại diện của OVSCLUB là TSKH Trần Hà Anh, Trưởng Ban điều hành. Buổi lễ ký kết diễn ra với sự chứng kiến của Ban Chủ nhiệm Ủy ban NVNƠNN, Ban Liên lạc NVNƠNN TP.HCM...

Theo kế hoạnh, khoảng năm 2010 trường sẽ bắt đầu tuyển sinh cho một số khoa và dự kiến đến năm 2020 sẽ đáp ứng được phần nào nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, không chỉ cho Nam Bộ mà còn vươn rộng ra phạm vi toàn quốc."



Nguồn ảnh: talawas

Nói vậy (ngó bộ) vẫn chưa đã miệng nên trong những cuộc phỏng vấn sau đó, bà Tôn Nữ Thị Ninh – người được mô tả là "một nữ ngoại giao lừng lẫy một thời" – còn cho "nổ" thêm vài lần nữa, khiến rất nhiều người bị ù tai:
Luật chơi của Trí Việt là: nói không với thiếu trung thực.
Hiện dự án còn trong giai đoạn cấp phép, trước dự tính đặt ở Vũng Tàu nay thì đặt ở TP. HCM. Gọi là trường quốc tế bởi vì sẽ dạy bằng tiếng Anh kể từ năm thứ 2, với lập luận rằng thanh niên Việt Nam thời hội nhập phải có tiếng Anh như là một ngôn ngữ làm việc của mình, ngoài tiếng mẹ đẻ...
 
Coi: sống trong một chế độ mà lường gạt, dối trá và nghi ngờ là chủ trương xuyên suốt mà bà Tôn Nữ Thị Ninh lại đặt ra "luật chơi là nói không với thiếu trung thực" và còn nói bằng ngoại ngữ nữa (cơ) thì "giai đoạn cấp phép" e sẽ  còn "bùng nhùng" cho đến Tết hoặc (không chừng) cho tới khi ... bà ấy chết!
 
Theo nhà báo Huy Đức: "Chủ nghĩa xã hội là một thực thể chỉ có thể hiểu được bằng sự trải nghiệm" (*).  Tuổi đời của bà TNTN (ngó bộ) hơi nhiều, thời gian "trải nghiệm" với xã hội chủ nghĩa (xem ra) cũng không phải ít. Rõ ràng, bà là một người hiểu chậm.
 
Bữa nay –  nhằm ngày cuối tuần – tôi cũng đang (rất) rảnh nên xin được phép góp ý cùng bà Tôn Nữ Thị Ninh, với hy vọng giúp cho chuyện xây dựng viện đại học Trí Việt được nhanh chóng  và toàn hơn chút xíu.
Về địa điểm, tôi đề nghị bà Ninh nên lắng nghe qua lời khuyên của một nhân vật có thẩm quyền – giáo sư  Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ TN&MT: " Không 'bôi trơn' không có đất đâu!"
 
Kế tiếp, xin nghe lời phát biểu của một nhân vật đã có kinh nghiệm (và thành công) trong việc thành lập một đại học tư ở Việt Nam – qua lời tường thuật của giáo sư Đào Trung Đạo, đọc được trên RFA vào hôm 9 tháng 9 năm 2012:
 
"Mới đây tôi có một người bạn ở Việt Nam du lịch sang Mỹ – anh ta khá thành công trong những dự án kinh doanh kể cả việc đầu tư thành lập đại học tư thục...
 
Dựa vào sự hiểu biết chung chung của tôi (cũng như của hầu hết mọi người  về chế độ cọng sản hiện nay) nên tôi hỏi anh (giả bộ ngớ ngẩn): nói chung anh chốt cho tôi hiểu một điểm quan trọng nhất về lý do của sự hiện hữu và tồn tại của toàn bộ những cơ sở sinh hoạt kinh tế, xã hội, giáo dục, y tế, báo chí, tòa án… (dĩ nhiên không thể kể vào danh sách này  những cơ sở do chính quyền lập ra) ở Việt Nam hiện nay, thì câu trả lời khá 'hài' của anh ta là:ở tất cả những cơ sở đó luôn luôn có một cái 'bàn thờ vô hình' trên đó 'ngự' một cán bộ cọng sản đã được bố trí ngồi vào đó bất kể khả năng và tư cách của anh ta. Và ở phía dưới cái bàn thờ đó các anh có thể bỏ công sức làm bất cứ điều gì các anh cho là đúng đắn hữu ích trong một giới hạn có thể chấp nhận được (giới hạn này khá rộng rãi kể cả những hành vi tham nhũng, vô đạo đức) nhưng tuyệt đối không được đụng đến cái bàn thờ này, nhất là đừng có ý định ngồi vào đó thì mọi chuyện sẽ 'cũng được thôi'.
 
Ngẫm nghĩ về nhận định khá ấn tượng của anh bạn tôi thấy mình vẫn thuộc vào loại 'thiếu đào sâu tư tưởng' vì sờ sờ trước mắt toàn bộ con dân Việt đều bị đặt dưới cái bàn thờ khổng lồ là cái Lăng Bác ở Hà Nội! Vì chủ nghĩa cộng sản chính thức đã trở thành  một tôn giáo và đúng như di huấn của Marx 'tôn giáo là thuốc phiện' cho nên Đảng đã biến dân chúng thành những người nghiện kinh niên.
 Nhưng nghĩ xa hơn thêm chút nữa, căn cứ vào những gì đã và đang xảy ra thì tôi thấy: Thứ nhất, bàn thờ cũng có nhiều thứ bậc cao thấp. Thứ nhì,  giữa những anh ngồi trên những bàn thờ khác nhau đó không phải là lúc nào họ cũng 'nhất trí' nhưng nhiều khi lại còn âm thầm tìm cách 'đàn áp', hất cẳng nhau vì ngồi trên những bàn thờ này vốn là những ma quỉ. Đấy là cảnh tượng của một thứ tôn giáo thờ ma quỉ. Tình hình chính trị hiện nay dường như đang diễn ra sự cạnh tranh thứ bậc của ba bàn thờ ma quỉ: 'Tổng Bí thư''Chủ tịch Nước', và 'Thủ tướng' dưới sự chứng kiến câm nín của 'Bàn thờ Bác."
 
Có lẽ vì chưa chọn được một cái "bàn thờ" thích hợp nên nhiều năm đã trôi qua mà Đại Học Trí Việt vẫn còn đang phải ... chờ cấp phép. Sự cân nhắc và thận trọng của bà Tôn Nữ Thị Ninh, trong hoàn cảnh hiện tại, nên được đánh giá cao. Nếu không, mai hậu, Đại Học Trí Việt sẽ gặp "rắc rối" (y như Đại học Dân lập Hùng Vương bây giờ) chỉ vì chọn nhầm ... cái bàn thờ  nên gặp "rắc rối" và lôi thôi lớn – theo như tường thuật của BBC, nghe được vào hôm 19 tháng 9 năm 2012:
 
"Thời gian gần đây, hai chị em ông Đặng Thành Tâm đã gặp một số rắc rối. Ngoài việc bà Yến bị tố cáo không trung thực, ông Tâm cũng bị đình chỉ chức Chủ tịch và Hiệu trưởng Đại học Dân lập Hùng Vương, cơ sở mà ông hỗ trợ tài chính, hồi tháng Ba vì "vi phạm nguyên tắc quản lý."
 
Trong khi chờ đợi thực hiện Dự Án Đại Học Quốc Tế Trí Việt (Tri Viet International University Project) giảng dậy bằng Anh Ngữ, hàng ngày vẫn có những cô giáo ở miền xuôi như cô "Đinh Thị Vin từ Phú Thọ rừng cọ đồi chè lên Mường Tè theo tiếng gọi tình nguyện... nói tiếng Mông để dạy tiếng phổ thông, ăn mèn mén, sắn khô, măng rừng, với ước mơ giản dị là một ngày nào đó sẽ có một đứa trò nhỏ người Mông thi đậu vào đại học."
 
Cùng lúc, nhiều bậc thức giả cũng đang chăm lo những dự án "giản dị" không kém – như Dự Án Bữa Cơm Có Thịt của của tiến sĩ Trần Đăng Tuấn và nhà văn Phạm Ngọc Tiến (cùng với nhóm bằng hữu của hai ông) cho những học sinh ở vùng cao. Trước những sự kiện này, nhà báo Trương Duy Nhất đã thốt lên đôi lời vô cùng cảm khái:
 
"Có một lúc nào đó, chúng ta góp tiền không phải để mua thịt cho các bé học sinh nghèo Tây Bắc, mà để dựng tượng đài những thầy cô giáo trẻ từ xuôi lên sống và dạy học ở Tây Bắc? Sẽ không phải là tượng đài hoành tráng. Hãy là tượng đài mà người ta nhìn thấy ở đó cái rét tê buốt trong lớp học và ánh lửa nhẫn nại trong bếp độc thân."
 
Rồi ra, không chừng, dám cũng sẽ có tượng đài của bà Tôn Nữ Thị Ninh – người (trước khi chuyển qua từ trần) đã có ý hướng độc đáo là sẽ xây dựng một trường đại học quốc tế, với sứ mệnh Trí Cao – Tâm Rộng –  Tầm Xa trong một chế độ mà những kẻ cầm quyền tầm nhìn thì chỉ thấp bằng con kiến, và lòng dạ thì bé xíu như một cái cây tăm.
 
T.N.T
 
(*) Huy Đức. Bên Thắng Cuộc. Westminster: OsinBooK, 2012. Vol.2.

Tiêu Dao Bảo Cự : Đọc “Bên thắng cuộc” để tìm sự đồng thuận cho hiện tại và tương lai

Nguồn procontra

Tháng 2 1, 2013

Tiêu Dao Bảo Cự

Cuốn sách Bên thắng cuộc của tác giả Huy Đức vừa mới ra đời đã tạo thành một hiện tượng, nhiều người tìm đọc, giới thiệu cho nhau, ngợi ca và phê phán. Một cơn sốt trong dư luận như thế này là điều hiếm có từ một cuốn sách khá khô khan.

Về bản thân cuốn sách Bên thắng cuộc

Nội dung của Bên thắng cuộc không phải là vấn đề mới. Lịch sử Việt Nam sau 1975, ai đã từng trưởng thành trong giai đoạn này mà không sống trải, chiêm nghiệm hay nghe, biết ít nhiều về những gì đang trào sôi trên đất nước và ảnh hưởng đến từng số phận con người. Cái mới ở chỗ tác giả đã tập trung vào một số chủ đề nổi cộm với cách trình bày sáng sủa, đầy ắp tư liệu để cung cấp cho người đọc một cái nhìn tổng thể, sinh động và liên tục.

Có người nói cuốn sách không trình bày được toàn bộ sự thật về giai đoạn lịch sử này. Điều ấy tất nhiên và đòi hỏi đó là một yêu cầu vô lý. Ai, cuốn sách nào có thể trình bày được như thế? Không ai cả, nếu không phải là hàng trăm cuốn sách và một độ lùi lịch sử vài ba chục năm nếu tình hình thuận lợi, không còn độc đảng toàn trị, độc quyền viết lịch sử.

Có người ở ngành lịch sử trong nước than: ước gì chúng tôi có thể có tư liệu và tự do để viết như Huy Đức, một người làm báo. Người viết sử chính thức trong hệ thống chỉ được phép sử dụng tư liệu chính thống và viết theo quan điểm chính thống. Làm sao có sự thật lịch sử.

Có người còn nói về thể loại, cho rằng Bên thắng cuộc không phải là sách lịch sử, không có giá trị. Sao lại phải gọt chân cho vừa giày? Thiếu gì sách lịch sử "đúng kiểu" mà lại chẳng có bao nhiêu lịch sử trong đó. Tác phẩm làm ra các thể loại chứ không phải thể loại làm ra tác phẩm. Điều này đúng không phải chỉ cho lịch sử mà còn trong  văn học nghệ thuật. Thí dụ có nên tranh cãi tiểu thuyết và truyện ngắn cần phải có cốt truyện hay không. Đơn giản là cuốn Bên thắng cuộc viết về đất nước thời kỳ sau 1975 và giá trị của nó ở chỗ mang lại điều gì có ích cho người đọc.

Bên thắng cuộc có nhiều điều mới và không mới, đúng và không đúng, đối với người này người khác. Chuyện "tuẫn tiết", tù cải tạo, vượt biên, không thể nào Huy Đức biết được nhiều, đầy đủ và thấm thía bằng những người trong cuộc, nhất là khi nhiều người trong số họ sau khi ra nước ngoài đã viết bút ký, hồi ký về chuyện của mình và những người đồng cảnh. Cũng những chuyện đó và nhiều chuyện khác, thế mạnh của Huy Đức là người có hiểu biết, có tư liệu đặc biệt của bên thắng cuộc mà nhiều vấn đề đến nay vẫn chưa được phổ biến công khai. Những cuộc phỏng vấn, chuyện trò cá nhân, các hoàn cảnh và tâm tình riêng tư của giới lãnh đạo được đưa vào không phải là những "chuyện vặt vãnh" mà chính là giúp soi rọi thêm tình hình, vì lịch sử không chỉ là những sự kiện khô khan, những con số, ngày tháng, chủ trương chính sách mà do con người cụ thể tác động, nhất là những người nắm quyền lực.

Có những vấn đề tuy đã chú ý tập trung nhưng  Huy Đức cũng không thể nào giới thiệu đầy đủ như chuyện "cởi" và trói" thời Nguyễn Văn Linh, chỉ riêng trong lĩnh vực văn học nghệ thuật và báo chí. Tác giả đã không đề cập cơn sóng phản kháng đòi tự do dân chủ cuồn cuộn trong giới văn nghệ và báo chí ở nhiều tỉnh Miền Trung, Tây Nguyên, Miền Nam, kể cả trong một số báo Đảng và những hệ lụy sau đó. Đây chỉ là một nhận xét, dĩ nhiên không thể đòi hỏi quá nhiều ở tác giả trong một cuốn sách viết toàn diện về một thời kỳ dài phức tạp như thế.

Giá trị nội dung của bản thân Bên thắng cuộc, chính là lịch sử, hay hoàn cảnh đất nước từ sau 1975, được tái hiện một cách công phu, tập trung, với tư liệu phong phú, có thể tin cậy, một cách tương đối khách quan, bằng bút pháp trong sáng của một nhà báo có tâm, có nghề, được chuẩn bị một cách có ý thức và khoa học qua nhiều năm tháng, với ý chí và ý định rõ rệt muốn mang lại sự thực cho một giai đoạn lịch sử hiện tại, đáng lý rõ rệt thì lại quá mù mờ.

Các nguồn tư liệu riêng và chung phong phú, với hàng nghìn chú thích nghiêm túc (cuốn I có 608 chú thích, cuốn II có 654 chú thích), không chỉ về những vấn đề sau 1975 mà còn ngược về quá khứ nhiều năm trong những sự kiện liên quan, cho thấy sự làm việc cẩn trọng, cần mẫn của tác giả. Có thể đã có những sai sót đây đó nhưng có lẽ do vô tình chứ không phải cố ý của tác giả.

Vì mục đích nói về bên thắng cuộc nên những tư liệu đưa ra cũng chủ yếu của bên này. Có những tư liệu chứng tỏ sự dối trá rõ rệt và đó là dối trá của nhà cầm quyền chứ không phải là dối trá của người trích dẫn, như ta có thể thấy khi tác giả đưa ra những tư liệu trái ngược chung quanh chuyện cải tạo. Thí dụ một trích dẫn trên báo Tin Sángmô tả "không khí trong các trại cải tạo từa tựa như một trại hè" trước khi giới thiệu một lá thư của người chồng là sĩ quan đang cải tạo gởi cho vợ. Người đọc có thể thấy dụng ý mỉa mai của tác giả chứ không phải đồng tình khi cố ý đưa ra trích dẫn đó một cách khách quan và đặt trong bối cảnh bi đát của toàn bộ chuyện cải tạo.

Những cách đọc Bên thắng cuộc

Bên thắng cuộc chắc chắn là một cuốn sách đáng để đọc, nội dung của nó không tranh luận, tranh cãi với ai nhưng vừa mới ra mắt đã tạo nên nhiều dư luận ngược chiều, tranh luận, tranh cãi đến mức cực đoan và chắc chắn chuyện này còn tiếp diễn. Đây là hiệu ứng thành công và đáng mừng của một tác phẩm.

Trừ một số bài viết dù ở bên này hay bên kia, có nhận định một cách khách quan, phần lớn các bài viết chống cuốn sách ở cả hai phía thắng và thua cuộc (kể cả việc biểu tình chống dù chưa đọc sách), đều chứng tỏ "hội chứng chính nghĩa" của cuộc chiến trước đây đến nay vẫn chưa chấm dứt mà còn tiếp diễn một cách gay gắt khi sự ra đời của cuốn sách kích động lên.

Dĩ nhiên có một số sự kiện lịch sử trước và sau 1975 vẫn chưa được soi sáng đầy đủ và chưa có nhận định thống nhất từ nhiều phía do tính chất mù mờ phức tạp của lịch sử và quan điểm, chính kiến của người trong cuộc. Tuy nhiên tâm trạng rõ rệt của những người chống cuốn sách vẫn là phe ta, đường lối chính sách của phe ta có chính nghĩa, ai nói khác đi đều là thứ phản bội, tội đồ của dân tộc. Chính điều này đã góp phần làm lịch sử "giẫm chân tại chỗ" khi đáng lý phải vùng vẫy thoát ra khỏi vũng bùn của máu và nước mắt.

Về tựa đề Bên thắng cuộc và tên hai phần của cuốn sách (Giải phóngvà Quyền bính), có lẽ tác giả Huy Đức đã nghiền ngẫm sâu xa và sự lựa chọn có sức gợi nhiều ý nghĩa.

Bên thắng cuộc vì sau 1975 đất nước thuộc về bên thắng cuộc, bên phải chịu tránh nhiệm trước dân tộc và  lịch sử, hiện tại và mai sau. Tác giả là người đã trưởng thành, làm việc và chiêm nghiệm trong bộ máy cai trị, có cái nhìn cận cảnh từ bên trong, hi vọng có thể đưa ra một tiếng nói về sự thật, khác với tiếng loa đồng ca một chiều đinh tai nhức óc như hình chụp dùng làm bìa cho tác phẩm.

Giải phóng nhưng những điều diễn ra sau đó với cải tạo, vượt biên, đánh tư sản, ngăn sông cấm chợ… lại không hề mang ý nghĩa giải phóng. Ngược lại  thực tế đã chứng minh nhân dân Miền Nam và cả nước lại đi vào vòng trói buộc, vào cảnh trì trệ thay vì cất cánh như đáng ra phải có sau khi đã "thống nhất đất nước, quy giang sơn về một mối". Chưa kể đến gợi ý trong lời mở đầu của tác giả, đây là Miền Bắc giải phóng Miền Nam hay ngược lại.

Quyền bính bộc lộ bản chất của một tập đoàn khi đã nắm được quyền lực cai trị. Trình độ kém cỏi trong xây dựng đất nước thời bình, bệnh giáo điều, chủ quan duy ý chí và kiêu ngạo cộng sản; sự quyết đoán của những cá nhân lãnh đạo không đủ tầm và tâm; các cuộc đấu đá nội bộ để tranh giành quyền lực; "lỗi hệ thống" mang tính bao trùm mà những cá nhân dù có thiện chí và ý chí cũng không sao xoay chuyển…

Trong Quyền bính không phải không có những điều tích cực nói về những người lãnh đạo và những người cộng sản. Sinh ra và trưởng thành trong nô lệ và chiến tranh, nhiều người không được học hành. Họ thường xuất thân là nông dân nghèo, làm thuê, ở đợ rồi "tham gia cách mạng". Không được học hành không phải lỗi ở họ. Tuy nhiên sau đó họ đã học trong trường đời và đấu tranh cách mạng, với ý chí kiên cường, chịu đựng gian khổ và chấp nhận hi sinh lớn lao. Khi ở vai trò lãnh đạo, nhiều người cũng đã hết sức ưu tư về tình hình đất nước, khiêm tốn học hỏi, lắng nghe các trí thức chuyên gia để tìm ra những quyết sách đúng. Tác giả cũng đã không giấu thiện cảm đối với một số người, đặc biệt đối với cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Đội ngũ các chuyên gia và các trí thức tham mưu cũng đã ra sức tìm tòi cái mới của thời đại, học hỏi các nước láng giềng và phương Tây, tham mưu cho lãnh đạo thoát khỏi bế tắc. Nổi bật là vấn đề kinh tế thị trường, cho dù vẫn còn "cái đuôi định hướng xã hội chủ nghĩa", sử dụng công nghệ thông tin tiên tiến, đa phương hóa, từng bước đi vào hội nhập toàn cầu. Kết quả dù quá chậm nhưng đất nước đã không rơi vào vực thẳm.

Tuy nhiên mọi cố gắng đó đều chỉ đạt thành tựu rất thấp, không tương xứng với năng lực của một dân tộc không kém cần cù và thông minh so với bất cứ dân tộc nào khác, sau khi đất nước đã thống nhất. Nguyên nhân chính là "lỗi hệ thống", bắt nguồn từ sự độc tài đảng trị, bám chặt giáo điều cổ hủ vì sợ "chệch hướng xã hội chủ nghĩa" và sự vận hành của guồng máy đã đè bẹp mọi cá nhân có ý muốn cưỡng lại, cho dù họ ở cấp cao nhất như Võ Văn Kiệt, Trần Xuân Bách, Trần Độ…

Bên cạnh đó, vì liên minh ý thức hệ và muốn có chỗ dựa để giữ vững độc quyền lãnh đạo, những người cộng sản cầm quyền đã lọt vào gọng kềm của Trung Quốc, trở thành một mối họa lớn cho dân tộc. Đảng Cộng sản rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan, loay hoay giữa hai nguy cơ "mất nước hay mất Đảng".

Tác giả Bên thắng cuộc không minh nhiên nói ra những điều trên nhưng qua những gì được trình bày một cách khách quan, chi tiết, cả chiều rộng và chiều sâu, người đọc có thể cảm nhận rất rõ thông điệp nào đã được gởi đi từ cuốn sách.

Cho dù những điều trên là đúng như thế, tác giả có phải là một kẻ nói xấu Đảng, phản bội đất nước như một số báo chí trong nước quy chụp, hay là một tên cộng sản tay sai tuyên truyền cho Nghị quyết 36 như một số người ở hải ngoại quy kết? Thật nực cười khi có hai kết luận trái ngược nhau như thế về cùng một cuốn sách và một tác giả.

Lịch sử đã qua và đang đi qua từng ngày. Phải nhận rõ quá khứ nhưng càng phải thấy rõ hơn bước đi cho hiện tại và tương lai. Hận thù hay kiêu căng về quá khứ để tranh phần chính nghĩa không ích lợi gì cho số phận và tương lai dân tộc. Thực tế lịch sử, những người cộng sản đã là bên thắng cuộc và cũng thực tế họ đang đưa đất nước vào nguy cơ. Vấn đề là phải làm gì có hiệu quả để giải quyết nguy cơ trước mắt và kiến tạo tương lai chứ không phải nguyền rủa nhau. Đọc Bên thắng cuộc chính là cơ hội để mọi người nhìn lại toàn bộ tình hình một cách tỉnh táo.

Trong những ngày tháng gần đây không ít người thuộc nhiều thành phần, trước hết là trí thức và đảng viên có lương tri thực sự lo cho dân tộc đã đặt ra những vấn đề cấp thiết, đặc biệt mới nhất trongLời kêu gọi thực thi quyền con người  Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992: Dân chủ hóa đất nước, chống độc tài đảng trị, giải quyết nguyên nhân của mọi nguyên nhân đưa đến tham nhũng, kinh tế suy thoái, văn hóa, đạo đức xã hội trên đà băng hoại, trước mắt cấp bách là chống Trung Quốc xâm lược.

Đây là nhiệm vụ của toàn dân tộc không trừ bất kỳ ai, kể cả Đảng Cộng sản cầm quyền nếu Đảng muốn còn tồn tại dù có cầm quyền hay không. Ai phá hoại nhiệm vụ này mới là kẻ phản bội tổ quốc.

Đà Lạt 31/1/2013

© 2013 Tiêu Dao Bảo Cự & pro&contra

Thùy Linh : MỘT THOÁNG HOÀNG TIẾN

Nguồn buudoan


Bàn thờ ở nhà tang lễ 354

Mình biết rất ít về bác. Bởi khi bác bị phê là "ăn phải bả tư sản" và "xét lại" thì mình còn bé xíu. Sau này tác phẩm của bác không được in nên tên tuổi bác như khá nhiều nhà văn thời can qua đó chìm vào im lặng.

Tới một ngày chợt biết về một nhà văn Hoàng Tiến thường lên tiếng đấu tranh cho dân chủ, viết các bản kiến nghị gửi chính quyền, phê phán những độc đoán, chuyên quyền, tham nhũng, xấu xa, kêu gọi cho tự do và dân chủ ở Việt Nam, lên tiếng cho Giáo hội Phật giáo thống nhất…thì mình bắt đầu chú ý đến bác. Cũng chỉ là sự chú ý đến tấm gương của những người không biết cúi đầu trước cường quyền…

Dạo đó mình hay la cà ở một quán cơm chay của một người đàn bà sống với một cậu con trai nhỏ lên 4 tuổi vào giờ nghỉ trưa. Đến, rồi thấy thích, rồi nhờ hữu duyên mà thành gắn bó với hai mẹ con chị từ khi nào. Hầu như cứ đến trưa là mình từ cơ quan đi xe ra đó. Ăn, tụ bạ với đám thanh niên chưa hề quen biết nhưng rất thân thiện. Ít lâu sau thành bạn bè. Trưa nào không ra đó là thấy thiêu thiếu…

Người đàn bà chủ quán dù có vẻ tất bật nhưng không mấy lam lũ. Còn cậu con trai bé bỏng rất thông minh, dĩnh ngộ khác thường, và cá tính rất đặc biệt. Sau mới biết chị đã từng là nghiên cứu sinh ở Nga. Khi có bầu cậu bé này thì chia tay chồng, về nước sinh con một mình. 

Cậu bé này lạ lắm. Mới 9 tháng tuổi đã tự quyết chuyện ăn chay của mình. Cho ăn cháo mặn là nhè ra. Nhất quyết chỉ ăn chay trường. Sau này đi học bán trú, mẹ thường phải nhờ người đưa cơm chay đến trường để chú ăn. Mẹ bỏ việc mở quán cơm chay cũng vì chiều con. Khi còn bé chưa biết chữ, cậu đã nói với mẹ về sở nguyện của mình: mẹ mở quán cơm chay để mọi người tránh sát sinh và có tiền giúp các em bé mồ côi. Sau này chị tâm sự với mình, tiếc là chỉ thành tựu được một sở nguyện của con trai. 

Khi cậu bé lên 5 tuổi, nhiều lần đến quán cơm, mình thường gặp một bác đứng tuổi ngồi bên cậu bé, quyển vở mở trước mặt. Không dám đến gần sợ phiền nên bao giờ mình cũng chọn chiếc bàn ở nơi xa. Tiệt không nghe thấy hai ông cháu nói gì với nhau, chỉ thấy cậu bé vui lắm, cười suốt…Còn ông thì thầm thì, âu yếm. 

Mấy lần như vậy nên có lần mình hỏi người mẹ. Chị cười bảo, ông Hoàng Tiến, nhà văn đấy…Mình òa ra. Vì trước đó đọc nhiều những bản kiến nghị của ông và biết cả việc ông bị gây khó dễ như thế nào.

Những lần sau, mỗi khi gặp ông, mình bao giờ cũng cúi đầu chào như đã quen. Chỉ là không dám sáp lại chuyện trò. Không phải vì sợ phiền phức mà lo ông e ngại né tránh…
 
Nghiệp duyên đưa đẩy thế nào mà có lần vô tình ông ghé quán cơm chay nên quen hai mẹ con. Mến cậu bé thông minh, vốn tính thiền từ bé nên ông trở thành người nhà của họ. Như là ông ngoại của cậu bé. Mỗi tuần ông đi từ Thanh Xuân ra quán dạy chữ Hán cho cậu bé khi cậu lên 5 tuổi. Ngoài chữ là những câu chuyện về đạo Phật, về lòng nhân nghĩa, từ bi, hỉ xả…Mẹ cậu nói rằng, ông là người đã dạy dỗ cậu bé, tác động đến sự hình thành tâm lý, nhân cách của cậu bé sau này. Và chị rất biết ơn ông. 

Lại kể, từ bé lúc mới 3, 4 tuổi cậu đã có ý muốn vào chùa. Hai mẹ con đã từng đến mấy ngôi chùa để tìm nơi gửi gắm cậu. Sáng sáng, cậu bé 3 tuổi cầm cây chổi cao hơn người quét sân chùa…Không hiểu vì sao một bận cậu đem chuông của sư phụ trao cho thả xuống ao, nói với mẹ: "Trong chùa không có Phật. Mẹ, về thôi…". Mẹ con lại dắt díu nhau về nhà trọ, lần hồi kiếm sống bằng quán cơm chay. Rồi cậu đi học và học rất giỏi. 

Lễ cầu siêu theo sở nguyện của bác Hoàng Tiến
Chỉ có một lần mình nói chuyện với ông khi tình cờ gặp ông cũng ở một nhà hàng cơm chay khác, sau mấy năm xa. Cái lẽ ông rời xa mẹ con cậu bé cũng khá ngậm ngùi…

Năm 2005, lần đầu tiên Sư ông Thích Nhất Hạnh về Việt Nam, Phật tử theo nghe giảng pháp rất đông. Cậu bé lúc đó 13 tuổi xin nghỉ học để đi theo. Sau buổi giảng pháp này, cậu đã xác quyết cho mình con đường xuất gia ngay năm đó. 

Ông ngoại Hoàng Tiến không còn cơ hội dạy chữ Hán cho cháu ngoại. Nhưng chú tiểu đã có thể đọc và tụng được kinh Phật bằng chữ Hán…

Mẹ cậu, sau một năm chèo chống quán cơm chay cũng xin xuất gia. Quán cơm chay sang tên người khác. Mình không còn chỗ thân tình đi lại. Bạn bè thường lấy quán tụ bạ, chuyện trò cũng tứ tán…

Phát nguyện qui y của hương linh Hoàng Tiến
Một lần sư cô (chị chủ quán cơm chay năm xưa) có việc về qua Hà Nội. Hẹn hò gặp gỡ. Đến quán đã thấy bác Hoàng Tiến ở đó. Vẫn nụ cười nhẹ hiền.

Lần này mình cởi mở hơn để ngồi nói chuyện với bác. Loanh quanh chuyện thế sự. Chả nghe thấy những thù hằn, bực bội, sân si…Bác nói về những gì bác bất bình cũng nhẹ như những gì bác yêu thương. Nhưng mình hiểu cốt cách đó nhất định không thể đứng cùng với những quyền lực, tham vọng, độc quyền, ác hiểm…Nhớ câu thở nhẹ của bác: "Cũng là khổ thôi cô ạ. Họ chả sung sướng gì đâu". 

Mấy lần hẹn sư cô đến nhà bác chơi nhưng sư cô bận phật sự nên lần lữa mãi. Mà điện thoại nhà bác bị cắt, không liên lạc được. Cứ như thể bác đã từ biệt cõi tạm từ rất lâu, cả khi chưa chết…

Nhưng bất chợt đâu đó, bác lại xuất hiện như một chiến binh qua những kiến nghị thẳng tưng. 

Năm 2011, khi có các cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc bị đàn áp, lập tức bác lại lên tiếng: "Tất cả các triều đại ở Việt Nam, tất cả các chính quyền ở các nước trên hoàn cầu, đếu lấy việc nuôi dưỡng, cổ xúy lòng yêu nước của người dân, để xây dựng đất nước và bảo toàn lãnh thổ chủ quyền. Không ai lại đi đàn áp những cuộc biểu tình yêu nước, trong khi kẻ thù đang rập rình ngoài ngõ. Tôi mong các vị lãnh đạo hãy tỉnh táo lại. Kinh Phật có câu: "Quay lại là bờ" (hồi đầu thị ngạn). Hãy đặt quyền lợi của dân tộc trên hết, hãy biết tôn trọng người dân, là mọi việc giải quyết sẽ êm như ru. Đừng đẩy người dân vào thế đối địch với chính quyền. Tôi đề nghị một giải pháp: chính quyền Hà Nội hãy đối thoại với những người biểu tình. Hãy dừng ngay bạo lực". 

Chút ngậm ngùi trước già chia tay
Bác cũng là một trong những nhà văn đầu tiên đấu tranh cho dân chủ. Một nhà dân chủ sớm bậc nhất nước như nhiều người đánh giá. Vì chính bác thường lấy câu của nhà văn quá cố Nguyễn Minh Châu viết trong một bức thư gửi bạn trước lúc qua đời để răn mình: "Làm một thằng nhà văn Việt Nam lúc này mà lẩn tránh vấn đề dân chủ là thiếu tư cách...".

Ta sĩ rách hề, sinh buổi nhiễu nhương
Mượn cây bút hề, tỏ chí ngoan cường
Đường chông gai hề, ta không lùi bước
Đời đen bạc hề, lòng ta bi thương.

Ngẫm thế sự hề, đầu ta sớm bạc
Nghĩ nhân tình hề, miệng ta cười vang
Múa cây bút hề, ta thay đao kiếm
Phá dối lừa hề, thông thoáng thế gian.

Bài thơ này bác làm năm ngoài 30 tuổi. Trong một lần bị thẩm vấn, bác đã đọc cho các an ninh viên nghe. Một câu trả lời đủ cho tất cả các câu hỏi khi đó đã đặt ra cho bác. 

Cậu bé ngày xưa giờ đã là sư chú đĩnh đạc 20 tuổi, sắp được thọ giới tỳ kheo. Sư chú có tâm hồn lãng mạn như một nghệ sỹ, sáng tác nhạc, thiền ca. Ca từ đượm chất thiền mà vẫn tỏa rạng hào hoa, nét đặc trưng của lớp nhà văn Hà Nội cũ mà chú thừa hưởng từ ông ngoại Hoàng Tiến. 

Bác đã tồn sinh trong tâm hồn nhiều người khác một cách lặng lẽ, vững chắc.

Sư cô nhắc lại chút kỉ niệm về cha nuôi...
Trưa nay một lễ cầu siêu nho nhỏ do sư cô Tùy Nghiêm – chị chủ quán cơm chay khi xưa, cô con gái nuôi của bác ngày trước làm chủ lễ. Chỉ gần hai mươi người trong gia đình, bạn bè thân thiết. Tâm nguyện qui y cửa Phật của bác cũng được thành tựu sau lễ cầu siêu. 

Và với mình, không nhiều người được gọi là nhà văn đã và đang sống. Bác Hoàng Tiến là người trong số hãn hữu đó.

Lời Khai thị của lễ cầu siêu ứng với cuộc đời bác hơn bao giờ hết:
Tôi là sự sống thênh thang
Tôi chưa bao giờ từng sinh mà cũng
                        chưa bao giờ từng diệt
Nhìn kia biển rộng trời cao
Muôn vàn tinh tú lao xao
Tất cả đều biểu hiện tôi từ
                        nguồn linh tâm thức
Tự muôn đời tôi vẫn tự do
Tử sinh là cửa ngõ ra vào
Tử sinh là trò chơi cút bắt
Hãy cười cùng tôi
Hãy nắm tay tôi
Hãy vẫy tay chào để rồi
                         tức thì gặp lại
Gặp lại hôm nay
Gặp lại mai sau
Chúng ta đang gặp nhau
                         nơi suối nguồn
Chúng ta sẽ gặp nhau từng
                        giây phút trên muôn ngàn nẻo sống