Thứ Ba, 3 tháng 6, 2014

Dương Danh Huy : Bình luận về phản biện của Ngô Viễn Phú (*)

Nguồn boxitvn

1. Luận điểm 1 của phía Việt Nam: Công hàm Phạm Văn Đồng chỉ thừa nhận chủ quyền 12 hải lí của Trung Quốc, mà không hề thừa nhận quần đảo Tây Sa và Nam Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Bời vậy, về cơ bản, công hàm không đề cập đến vấn đề lãnh thổ, không đề cập đền quần đảo Tây Sa và Nam Sa.

Phản luận của Ngô: Đoạn thứ nhất trong "Tuyên bố lãnh hải", mà chính phủ Trung Quốc đã công bố vào tháng 9 năm 1958, đã nói rất rõ rằng, phạm vi bao quát trong 12 hải lí của lãnh hải Trung Quốc là thích dụng cho tất cả lãnh thổ của Trung Quốc, trong đó, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa.

Công hàm Phạm Văn Đồng đã rất rõ ràng "ghi nhận và tán thành" với tuyên bố về lãnh hải của chính phủ Trung Quốc, thì trước hết chính là thừa nhận và tán thành chủ trương về lãnh thổ của Trung Quốc, bởi vì chủ trương về lãnh hải có gốc là chủ quyền lãnh thổ, lãnh thổ không tồn tại thì lãnh hải cũng không có căn cứ.

Công hàm Phạm Văn Đồng không đưa ra bất cứ quan điểm bất đồng hay ý kiến bảo lưu nào về Tuyên bố Lãnh hải của chính phủ Trung Quốc, thì theo lô-gich, là cho thấy chính phủ Việt nam tán thành với toàn bộ nội dung của Tuyên bố Lãnh hải do chính phủ Trung Quốc đưa ra, trong đó, có bao gồm cả chủ trương "quần đảo Tây Sa, quần đảo Nam Sa thuộc vào lãnh thổ Trung Quốc"

Bình luận của DDH: Theo luật quốc tế, có 3 điều có thể làm cho một quốc gia mất chủ quyền mình đã có trên một vùng lãnh thổ, đó là

1. Công nhận chủ quyền của nước khác.

2. Gây ra estoppel không cho mình nói ngược lại điều mình đã nói.

3. Bị cho là đã acquiesced.

The luật quốc tế thì để xét CHPVĐ có bị vướng lỗi (1) và (2) hay không, tòa sẽ xét xem CH PVĐ có nói cụ thể gì về Hoàng Sa, Trường Sa hay không, và nếu có nói thì có phải là trong văn cảnh TQ và VNDCCH thảo luận về Hoàng Sa, Trường Sa hay không. Luật quốc tế đòi hỏi hai điều này. Nếu không nói cụ thể mà chỉ có thể bị/được suy diễn logic thì sẽ không đủ. Nếu nói trong văn cảnh khác với thảo luận về chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa thì cũng sẽ không đủ. Trả lời cho 2 câu hỏi này dĩ nhiên là "Không". Điều đó có nghĩa CHPVĐ chỉ có thể vướng lỗi (3), không vướng lỗi (1) hay (2).

Vấn đề ở đây là TQ và Ngô đã mạo nhận và biến lỗi (3) thành lỗi (1), còn phía VN thì mới chỉ nói 1/2 sự thật khi nói CH PVĐ không vướng lỗi (1), bỏ qua lỗi (3).

Nếu suy diễn logic bình dân thì dễ có ấn tượng sai lầm là lỗi (3) hay lỗi (1) thì cũng như nhau, nhưng trong trường hợp đặc thù của VNDCCH, VNCH, CHMNVN và CHXHCNVN thì lỗi (3) có ít hệ quả hơn lỗi (1). Nếu VNDCCH mắc lỗi (1) hay (2) thì có thể gây ra nghĩa vụ có tính ràng buộc pháp lý cho chính thể này, và nếu thế thì khi VNDCCH và CHMNVN thống nhất lại thành CHXHCNVN, CHXHCNVN sẽ phải thừa kế hai điều đối nghịch nhau: một bên là nghĩa vụ có tính ràng buộc pháp lý, thừa kế từ VNDCCH, bên kia là chủ quyền đối với HSTS, thừa kế từ CHMNVN. Sự đối nghịch đó sẽ đem lại rủi ro nhất định cho lập luận pháp lý của CHXHCNVN.

Nếu VNDCCH chỉ mắc lỗi (3), và sự thật là như thế, lỗi đó chỉ làm cho VNDCCH mất đi những gì mình có, nếu có, nhưng không gây ra nghĩa vụ có tính ràng buộc pháp lý cho chính thể này. Do đó, khi VNDCCH và CHMNVN thống nhất lại thành CHXHCNVN, CHXHCNVN chỉ thừa kế chủ quyền đối với HSTS từ CHMNVN, không có nghĩa vụ tính ràng buộc pháp lý bất lợi từ VNDCCH để thừa kế.

2. Luận điểm 2 của phía Việt Nam: Vào thập niên 1950, quan hệ giữa Trung Quốc và nước Mĩ là xấu, hạm đội 7 của hải quân Mĩ đóng giữ tại eo biển Đài Loan, uy hiếp sự an toàn của Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc tuyên bố lãnh hải là để cảnh cáo nước Mĩ không được xâm phạm đến lãnh hải Trung Quốc. Công hàm Phạm Văn Đồng là nghĩa cử của chính phủ Việt Nam lên tiếng ủng hộ Trung Quốc dựa trên tình hữu nghị Việt – Trung tốt đẹp, ý nguyện đó không có liên quan đến lãnh thổ.

Phản luận của Ngô: Vào thời gian này, tình hữu nghị Việt – Trung tốt đẹp là sự thực, nước Mĩ lại là kẻ thù chung của hai nước Việt – Trung, Việt Nam lên tiếng ủng hộ Trung Quốc trên trường quốc tế chính là lí do tình cảm đó. Thế nhưng, trong vấn đề không thể hàm hồ là giao thiệp về chủ quyền lãnh thế như thế, cứ tự nói "ý nguyện" là thế này thế kia, để mà lật lại câu "ghi nhận và tán thành" rành rành trên giấy trắng mực đen, thì trong quan hệ quốc tế vốn trọng chứng cớ văn bản, sẽ không được người ta tin tưởng và công nhận đâu!

Bình luận của DDH: Đúng là luận điểm 2 của VN riêng nó không hoàn toàn bác bỏ được lập luận của Trung Quốc, và phản biện của Ngô chính xác về một số khía cạnh. Nhưng phản biện của Ngô cũng chỉ nói một phần của sự thật. Phần kia của sự thật là luận điểm 2 của Việt Nam cũng có giá trị pháp lý như sau.

The luật quốc tế thì để xét CHPVĐ có bị vướng lỗi (1) và (2) hay không, tòa sẽ xét xem CH PVĐ có nói cụ thể gì về Hoàng Sa, Trường Sa hay không, và nếu có nói thì có phải là trong văn cảnh TQ và VNDCCH thảo luận về Hoàng Sa, Trường Sa hay không. Lập luận 2 của Việt Nam nói lên điều văn cảnh của CH PVĐ là "hải quân Mĩ đóng giữ tại eo biển Đài Loan, uy hiếp sự an toàn của Trung Quốc ... Công hàm Phạm Văn Đồng là nghĩa cử của chính phủ Việt Nam lên tiếng ủng hộ Trung Quốc" chứ không phải là thảo luận về Hoàng Sa, Trường Sa giữa VNDCCH và TQ. Như thế, lập luận đó có tác dụng góp phần chứng minh CH PVĐ không vướng lỗi (1) và (2).

Vấn đề ở đây là phía VN có người dùng luận điểm (2) một cách quá mức luật quốc tế cho phép, trong khi Ngô thì cũng bác bỏ ý nghĩa của nó một cách quá mức luật quốc tế cho phép.

3. Luận điểm 3 của phía Việt Nam: Lúc đó, Việt Nam đang ở vào giai đoạn chiến tranh, Trung Quốc là nước viện trợ chính cho Việt Nam, để có được chiến thắng, Việt Nam không thể không thừa nhận Tuyên bố Lãnh hải của Trung Quốc.

Phản luận của Ngô: Cách biện luận này có ngầm ý sau: nếu không ở vào hoàn cảnh chiến tranh, nếu không cần sự viện trợ của Trung Quốc, thì Việt Nam sẽ không thừa nhận Tuyên bố Lãnh hải của Trung Quốc, không phát sinh (sự kiện) công hàm Phạm Văn Đồng. Thế nhưng, loại biện luận như thế này chỉ là miêu tả lại một sự thực đã xảy ra, không thể, dù một chút xíu, phủ định được hiệu lực của công hàm Phạm Văn Đồng.

Thêm nữa, không có bất cứ chứng cớ nào chứng minh việc Trung Quốc đã lợi dụng Việt Nam ở vào hoàn cảnh khó khăn đang cần sự giúp đỡ của Trung Quốc để dồn ép chính quyền Việt Nam phải nuốt bồ hòn làm ngọt mà thừa nhận chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc. Bản thân công hàm đã gửi cho chính phủ Trung Quốc và nội dung của nó cho thấy: tất cả đều là quyết định tự chủ tự nguyện của chính phủ Việt Nam.

Nói ngược lại, giả như ở vào thời điểm đó, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ trương rằng quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam, thì từ lập trường dân tộc chủ nghĩa vững chắc và nhất quán của người Việt Nam, chính phủ Phạm Văn Đồng sẽ không gửi công hàm đó cho Trung Quốc, hoặc chí ít thì trong công hàm sẽ bỏ quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa ra bên ngoài.

Lại thêm nữa, cộng với chứng cớ là việc trước năm 1975, trong nhiều trường hợp (nói chuyện giữa nhân viên ngoại giao với nhau, bản đồ, sách giáo khoa), Việt Nam đều chủ trương rằng quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc, thì có thể chứng minh rằng, việc thừa nhận trong công hàm Phạm Văn Đồng rằng quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa thuộc lãnh thổ vốn có của Trung Quốc chính là cách suy nghĩ thực sự của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Bình luận của DDH: Đúng là luận điểm 3 "của Việt Nam" là vớ vẩn. Nhưng theo tôi hiểu thì Việt Nam không chính thức có luận điểm "để có được chiến thắng, Việt Nam không thể không thừa nhận Tuyên bố Lãnh hải của Trung Quốc", mặc dù có thể có cá nhân suy diễn như thế. Tôi cho rằng Ngô đang dựng người rơm lên chém. Nhưng người Việt cũng nên lưu ý không nên dùng luận điểm vớ vẩn này.

4. Luận điểm 4 của phía Việt Nam: Ở thời điểm đó (1954-1958), căn cứ theo Hiệp định Giơ-ne-vơ thì, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa đều thuộc phạm vi quản lí của nước Việt Nam Cộng hòa (miền Nam Việt Nam), tranh chấp lãnh thổ là giữa Trung Quốc và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, chính quyền miền Bắc là bên thứ ba ở ngoài không liên quan đến tranh chấp, chính quyền miền Bắc không có quyền xử lí đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa, vì vậy, công hàm Phạm Văn Đồng không có giá trị.

Phản luận của Ngô: Trước năm 1975, tức là trước khi chính quyền miền Bắc giành chiến thắng để thống nhất hai miền Nam Bắc, miền Bắc một mực tuyên bố mình là chính thống, là đại diện hợp pháp duy nhất cho Việt nam, và gọi chính quyền miền Nam là "bù nhìn", là "chính quyền ngụy" phi pháp, cần phải tiêu diệt. Ở thời điểm đó, trên trường quốc tế, một số quốc gia có quan hệ tốt với miền Bắc, trong đó có Trung Quốc, đều thừa nhận miền Bắc là đại diện hợp pháp duy nhất cho Việt Nam; và phía Trung Quốc, vào ngày 18 tháng 1 năm 1950, thể theo đề nghị của chính quyền miền Bắc, đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với miền Bắc, hai bên cùng cử đại sứ (tới Hà Nội và Bắc Kinh). Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ những sự thực lịch sử không thể chối cãi đó, chính phủ Việt Nam hiện nay chính là nhà nước kế tục của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước đây, sau khi chiến thắng và thống nhất hai miền Nam Bắc, lẽ ra phải giữ vững chuẩn tắc cơ bản trong quan hệ quốc tế, cũng tức là tín nghĩa cho nền chính trị của quốc gia, giữ vững lập trường quốc gia trước sau như một, đằng này, tại sao lại vì lợi ích vốn không nên có, mà "qua cầu rút ván", bội tín phản nghĩa?!

Nếu theo quan điểm đã nhắc đến ở trên của các học giả Việt Nam thì, miền Bắc là "bên thứ ba ở ngoài không liên quan", như vậy, sẽ có nghĩa là thừa nhận địa vị hợp pháp của chính quyền miền Nam, và thế thì, những cái gọi là "bù nhìn" hay "chính quyền ngụy" chỉ là cách gọi càn, và việc "giải phóng miền Nam" của chính quyền miền Bắc chính là hành động xâm lược. Theo nguyên tắc của luật quốc tế, bên xâm lược không có quyền "kế thừa" lãnh thổ và tất cả các quyền lợi của bên bị xâm lược, thế thì, chính quyền Việt Nam hiện nay, vốn là kế tục của chính quyền miền Bắc trước đây, sẽ không có quyền lấy tư cách người kế thừa của chính quyền miền Nam để mà đưa yêu cầu về lãnh thổ đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa.

Bình luận của DDH: Nhiều người (kể cả Ngô) lẫn lộn chính phủ/chính quyền với quốc gia. Việc lãnh đạo VNDCCH nói chính phủ VNCH là "Ngụy", "Bù nhìn" là một động thái chính trị. Nó không có nghĩa VNCH không phải là một quốc gia. Theo Công ước Montevideo, việc VNCH có phải là một quốc gia hay không không tùy thuộc vào lãnh đạo VNDCCH nói chính phủ VNCH là gì. Cũng theo Công ước này, việc TQ công nhận VNDCCH không có nghĩa QGVN/VNCH không phải là một quốc gia.

Khi CPCMLT CHMNVN ra đời thì VNDCCH đã chính thức đã công nhận chính thể đó là đại diện pháp lý duy nhất cho miền Nam, tức là đã chính thức công nhận CHMNVN là một quốc gia khác với VNDCCH.

Không những thế, TQ cũng đã công nhận CPCMLT CHMNVN, tiếp nhận ngoại trưởng của CP đó, tức là đã công nhận miền Nam là một quốc gia khác với miền Bắc.

Việc TQ công nhận CPCMLT CHMNVN, cũng như TQ đã công nhận sự thống nhất là do hiệp thương thống nhất giữa hai quốc gia VNDCCH và CHMNVN năm 1976, chứ không phải do VNDCCH xâm lăng VNCH/CHMNVN, đã bác bỏ ý kiến của Ngô cho rằng "việc "giải phóng miền Nam" của chính quyền miền Bắc chính là hành động xâm lược. Theo nguyên tắc của luật quốc tế, bên xâm lược không có quyền "kế thừa" lãnh thổ và tất cả các quyền lợi của bên bị xâm lược, thế thì, chính quyền Việt Nam hiện nay, vốn là kế tục của chính quyền miền Bắc trước đây, sẽ không có quyền lấy tư cách người kế thừa của chính quyền miền Nam để mà đưa yêu cầu về lãnh thổ đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa."

5. Luận điểm 5 của phía Việt Nam: Căn cứ theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, chính quyền miền Bắc và chính quyền miền Nam đều là chính quyền lâm thời, cần phải có cuộc tổng tuyển cử trên toàn quốc mới có thể đưa đến một chính quyền hợp pháp. Trong tình trạng chưa có được chính phủ hợp pháp thông qua tổng tuyển cử trên toàn quốc, chính quyền lâm thời không có quyền quyết định vấn đề chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Bởi vậy, công hàm Phạm Văn Đồng không có giá trị.

Phản luận của Ngô: Tháng 7 năm 1954, các nước tham dự Hội nghị Giơ-ne-vơ đã kí Hiệp định đình chiến cho Việt Nam, trong Hiệp định có qui định rằng "thông qua bầu cử phổ thông tự do, thực hiện việc thống nhất hai miền Nam Bắc". Thế nhưng, chính quyền miền Bắc lấy lí do rằng hiệp định này được kí kết dưới sự dàn xếp của chính phủ Trung Quốc, đã làm tổn hại đến lợi ích của Việt Nam, không đại diện cho lập trường của miền Bắc, cho nên ngay từ đầu đã không muốn tuân thủ hiệp định. Tiến triển lịch sử về sau này cũng cho thấy cả chính quyền miền Bắc và chính quyền miền Nam đều không hề có ý tiến hành cuộc tổng tuyển cứ phổ thông tự do trên toàn quốc thông qua các cuộc tiếp xúc, cũng không đạt được bến bất cứ thỏa thuận làm việc nào, mà cả hai chỉ tự mình tuyên bố mình là "chính thống", qua đó cho mình trở thành chính quyền "mang tính vĩnh cửu" mà không phải là lâm thời. Cả hai đều xây dựng cơ cấu chính quyền quốc gia hoàn chỉnh, như có quốc hội, chính phủ và các cơ quan bộ.

Luận điểm số 5 ở trên đã bị sự thực lịch sử phủ định, không còn sức thuyết phục nữa.

Bình luận của DDH: Luận điểm này của Ngô, "cả hai chỉ tự mình tuyên bố mình là "chính thống", qua đó cho mình trở thành chính quyền "mang tính vĩnh cửu" mà không phải là lâm thời. Cả hai đều xây dựng cơ cấu chính quyền quốc gia hoàn chỉnh, như có quốc hội, chính phủ và các cơ quan bộ", ủng hộ quan điểm VNCH và VNDCCH là hai quốc gia, và như thế thì VNCH sẽ là quốc gia có thẩm quyền lãnh thổ với HSTS, VNDCCH không có. Tức là phản biện này của Ngô ủng hộ phản biện của Việt Nam dựa trên luận điểm "hai quốc gia".

6. Luận điểm 6 của phía Việt Nam: Theo nguyên tắc của hiến pháp, tất cả tuyên bố về với chủ quyền lãnh thổ mà chính phủ đưa ra đều phải có được phê chuẩn của quốc hội thì mới có hiệu lực. Công hàm Phạm Văn Đồng không thông qua quốc hội để được phê chuẩn, cho nên không có hiệu lực về pháp luật.

Phản luận của Ngô: Có học giả Việt Nam cho rằng đây là chỗ quan yếu nhất để chứng minh công hàm Phạm Văn Đồng vô hiệu, do đó, đây cũng là lí do không thể bác bỏ. Thế nhưng, ở bài này, tôi cho rằng, sự việc thảy đều không chắc như đinh đóng cột như họ nói đâu, có thể phản luận từ hai phương diện: lô-gich pháp luật, sự thực lịch sử....

Bình luận của DDH: Luận điểm này của phía Việt Nam là luận điểm sai lầm, không phù hợp với luật quốc tế, và người Việt nên bỏ nó. Tự loại bỏ bới những luận điểm không đứng vững được sẽ giúp chúng ta thấy cần tập trung vào lập luận có thể đứng vững được.

D. D. H.

Tác giả gửi BVN.

(*) Preprint

BVN. Thảo luận về giải pháp lấy lại Hoàng Sa liên quan đến Công hàm Phạm Văn Đồng

Nguồn boxitvn

03/06/2014


Sau khi Bauxite Việt Nam đăng bài Xóa bỏ tai họa công thư Phạm Văn Đồng 1958 của nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai, chúng tôi nhận được bài của anh Hà Sĩ Phu bàn về cách thoát khỏi sự ràng buộc của Công hàm này, và thư của anh Dương Danh Huy nhắc lại một bài anh đã công bố liên quan đến Công hàm Phạm Văn Đồng. Nhận thấy cả hai bài đều có ích cho nhận thức của chúng ta, Bauxite Việt Nam xin đăng để rộng đường dư luận.

Bauxite Việt Nam

Bàn về hai cách thoát khỏi Công hàm 1958

Hà Sĩ Phu

Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai đã "đóng đanh" bức Công hàm Phạm Văn Đồng 1958 bằng những chứng cứ trên giấy trắng mực đen như sau:

- Thực chất của công hàm đó là "công khai tuyên bố thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc ở các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, là "rất tai hại, rất phản động", "là một tai họa cho Việt Nam", là "có tác hại phản quốc phải hủy bỏ".

clip_image002- Đó là một CÔNG HÀM cấp nhà nước (hình bên), giữa hai đại diện cao nhất của hai chính phủ, vì thế không thể tùy tiện hạ thấp tầm quan trọng của công hàm này thành một "công thư", coi văn bản này "không có giá trị, vì anh không thể đem cho cái không phải quyền của anh". Tác giả cho thấy cách lập luận nhằm hủy bỏ tầm quan trọng của một Công hàm như vậy là "hời hợt", chỉ là "cãi chày cãi cối", là "vô trách nhiệm"!

- Vì vậy. để hủy bỏ được công hàm tai hại ấy, tác giả thấy phải đưa ra một giải pháp khác là "Quốc Hội mới của CHXHCN VN phải phủ quyết cái công thư phản động ấy".

Đấy là những kết luận dứt khoát dựa trên những chứng cứ không thể chối cãi. Nhưng một khi đã công nhận những kết luận ấy không thể không tiếp tục đặt ra những câu hỏi khác và bàn thêm về hai cách giải thoát khỏi Công hàm 1958 ấy cho thật cặn kẽ.

1/ Một Công hàm đã bán chủ quyền, đã "phản động, phản quốc" như vậy thìtác giả của Công hàm ấy, cá nhân cũng như tập thể, cần được phán xét ra sao, chịu trách nhiệm thế nào với hậu thế, với sự tồn vong của đất nước? Bài học rút ra là gì?

2/ Thoát khỏi Công hàm 1958 bằng cách nào?

Mọi người đều thấy Công hàm 1958 là sự ràng buộc nguy hiểm nên đều thấy phải tìm cách thoát khỏi Công hàm đó. Nhưng tùy thuộc mục đích ưu tiên bảo vệ đất nước hay ưu tiên bảo vệ chế độ mà phát sinh hai kiểu thoát hiểm.

- Muốn bảo vệ cái nền móng, bảo vệ thể chế, sợ dứt dây động rừng thì lái cho thiên hạ quên đi tầm quan trọng của Công hàm đó, hạ thấp tính chính thống và tính pháp lý của Công hàm, coi Công hàm là thứ chẳng đáng quan tâm. Song ngụy biện kiểu này chỉ để tự che mắt mình và che mắt dân, chứ không thể cãi được với kẻ xâm lược tinh quái đã "nắm đằng chuôi", và cũng không thuyết phục được công lý quốc tế khách quan. Thật vậy, ai có thể tưởng tượng một Thủ tướng lại dễ dãi đến mức quyết định "cho" nước láng giềng một phần lãnh thổ của Tổ quốc chỉ vì nghĩ rằng phần lãnh thổ ấy đang thuộc phần quản lý của đồng bào mình ở miền Nam thì cứ việc "cho" cũng chẳng hại gì? Trong khi vị Thủ tướng này luôn nhắc lời Chủ tịch Hồ Chí Minh, người chịu trách nhiệm cao nhất bấy giờ, rằng "Tổ quốc Việt Nam là một,… chân lý ấy không bao giờ thay đổi" kia mà? Thêm nữa, đã tâm niệm "Tổ quốc Việt Nam là một" thì khi Trung Quốc chiếm mất Hoàng Sa năm 1974 phải hiểu là một phần Tổ quốc của mình bị xâm lược (dù đồng bào nửa nước bên kia đang quản lý), sao không có một lời phản đối bọn xâm lược. lại phấn khởi vui mừng vì một vùng biển đảo của Tổ quốc đã vào tay nước bạn để nước bạn giữ cho? Thật tiếu lâm, khôi hài đến chảy nước mắt.

- Tóm lại là cố gắng vô hiệu Công hàm 1958 kiểu này không có giá trị thực tế gì, rất dễ bị đối phương bẻ gãy. Nếu kiện ra Liên Hiệp Quốc, chỉ một Công hàm Phạm Văn Đồng đủ làm cho Việt Nam đuối lý (chưa cần đến những hiệp ước nhượng bộ, đầu hàng về sau mà Trung Quốc đã thủ sẵn trong tay). Khi Trung Quốc đã chốt được tính pháp lý chính danh của Công hàm 1958 thì mặc nhiên đã vô hiệu được tất cả những chứng cứ lịch sử trước 1958 và cả những tranh cãi sau 1958 đến nay. Chính phủ Việt Nam cũng biết vậy nên cứ trì hoãn không dám kiện Trung Quốc, viện lý do rất "đạo đức" là sợ làm đổ mất "bát nước đầy" (cái bát nước hữu nghị mà phía Trung Quốc đã phóng uế vào!). Kiểu chống đỡ lúng túng này chỉ bởi vì ưu tiên bảo vệ chế độ, bắt Tổ quốc phải hy sinh cho chế độ.

- Vậy phải thoát khỏi Công hàm 1958 bằng cách khác, "bằng một tuyên bố công khai có giá trị pháp lý cao hơn" ví dụ "Quốc hội mới của CHXHCN VN phải phủ quyết cái công thư phản động ấy" như bác Nguyễn Khắc Mai đề xuất. Giải pháp này có hiệu quả đến đâu? Vấn đề là một chính phủ với tư cách hậu duệ kế tục của chính phủ Phạm Văn Đồng - Hồ Chí Minh thì đương nhiên có trách nhiệm thi hành những tuyên bố của chính phủ hợp pháp trước đây đã ký, Trung Quốc có quyền đòi hỏi theo luật như vậy, điều Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký thì Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có trách nhiệm thực hiện, một khi ông Thủ tướng sau đã nguyện kế tục sự nghiệp của ông Thủ tướng trước. Chỉ còn một cách: Muốn khước từ thi hành Công hàm Phạm Văn Đồng 1958 buộc Chính quyền Việt Nam hiện nay phải nhân danh nhân dân Việt Nam tuyên bố khước từ và tẩy chay những sai lầm "phản động, phản quốc" của chế độ cũ, lập chế độ mới. Liệu cái Quốc hội Cộng sản hiện nay có dám cắt đứt cái mạch máu huyết thống này để kiến tạo một quyết định thoát Cựu, thoát Trung, ích nước lợi nhà như vậy không?

Khó khăn cốt lõi vẫn ở chỗ: Muốn thoát Hán, mà bước một là thoát khỏi Công hàm phản quốc 1958, chỉ có cách phải giải Cộng, thoát Cộng!

3/ Thoát Cộng được lợi những gì?

Trong thực tiễn Việt Nam hiện nay nói thoát Cựuthoát Cộng hay "vượt qua chính mình" thực ra cùng một nghĩa, tuy "vượt qua chính mình" là cách nói dễ nghe hơn, nhưng tôi xin được dùng chữ thoát Cộng vì đúng thực chất nhất.

Nếu giữ chủ nghĩa Cộng sản thì phải gánh chịu những tai hại gì?

Toàn bộ kế hoạch "đô hộ Việt Nam kiểu mới" mấy chục năm nay của Trung Cộng được thiết kế trên hai chữ Cộng sản, giữ cái nền Cộng sản là giúp cho mưu đồ Hán hóa có một ưu thế ở tầm chiến lược.

- Giữ Cộng sản thì Việt Nam bị ràng buộc bởi quá khứ đầy nợ nần và lầm lỡ, khó thoát ra, chẳng hạn như công hàm 1958, cam kết Thành Đô, các ký kết thời Lê Khả Phiêu, thời Nông Đức Mạnh, thời Nguyễn Phú Trọng…

- Còn giữ Cộng sản thì quan hệ ràng buộc Trung-Việt như quan hệ giữa "thú dữ và con mồi" cứ thít chặt lại, trong khi các khối đoàn kết để kháng cự thì bị lỏng ra, ví dụ giới lãnh đạo thì bị chia thành phái thân Tàu và nhóm lợi ích, lãnh đạo thì ngày càng đối lập với dân, quốc nội với hải ngoại vẫn còn cách biệt, các liên kết Việt Mỹ, Việt Âu, Việt ASEAN… đều bị yếu tố Cộng sản hạn chế một phần, không thể thanh thoát… Như thế lấy đâu ra sức mạnh?

Trái lại, chỉ cần thoát Cộng thì tất cả những trở ngại trên sẽ được giải tỏa, đặc biệt là toàn bộ dân Việt khắp nơi khắp chốn tự nhiên sẽ ôm lấy nhau mà reo hò, không cần bất cứ một nghị quyết "hòa hợp hòa giải" nào hết, niềm mơ ước một hội nghị Diên Hồng từ đó mới có cơ sở để mở ra, nếu không thì Diên Hồng mãi mãi chỉ là một lời hô hào suông, không có thực chất.

4/ Thoát Cộng dễ hay khó?

- Sẽ quá khó, quá gay go, nếu Đảng Cộng sản cứ ôm lấy vinh quang quá khứ và lợi quyền hiện tại khiến cho Đảng ngày càng xa dân, đối lập với dân, mỗi động tác dân chủ hóa, dẫu còn ở mức độ "cải lương" thôi cũng đã là một cuộc cọ xát nảy lửa, đã xảy ra bắt bớ cầm tù, nói gì đến sự đổi mới thể chế, đổi mới hệ thống?

- Nhưng không, sẽ vô cùng dễ dàng nếu Đảng biết "tự vượt qua mình", lấy lợi ích dân tộc trên hết mà vượt trên quá khứ, chuyển sang nền dân chủ đa nguyên như các nước tiên tiến thì Đảng có mất chỉ mất cái danh hão mà được tất cả. Chẳng những không ai chỉ trích quá khứ nữa làm gì, mà các vị cầm quyền còn được nhân dân yêu quý và biết ơn thật sự, không còn tình trạng "thấy mặt là tắt tivi" như bấy lâu nay. Về tinh thần đã thanh thỏa như vậy, về vật chất cũng cơ bản được đảm bảo; có phải nhân dân đã từng bắn tiếng rằng nếu người lãnh đạo biết đổi mới để cứu nước, thoát Hán thì dân sẵn sàng độ lượng cho tận hưởng bổng lộc đấy thôi? Triển vọng xán lạn ấy có thể lắm chứ, sao lại không?

Quả bóng cứu dân cứu nước hiện đang trong chân người cầm quyền, dân rất mong mỏi những người cầm quyền biết xử lý thông minh, khôn ngoan, ích nước lợi nhà. Chỉ trừ trường hợp chẳng may, đợi mãi, vô vọng (chẳng hạn như tiền đạo họ Phùng cứ sút mãi bóng vào lưới nhà) thì tất nhiên dân phải đứng dậy giành quả bóng về chân mình mà xử lý theo đúng ý nguyện của dân, để "nâng thuyền hay lật thuyền" như quy luật của muôn đời mà Nguyễn Trãi đã diễn tả bằng một hình ảnh lưu danh bất hủ…

H.S.P. (2-6-2014)

Tác giả gửi BVN.

Lấy lại Hoàng Sa: Những điều bất khả thi

Dương Danh Huy, nhà nghiên cứu về Biển Đông

clip_image003

Chính phủ Việt Nam vẫn dè dặt trong việc kỷ niệm tử sĩ Hoàng Sa

Kỷ niệm 40 năm hải chiến Hoàng Sa đã nhắc lại vết thương mất lãnh thổ chưa lành của người Việt.

Vết thương đó đã đem lại nhiều bức xúc trong 40 năm qua, và đã có một số ý tưởng cho việc giành lại Hoàng Sa hoặc củng cố lập luận pháp lý của Việt Nam.

Nhưng trong số đó có một số ý tưởng không khả thi:

1: Kiên trì đàm phán với Trung Quốc.

Trung Quốc chủ trương không đàm phán về chủ quyền đối với các đảo Trường Sa. Đối với Hoàng Sa, Trung Quốc còn không công nhận là có tranh chấp. Hiện nay không có việc đàm phán cho vấn đề chủ quyền đối với đảo, do đó ý tưởng kiên trì đàm phán về vấn đề chủ quyền đối với đảo là kiên trì trong một việc không hiện hữu, và sẽ không đi đến đâu.

Giả sử các bên trong tranh chấp có đàm phán về chủ quyền đối với đảo đi nữa, cũng khó mà Trung Quốc sẽ trả dù chỉ là một phần các đảo Hoàng Sa cho Việt Nam. Ở Trường Sa, nếu có đàm phán, không nước nào sẽ chấp nhận mình không được đảo nào. Khó có chính phủ Philippines, Trung Quốc hay Việt Nam nào dám đối đầu với dư luận trong nước của họ để chấp nhận không giành được phần lớn các đảo. Vì vậy, dù các bên có kiên trì đàm phán thì cũng khó giải quyết tranh chấp đảo.

Việc đưa tranh chấp đảo cho một tòa án quốc tế phân xử sẽ là khách quan nhất. Nó cũng là một lối thoát để cho các chính phủ đi đến một giải pháp trong khi tránh búa rìu dư luận trong trường hợp giải pháp đó không được như yêu sách ban đầu.

2: Đơn phương kiện Trung Quốc như Philippines

"Việc kiện Trung Quốc về chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa là rất khác với việc Philippines kiện Trung Quốc."

Việc kiện Trung Quốc về chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa là rất khác với việc Philippines kiện Trung Quốc.

Việc Philippines có thể đơn phương kiện Trung Quốc là dựa trên việc thủ tục giải quyết tranh chấp của UNCLOS cho phép Tòa thụ lý một số vấn đề liên quan đến việc giải thích UNCLOS cho tranh chấp biển và thềm lục địa, mặc dù Trung Quốc đã bảo lưu theo Điều 298 của UNCLOS, và cho dù Trung Quốc có vắng mặt. Nhưng những vấn đề đó không bao gồm phân xử chủ quyền đối với đảo. Vì vậy, không nước nào có thể dùng thủ tục giải quyết tranh chấp của UNCLOS để đơn phương kiện Trung Quốc về chủ quyền đối với đảo.

Bên cạnh đó, ngoài thủ tục giải quyết tranh chấp của UNCLOS hiện nay không có cách nào khác để chúng ta đơn phương kiện Trung Quốc về chủ quyền đối với đảo. Đối với vấn đề chủ quyền, Tòa chỉ có thể thụ lý nếu tất cả các bên chấp nhận thẩm quyền của Tòa.

Vì vậy, hiện nay chưa có điều kiện để ra tòa về vấn đề chủ quyền đối với đảo. Điều Việt Nam cần làm là công khai yêu cầu Trung Quốc ra tòa. Mặc dù Trung Quốc sẽ không chấp nhận, điều đó sẽ cho thế giới thấy Trung Quốc là bên sợ lẽ phải và cản trở việc giải quyết tranh chấp.

3: Tuyên bố thừa kế di sản VNCH

clip_image004

Hơn 70 quân nhân Việt Nam Cộng hòa đã tử trận trong trận chiến bảo vệ Hoàng Sa 40 năm trước

Ý tưởng này là quan điểm cho rằng Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) chưa từng thừa kế chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, và bây giờ phải tuyên bố thừa kế "di sản Việt Nam Cộng Hòa (VNCH)" thì mới thừa kế. Nó còn có thể bao gồm cả CHXHCNVN cần tuyên bố cắt đứt với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) để vô hiệu hóa những điều bất lợi về Hoàng Sa, Trường Sa.

Ý tưởng này không có cơ sở trong luật quốc tế.

Tòa sẽ đặt vấn đề: sau khi CHXHCNVN được thành lập như một quốc gia vào năm 1976 thì Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về nước nào? Nếu phía Việt Nam cho rằng vào năm 1976 CHXHCNVN chưa thừa kế chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng đã thừa kế khi tuyên bố thừa kế "di sản VNCH", thí dụ như vào năm 2014, câu chuyện Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam sẽ bị kết liễu.

Lý do là nếu vào năm 1976 CHXHCNVN chưa thừa kế chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, và không những thế cho đến năm 2014 vẫn chưa thừa kế, thì chủ quyền đó sẽ rơi vào tay một trong những quốc gia khác đã đòi chủ quyền từ trước 1976.

Ý tưởng sai lầm rằng từ năm 1976 đến 2014 CHXHCNVN không có chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa có nghĩa Tòa sẽ khó tránh kết luận trong thời gian đó chủ quyền đã rơi vào tay Trung Quốc hoặc Philippines. Giả sử như năm 2014 CHXHCNVN có tuyên bố "thừa kế di sản VNCH" đi nữa, Tòa cũng sẽ khó tránh kết luận rằng đến 2014 thì chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa đã thuộc về Trung Quốc hoặc Philippines từ trước rồi, không còn để cho CHXHCNVN thừa kế nữa.

Ý tưởng sai lầm đó có nghĩa kết liễu chủ quyền Việt Nam vào năm 1976 với hứa hẹn làm cho nó tái sinh sau hơn 35 năm bằng cách tuyên bố "thừa kế di sản VNCH", một hứa hẹn sẽ không bao giờ hiện thực

Ý tưởng đó cũng là ngược với thực tế. Trên thực tế, gần như không nước nào trên thế giới cho rằng CHXHCNVN chưa thừa kế vùng lãnh thổ hay quyền chủ quyền nào đó từ VNCH, gián tiếp qua CHMNVN, kể cả những khu vực có tranh chấp với Lào, CPC, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines, thậm chí cả với Trung Quốc. Không có lý do hợp lý để cho người Việt lại cho rằng Việt Nam chưa từng thừa kế chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa.

Ý tưởng cần tuyên bố cắt đứt với VNDCCH nhằm vô hiệu hóa những điều bất lợi về Hoàng Sa, Trường Sa cũng không có cơ sở trong luật quốc tế. "Cắt đứt" với VNDCCH, một chính thể vốn không còn tồn tại, hay không là một vấn đề nội bộ của Việt Nam. Việc chủ quyền pháp lý trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về nước nào là một vấn đề luật pháp quốc tế. Luật quốc tế không công nhận việc tuyên bố cắt đứt trong nội bộ hay với quá khứ để đơn phương hủy bỏ nghĩa vụ pháp lý (nếu có) giữa các quốc gia.

Để Việt Nam ngày nay hay trong tương lai có chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, chỉ có hai trường hợp: CHXHCNVN phải có chủ quyền đó ngay từ 1976, nếu không thì Trung Quốc và Philippines phải có hành vi bị cho là từ bỏ danh nghĩa hay yêu sách chủ quyền của họ. Sẽ khó có trường hợp thứ nhì, do đó chúng ta phải chứng minh được trường hợp thứ nhất.

Ý tưởng 4: Tuyên bố hủy công hàm Phạm Văn Đồng

clip_image005

Công hàm năm 1958 của ông Phạm Văn Đồng vẫn còn là điều gây tranh cãi

Đây là một biện pháp bất lợi cho Việt Nam.

Hiện nay câu hỏi "CHPVĐ có gây ra nghĩa vụ ràng buộc cho CHXHCNVN liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa hay không?" là một vấn đề còn tranh cãi. Nếu Quốc hội Việt Nam chính thức tuyên bố hủy CH đó, thì tuyên bố đó có thể bị cho là gián tiếp công nhận rằng nó có gây ra nghĩa vụ pháp lý cho CHXHCNVN có cho tới ngày nó bị hủy - vì nếu nó không gây ra nghĩa vụ pháp lý nào cho CHXHCNVN thì tại sao cần hủy?

Sự công nhận gián tiếp đó là bất lợi cho Việt Nam. Hơn nữa, nếu Việt Nam gián tiếp công nhận rằng CHPVĐ đã gây ra một nghĩa vụ ràng buộc cho Việt Nam đối với Trung Quốc, thí dụ như cho đến 2014, thì luật quốc tế cũng không công nhận việc Việt Nam đơn phương hủy nghĩa vụ đó. Như vậy Việt Nam sẽ tự bước vào một cái bẫy và sẽ không thoát ra được.

***

Tóm lại, Việt Nam cần công khai yêu cầu Trung Quốc ra tòa,cũng như cần lập luận rằng CHXHCNVN đã có chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa ngay từ 1976 và CHPVĐ đã không làm cho mất chủ quyền đó vào tay Trung Quốc. Nếu không bảo vệ thành công quan điểm đó thì bây giờ có tuyên bố thừa kế, cắt đứt, hủy, cũng sẽ vô tác dụng. Nếu bây giờ tuyên bố thừa kế, cắt đứt, hủy, thì chỉ có thể phản tác dụng.

Bài viết phản ánh quan điểm của tác giả, thành viên nhóm Nghiên cứu Biển Đông và có sự góp ý của Phạm Thanh Vân.

D. D. H.

Nguồn: bbc.co.uk

Thứ Hai, 2 tháng 6, 2014

Phạm Chí Dũng : Chính quyền Việt Nam đang đối mặt với những nguy cơ nào?

Nguồn boxitvn

02/06/2014

Bản điều trần của tiến sĩ, nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng, Việt Nam

Tại Tiểu Ban Nhân Quyền thuộc Ủy Ban Thường Trực về Đối Ngoại và Phát triển Quốc Tế của Quốc hội Canada, thông qua Liên Hội Người Việt Canada, vào ngày 29.5.2014

(bài đăng báo có điều chỉnh và bổ sung so với bản điều trần)

Chưa bao giờ kể từ khi kết thúc cuộc chiến tranh Nam - Bắc vào năm 1975, những người lãnh đạo ở Việt Nam lại phải đối mặt với 5 nguy cơ quá lớn như hiện nay:

1. Nguy cơ khủng hoảng kinh tế:

Đây là nguy cơ lớn nhất và giải thích vì sao giới lãnh đạo Hà Nội lại quá cần đến Hiệp định kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Cuộc suy thoái kinh tế ở Việt Nam kéo dài từ năm 2008 đến nay đã làm kiệt quệ gần như toàn bộ nền kinh tế. GDP giảm đến 50%, tương ứng với các ngành kinh tế chủ chốt như công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và du lịch đều suy giảm trầm trọng. Khoảng 50% số doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản, giải thể, hoặc tạm ngưng hoạt động. Tỷ lệ thất nghiệp thực tế lên đến khoảng 20%. Nợ xấu trong hệ thống ngân hàng lên đến ít nhất 500.000 tỷ đồng (khoảng 25 tỷ USD), khoảng 75% nợ xấu tập trung vào thị trường bất động sản. Còn nợ công quốc gia lên đến ít nhất 95% GDP.

Tuy nhiên, đáng chú ý là gần như toàn bộ hậu quả cho đến nay vẫn chưa hề được giải quyết. Nhiều chuyên gia phản biện cho rằng đáy kinh tế vẫn chưa lộ ra, và nền kinh tế vẫn còn tiếp tục lao dốc trong những năm tới. Trong những năm sắp tới, Nhà nước Việt Nam đang phải đối mặt với nguy cơ vỡ nợ như Argentine vào năm 2001.

2014 có thể là năm đầu tiên của một chu kỳ khủng hoảng ngân hàng, bắt đầu từ sự đổ vỡ của vài ngân hàng hạng trung và có thể dẫn đến sụp đổ dây chuyền trong ít nhất 50% số ngân hàng hiện hữu, dẫn đến khủng hoảng gần như toàn bộ nền kinh tế. Chu kỳ khủng hoảng kinh tế có thể lên đến cao điểm vào năm 2016-2017 và trở thành sóng nhấn cuối cùng đối với con thuyền chính trị. Đây là diễn biến quan yếu nhất.

2. Bất ổn xã hội và phản kháng dân chúng:

Bất ổn xã hội và phản kháng dân chúng đã gia tăng đột ngột từ năm 2011 cho tới nay. Trong những năm tới, phản kháng xã hội sẽ tăng cao về số lượng, quy mô, tạo nên áp lực lớn đối với chính thể và nằm trong giai đoạn đầu của một cuộc khủng hoảng xã hội trong những năm sau. Xu hướng này sẽ mau chóng biến thành xu thế ở rất nhiều địa phương, liên quan đến đất đai, môi trường, đình công, quan hệ giữa người dân và nhân viên công lực, nạn tham nhũng…

Quy luật khủng hoảng kinh tế dẫn đến khủng hoảng xã hội đang ứng nghiệm ở Việt Nam. Nếu hệ thống ngân hàng bị vỡ một phần, tình trạng đó sẽ lập tức ảnh hưởng rất xấu đến hoạt động của số doanh nghiệp còn lại và đẩy cao tình trạng thất nghiệp. Lạm phát cũng được thổi bùng và làm cho đồng tiền mất giá, có thể tái hiện một phần tình trạng lạm phát đến 600% những năm 1985-1986. Tỷ lệ thất nghiệp có thể tăng vọt đến 30-40% và đẩy phần lớn người lao động ra đường. Tình cảnh đó rất có thể làm cho niềm tin chính thể của người dân hoàn toàn tan vỡ và tạo nên làn sóng phản kháng rộng khắp, đặc biệt là trong nông dân và công nhân.

Khả năng cạn kiệt ngân sách và kinh phí an sinh xã hội cũng khiến cho nguy cơ vỡ quỹ lương hưu và quỹ bảo hiểm xã hội trở nên rất hiện hữu. Nếu khả năng này xảy ra, phần lớn cán bộ đảng viên về hưu, vốn đã tích tụ bất mãn và bức xúc đối với đảng và chính quyền, sẽ có thể trả thẻ đảng, tạo nên một phong trào thoái đảng trên diện rộng và gia nhập vào làn sóng biểu tình của người dân.

3. Phong trào dân chủ - nhân quyền và sức ép quốc tế:

Từ năm 1975 đến nay, chưa bao giờ đảng cầm quyền phải đối đầu với một là sóng phản kháng của giới bất đồng chính kiến và dân chủ - nhân quyền trong nước như hiện nay. Từ đầu năm 2013, xã hội dân sự đã chính thức hình thành ở Việt Nam, cho dù không được chính quyền thừa nhận. Vào tháng 4/2014, lần đầu tiên từ năm 1975, Nhà nước Việt Nam phải thỏa hiệp với Hoa Kỳ để thả đến 5 tù nhân chính trị.

Cũng chưa bao giờ giới lãnh đạo Việt Nam lại ở thế yếu ớt như hiện thời trong mối tương quan với Hoa Kỳ và phương Tây. Cuộc đi dây của Việt Nam giữa hai quốc gia Trung Quốc và Hoa Kỳ được xem là rất phiêu lưu và không mang lại hiệu quả.

4. Hiểm họa Trung Quốc:

Việt Nam càng bị phụ thuộc và Trung Quốc và càng bị Trung Quốc lấn ép ở Biển Đông và trong vấn đề nhập khẩu. Trong tương lai gần, nguy cơ từ Trung Quốc là rất tiềm tàng và có thể xảy ra những đột biến, không chỉ ở Biển Đông mà có thể là những can thiệp vào nội trị ngay tại Hà Nội và cả quân sự ở biên giới phía Bắc Việt Nam. Không loại trừ vào giai đoạn 2016-2017, khi Việt Nam có thể rơi vào khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng xã hội và nội bộ phân hóa sâu sắc, Trung Quốc có thể tung ra một chiến dịch tấn công quân sự tổng lực vào Việt Nam.

Trước sức ép và hiểm họa liên tục từ Trung Quốc, gần đây đã có vài dấu hiệu cho thấy ngay cả phe bảo thủ nhất trong đảng cũng đang có xu hướng dần chuyển sang quan hệ thỏa hiệp hơn với các đòi hỏi về dân chủ và nhân quyền của Hoa Kỳ và phương Tây, nhằm đổi lại quan hệ TPP, đầu tư, thương mại đa phương và hợp tác quân sự Biển Đông.

5. Cuộc tranh đoạt không khoan nhượng giữa các nhóm lợi ích:

Khác với sự thống nhất tạm thời trong quá khứ, hiện thời và tương lai gần của đảng cầm quyền không cho thấy những dấu hiệu khả quan về tính đồng thuận. Ngược lại, mối mâu thuẫn và xung khắc nội bộ ngày càng lớn, chủ yếu xuất phát từ quyền lợi của các nhóm lợi ích kinh tế và nhóm thân hữu chính trị. Đây là cuộc tranh đoạt ở giai đoạn cuối cùng, không khoan nhượng và cũng là một mối nguy rất lớn mà có thể làm tan vỡ đảng cầm quyền ở Việt Nam, ngay cả trong điều kiện nền kinh tế chưa thật sự rơi vào khủng hoảng.

* Kết luận:

Một cách đương nhiên, việc xem xét và lượng giá 5 nguy cơ nêu trên có thể bổ túc cho giới chính khách và các nhà đầu tư Canada một cái nhìn đầy đủ hơn về tình hình thực tại và tương lai trung hạn ở Việt Nam, từ đó đưa ra những chính sách đối xử Canada - Việt Nam không nhất thiết phải quá mềm dẻo về thương mại song phương, đầu tư và viện trợ nhân đạo.

Tôi cho rằng chính sách và áp lực về thực thi dân chủ, nhân quyền của phương Tây, chính sách xoay trục về châu Á- Thái Bình Dương của Hoa Kỳ vẫn còn nguyên giá trị và sẽ phát huy tác dụng lớn trong những năm tới, đặc biệt vào giai đoạn 2016-2017 là thời gian mà nền kinh tế Việt Nam nhiều khả năng đạt đỉnh khủng hoảng kinh tế, dẫn đến những biến loạn xã hội khôn lường và có thể tiếp biến một cuộc khủng hoảng chính trị ghê gớm.

Xin cám ơn quý vị đã lắng nghe.

Bản tiếng Anh

Dear Mr. Chair, ladies and gentlemen,

Since the end of the Vietnam war in 1975, never have the leaders in Vietnam faced 5 greater risks than present:

1. Risk of economic crisis:

This is the biggest risk and explains why Hanoi leaders desperately need the Trans-Pacific Partnership Agreement (TPP).

The economic downturn in Vietnam since 2008 has drained nearly the entire economy. The GDP fell 50%. Approximately 50% of businesses fell into bankruptcy, dissolution, or inactivity. The actual unemployment rate is about 20%. Bad debts in the banking system are at over $25 billion. The national debt is at least 95% of the GDP.

2014 may be the first year in a banking crisis cycle, starting from the collapse of several mid-sized banks, and can lead to a chain of collapses of at least 50% of the existing banks.

However, many experts note that these problems are not yet resolved and argue that the economic bottom has not even been identified. Vietnam is facing the risk of insolvency as Argentina did in 2001.

2. Social instability and people's resistance:

Social instability and people's resistance have increased dramatically since 2011. Protests will increase in quantity and size, and create great pressure on the regime, which is in the early stages of a social crisis. This trend will quickly spread into many locales, pertaining to land expropriation, strikes, police brutality, corruption, et cetera.

The theory of economic crisis leading to social crisis is proven. A broken banking system would immediately and adversely affect the operation of the remaining businesses. A skyrocketing unemployement rate of 30-40% would shatter the people's faith in the regime and create a wave of protests, especially among farmers and workers.

Also, the risk of depleting the pension and social insurance funds is very much a reality. At that time, most retired party members who had accumulated discontent with the communist party will renounce their membership, creating a wide movement to quit the party and join the people's protests.

3. Democracy movement - human rights and international pressure:

Since 1975, the ruling party has never faced a wave of protests from dissidents, human rights and democracy activists within the country as it is today. Also, Communist leaders have never been in a weaker position than now in relations with the United States and the West. Vietnam's foreign policy tightrope between China and the United States only makes Vietnam more dependent on China and leads to it being bullied by China in the East Sea (also known as South China Sea).

4. Danger from China:

In the near future, there is high potential for sudden turmoils not only in the East Sea but also at the northern border of Vietnam, and interferences in domestic politics in Hanoi by China.

5. The unyielding dispute between interest groups within the Communist Party:

In contrast to their past unity, the present and near future of the Communist Party does not show signs of consensus between their own leaders. In fact, internal conflicts are growing, mainly derived from varying interests of interest groups. This uncompromising battle in its final stage can break up the ruling party, even if the economic crisis does not peak.

Conclusion:

Canadian politicians and investors can review and evaluate the 5 above risks in order to have a more complete view of the present and near future of Vietnam to appropriately reconsider their foreign policy and investments.

I think the Western policy of using economic pressure to advocate for democracy and human rights remains valueable and will have greater effect in the coming years for a free and democratic Vietnam.

Thank you for listening.

Tác giả gửi BVN.

Giang Lê : Phân tích bài phát biểu của tướng Phùng Quang Thanh tại Shangri-la

Post lại từ anhbasam

Giang Lê

6-1-2014

Tôi đang so sánh bài phát biểu của tướng Thanh bản tiếng Anh (trên website của IISS – link bên dưới) với bản tiếng Việt trên website báo Thanh Niên. Tôi sẽ bàn về nội dung của bài phát biểu này sau, trước hết là nhận xét về 2 version của bài phát biểu.Nhìn chung tôi cho rằng bản tiếng Anh là bài dịch từ nguyên gốc tiếng Việt vì một số câu chữ đặc thù của các bài phát biểu ở VN được đưa nguyên sang bản tiếng Anh. Tuy nhiên cũng lạ là có một số câu dường như bản tiếng Việt được dịch ngược lại từ bản tiếng Anh (vì câu tiếng Anh "chuẩn" hơn câu tiếng Việt).

Bản dịch tiếng Anh có câu cú, từ vụng không được trau chuốt, không chuẩn, và vẫn còn lỗi ngữ pháp. Một số chỗ có sai lệch về ý tứ giữa 2 version. Đặc biệt 2 paragraph rất quan trọng mà dư luận nhắc đến nhiều 2 hôm nay có sự khác biệt, dù không quá rõ nhưng đáng đặt câu hỏi đó là cố ý hay do người dịch không dịch tốt (tôi sẽ phân tích thêm về vấn đề này sau).

Bài phát biểu có nhiều ngôn từ rất "tuyên giáo" và "vênh" với văn hoá/chính trị quốc tế. Ví dụ đoạn nói về "lãnh đạo Đảng" hay ngụ ý về việc phải định hướng phát ngôn báo chí. Bài viết ba lần nhắc đến chữ "cấp cao" cũng là đặc thù của VN, hay những cụm tính từ rất đao to búa lớn như "nhất quán chủ trương kiên trì giải quyết" cũng vậy (chắc làm người dịch toát mồ hôi).

Việc sử dụng từ East Sea trong bản tiếng Anh mà không mở ngoặc là South China Sea là một cố chấp, nó làm giảm giá trị của một paragraph khi nói về tranh chấp biển vì nhiều người nước ngoài không biết East Sea ở đâu (trong khi Song tu Dong, Song tu Tay vẫn có mở ngoặc chú thích tên tiếng Anh).

Dịch chữ "quân đội" thành "the army" có thể gây thắc mắc cho các nhà bình luận/nghiên cứu Anh/Mỹ. Ở những quốc gia Anglo-Saxon "armed forces/defence force" được cấu thành bởi "the army", "the airforce", và "the navy". Trong đó "the army" chỉ là lục quân, hầu như không liên quan đến tranh chấp trên biển.

Câu "It is our clear awareness that struggling to protect territorial sovereignty is sacred" dịch quá máy móc. Chữ "struggling" làm thay đổi ý nghĩa của câu gốc tiếng Việt, chắc các độc giả nước ngoài sẽ gãi đầu gãi tai vì chẳng hiểu tại sao bảo vệ chủ quyền lại phải struggle.

——

Bây giờ nói về 2 cái paragraph "quan trọng" làm không ít người thất vọng về bài phát biểu này. Đoạn thứ nhất:"Quan hệ giữa Việt Nam và nước bạn láng giềng Trung Quốc về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp, chỉ còn tồn tại vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông và đôi khi cũng có những va chạm gây căng thẳng như sự việc…"

bản dịch tiếng Anh:

"Relations between Viet Nam and the friendly neighbouring country of China have seen overall strong growth. There remains an outstanding issue of disputes over sovereignty in the East Sea and frictions from time to time such as the incident…" 

Bỏ qua lỗi dịch thuật ("the relationship" chứ không phải "relations"), version tiếng Anh có nghĩa hơi khác so với tiếng Việt, không "nồng ấm" như ý trong tiếng Việt. "An overall strong growth" không hẳn là "đang phát triển tốt đẹp". Cụm từ "the friendly neighbouring country of China" đọc lên rất lủng củng và bản chất khác với "nước bạn láng giềng Trung Quốc". Dịch chính xác (nghĩa) câu tiếng Việt theo tôi phải là:

"The overall relationship between Vietnam and our neighbouring friend China is progressing well in all aspects…"

rõ ràng "nồng ấm" hơn hẳn bản dịch chính thức trên IISS. Lưu ý "friengly neighbour" khác với "neighbouring friend". Câu tiếng Việt khẳng định TQ là "bạn" của VN, câu tiếng Anh chỉ nói TQ là một hàng xóm tốt, dù không khác nhiều nhưng đáng lưu tâm nếu đây là chủ ý. "Đang phát triển tốt đẹp" cũng không hẳn là "strong growth", cụm từ tiếng Anh trung tính hơn hẳn cụm từ tiếng Việt.

Version tiếng Anh sau đó ngắt ra làm 2 câu trong khi bài tiếng Việt thêm vào một mệnh đề phụ với conjunction "chỉ còn" rất nhẹ nhàng. Khác biệt này rất khó thấy nhưng nếu chỉ đọc bản tiếng Anh (bỏ qua lỗi dịch thuật) thì người đọc có cảm giác quan hệ Việt-Trung phát triển đến ngày hôm nay và xuất hiện dispute về biển đảo làm gián đoạn quan hệ đó. Trong khi version tiếng Việt gợi ý rằng quan hệ đang phát triển tốt đẹp chỉ còn một vấn đề (nhỏ) khả năng sẽ được giải quyết êm thấm.

Sang paragraph thứ hai, bản tiếng Việt:

"Chúng tôi đề nghị Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam và cùng Việt Nam đàm phán để giữ được hòa bình ổn định và quan hệ hữu nghị hai nước."

bản tiếng Anh:

"We demand that China withdraw its drilling rig out of the Vietnamese continental shelf and exclusive economic zone and negotiate with us to maintain peace, stability and friendly relations between the two countries."

Chữ "đề nghị" ở đây dịch thành "demand" là sai (có chủ ý hay không tôi không biết). "We demand" là một yêu cầu ngoại giao cứng rắn, phù hợp với thông lệ quốc tế có nghĩa là "Chúng tôi yêu cầu…". Nếu dịch đúng (nghĩa) "Chúng tôi đề nghị…" sẽ phải là "We ask/insist…", yếu hơn rất nhiều.

Phần tiếp theo "…và cùng Việt Nam đàm phán để giữ được hoà bình…." dịch đúng thành "…and negotiate with us to maintain peace…". Tuy nhiên cả câu tiếng Việt lẫn câu tiếng Anh đều "đánh lừa" người đọc hiểu là VN yêu cầu TQ rút giàn khoan ra và đàm phán về vấn đề chủ quyền vùng biển đó. Cả báo tiếng Việt lẫn một vài báo tiếng Anh có vẻ hiểu như vậy mặc dù cái vế "đàm phán" này chỉ có nghĩa đảm bảo hoà bình, ổn định chứ không hàm ý đàm phán về chủ quyền. Sự mập mờ này là chủ ý hay chỉ là lỗi soạn thảo tôi không biết, nhưng điều này làm lập trường của VN yếu đi.

Dẫu sau trong 2 paragraph này tôi thấy bản tiếng Việt "ôn hoà" hơn hẳn bản tiếng Anh dù theo tôi bản tiếng Anh (lẫn bản tiếng Việt) vẫn chưa đủ cứng rắn và nội dung có nhiều điều cần bàn. Nếu hai version này được chủ ý viết khác nhau (dù rất subtle), một câu hỏi đặt ra là tại sao version tiếng Việt lại nhẹ nhàng hơn? Phải ngược lại mới hợp lý chứ (vì cần xoa dịu dư luận trong nước)?

Hôm trước anh Phu Nguyen Van có nhận xét cụm từ "hữu nghị viển vông" của TT Dũng trả lời phỏng vấn Reuters được dịch thành "elusive friendship" đã làm version tiếng Anh nhẹ nhàng hơn version tiếng Việt. Vậy tại sao tướng Thanh lại làm ngược lại?

——

Tạm xong về vấn đề hình thức, bây giờ chuyển qua nội dung bài phát biểu của tướng Thanh. Trước hết đánh giá về "văn" với tôi bài này có chất lượng trung bình kém. Chưa kể quá nhiều từ ngữ và style kiểu "tuyên giáo" tôi đã phàn nàn trong entry trước, ý tưởng toàn bài không mạch lạc, nhiều ý bị lặp đi lặp lại, các điểm nhấn không nổi bật (có thể tác giả cố tình). Đúng như Carl Thayer nhận xét lãnh đạo VN thường chỉ nói chung chung chứ không đưa ra điều gì cụ thể.Sở dĩ tôi không xếp hẳn bài này vào diện kém vì 2 bài còn lại trong session này (chuyên đề về Managing Strategic Tensions) cũng nhạt nhẽo không kém, có chăng bộ trưởng QP Úc và Indonesia viết trôi chảy hơn một tẹo. Một lý do nữa (hơi AQ một tý) là không rõ có phải vì bài phát biểu "dĩ hoà vi quí" như vậy nên tướng Thanh không bị quay trong phần Q&A hay không, chứ không chẳng biết ông sẽ xoay sở thế nào :-)

Nội dung chính của bài này có thể tóm tắt như sau. Năm ngoái thủ tướng tôi nói "lòng tin chiến lược" nhưng chắc chẳng ai nghe nên thế giới và khu vực ngày càng bất ổn. Năm nay tôi sẽ nói về "quản lý căng thẳng chiến lược", mà nói thực tôi cũng chẳng hiểu nó là cái gì (giống hai đồng nghiệp Úc và Indonesia vừa phát biểu). Thôi thì tôi cứ nhắc lại mấy câu "thần chú" ai ai cũng biết: giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hoà bình, các bên phải kiềm chế, không sử dụng vũ lực, đề cao vai trò các diễn đàn/tổ chức quốc tế… Ví dụ như VN chúng tôi đây dù TQ ngang ngược đem giàn khoan vào EEZ của tôi không đời nào tôi dùng vòi rồng hay húc tàu (như chúng nó đã/đang làm – đoạn này ngầm hiểu không phải tôi nói đâu nhé!). Nhân tiện đây tôi nhắn bạn TQ kéo cái giàn khoan ra đi rồi chúng ta đàm phán, tôi hứa sẽ chỉ song phương thôi vì đây là vấn đề giữa 2 chúng ta (bạn lưu ý là tôi không có ý định kiện cáo gì đâu nhé). Cuối cùng, xin gửi lời chào thân ái và quyết thắng tới toàn thể hội nghị!

Điểm "văn" trung bình kém, còn điểm "impact" thì thế nào? Để đánh giá mặt này cần phải trả lời câu hỏi bài diễn văn này nhằm đánh tiếng điều gì và cho ai. Cá nhân tôi cho rằng đích đến của ông Thanh là TQ (dĩ nhiên rồi), Mỹ+Nhật+… (dĩ nhiên), nội bộ VN (nhân dân và các phe cánh khác phe (của) ông Thanh), có thể với Nga nữa. Tại sao lại với Nga? Đọc bài của bộ trưởng QP Nga sẽ thấy Nga lo ngại Mỹ xoay trục sang Asia-Pacific và tìm cách thành lập liên minh quân sự. Toàn bài của tướng Thanh không hề nhắc đến liên mình, liên kết gì cả, thậm chí đến tập trận chung (là điều rất nhiều speaker khác nhắc đến) cũng không dám nói (mạnh miệng nhất chỉ là vụ "giao hữu bóng chuyền" với lính Phi luật tân ở Trường Sa). Thông điệp cho Anatoly Antonov là cứ giao nốt mấy cái Kilo và Su-30 đi, tôi không phản thùng theo Mỹ đâu, tôi cũng ghét các thể loại "color" như bạn vậy.

Tất nhiên đây cũng là thông điệp cho TQ. Thông điệp này càng quan trọng sau bài mở màn đầy kịch tính của Shinzo Abe và nhất là bài cực diều hâu của Chuck Hagel. Nhiều người chỉ đánh giá bài của Hagel ở điểm xỉ vả thẳng thừng TQ mà không để ý ông này doạ TQ bằng cách công bố một loạt hợp đồng bán vũ khí mới cho các quốc gia bao quanh nước này. Hagel nói thẳng ý tưởng có thể lập liên minh quân sự (chống Tàu – cái này là tôi suy diễn nhé) còn Abe bảo liên minh đa phương mà khó thì làm liên minh tay ba Mỹ-Nhật và một nước thứ ba nào đó, mà VN rõ là một candidate rất hợp lý. Abe và sau đó một bạn Nhật khác tung hứng ý tưởng sẽ sửa hiến pháp để chủ động hơn trong các hoạt động quân sự trong và ngoài nước, trong các trường hợp "emergency". Cuối bài phát biểu Chuck Hagel nói kháy TQ bằng lời của George Marshall: tao với mày đọ xem ai có nhiều bạn hơn nào? Không, tất nhiên VN vẫn là bạn với TQ, thông điệp này rất rõ ràng.

Vậy thì thông điệp với Mỹ và đồng minh thế nào? Một con số không tròn trĩnh. Bạn không tin á? Đến một chữ "Mỹ" hay "Nhật" còn không dám đưa vào bài phát biểu chứ đừng nói gì đến liên minh hay hợp tác. Thậm chí một version nhẹ nhàng hơn là TPP cũng giấu tịt. VN theo như tướng Thanh (và phe của ông ấy) sẽ không chơi với Mỹ, đấy là thông điệp trong bài phát biểu này bất chấp trước đó Chuck Hagel đã ra sức làm thân nhắc đến kỷ niệm năm 67. Tất nhiên cả Hagel lẫn Abe đều muốn nghe một tuyên bố cứng rắn từ phía VN công khai tại hội nghị, đó là thành công chính trị mà họ có thể đem về nước để lấy tiền và lấy phiếu. Nhưng hi vọng rằng cả hai bạn ấy đều hiểu phẩm chất của người CS, họ không làm những gì họ nói (trích lời TT đấy nhé). Cũng có thể tướng Thanh đang chê 18 triệu ít quá, số đó mới chỉ là xoay nắm đấm cửa thôi chứ trục trặc gì. Bởi vậy nên bạn đừng quá thất vọng.

Cuối cùng là thông điệp gì tướng Thanh muốn gửi ngược về cho đồng bào của mình? Đọc bản tiếng Việt "nhũn như con chi chi" trái với những lời lẽ cứng rắn của thủ tướng Dũng mấy hôm trước bạn có đoán được không? Tôi nhớ một dạo dư luận và báo chí ồn ào về vụ quân đội có nên "phi chính trị" hay không, hay bây giờ chuyển sang "phi chính phủ"? Cá nhân tôi cảm thấy lo lắng rằng trong lúc dầu sôi lửa bỏng như thế này nội bộ VN không đoàn kết, một lòng tìm giải pháp đối phó với một đối thủ rất thâm độc. Hi vọng rằng những cảm nhận của tôi sai, các bác ấy đang đánh vu hồi tứ tung. VN đang đứng trước một mối đe doạ cực kỳ nguy hiểm nhưng đồng thời có một cơ hội lịch sử thoát khỏi quá khứ tối tăm. Tiếc là khả năng những dân đen như tôi và bạn chộp lấy cơ hội này quá nhỏ, vận mệnh đất nước một lần nữa lại nằm trong tay một vài người như tướng Thanh. Ở thời điểm này, tôi chấm cho (bài phát biểu của) ông điểm kém. Bạn sẽ chấm thế nào?
——
.
Nguồn:

Nhóm nhặt rác bị hỏi han vì cho là mặc áo "nhạy cảm" có logo Human Rights

Nguồn danlambao



Trong nhiều tháng trở lại đây, với mong muốn góp phần làm cho môi trường thêm xanh - sạch - đẹp, đồng thời giúp người dân xung quanh ý thức hơn với việc không xả rác bừa bãi, một nhóm các bạn trẻ tại Sài Gòn đã âm thầm dành mỗi sáng chủ nhật để tới các công viên trong thành phố tham gia nhặt rác, làm sạch cảnh quan. 

Với các bạn, đây là quyền cũng như trách nhiệm của mỗi cá nhân, vì thế họ không muốn sử dụng bất cứ hình thức nào để truyền thông những buổi sinh hoạt này. Tuy nhiên, ngày 25/5/2014 vừa qua, khi đang nhặt rác tại công viên Lê Thị Riêng thì nhóm bạn trẻ này đã bị bảo vệ ngăn chặn, đồng thời còn huy động cả xe công an, dân phòng đậu trước cổng công viên...

Hành vi ngang ngược của chính quyền đã khiến các thành viên trong nhóm quyết định công khai sử dụng hình ảnh và bài viết lên tiếng bảo vệ "quyền được nhặt rác" của mình. Hơn nữa, trong nhóm, còn có bé Minh - khoảng 10 tuổi, tuy còn nhỏ, nhưng bé rất quan tâm đến hoạt động xã hội và thích đi theo các anh chị để nhặt rác. Không biết bé sẽ nghĩ gì khi làm một việc tốt mà lại bị cấm cản?

*

Nguyễn Nữ Phương Dung (FB Miu Mạnh Mẽ) - Sau vụ việc bị bảo vệ ngăn không cho nhặt rác hôm chủ nhật tuần trước, sáng nay nhóm rác tiếp tục sinh hoạt tại công viên Lê Văn Tám. Khi nhóm vừa đến nơi, thì một chú công an mặc sắc phục đi đến đứng gần, sau đó nhóm nhặt rác đến đâu thì chú này đi theo đến đó... Chú này đến hỏi nhóm 1 vài câu, nhưng chỉ nhẹ nhàng và không gây khó dễ gì.

Công viên Lê Văn Tám là một trong những công viên sạch sẽ của thành phố tuy nhiên nhóm chúng tôi cũng nhặt đc rất nhiều loại rác khác nhau. Một cô lớn tuổi tập thể dục trong công viên đã đến vỗ vai tôi cười và cảm ơn về những gì nhóm rác trẻ đang làm. Một bé gái tập đi, đang tập tễnh đi theo mẹ nhìn thấy nhóc Minh - nhóc con trai của một anh trong nhóm đang hì hục nhặt rác thì bé gái ngoái lại nhìn nhóc Minh rất lâu. Mẹ bé bảo với bé rằng: "anh đang nhặt rác đó, xả rác xấu lắm... sau này con nhớ bỏ rác vào thùng nghe"... Nhìn những phản ứng của mọi người xung quanh với nhóm rác, chúng tôi cảm thấy rất vui. Đặc biệt là nhóc Minh đi theo nhóm, em còn nhỏ tuổi nhưng ý thức được công việc xã hội, luôn nhắc ba dẫn đi nhặt rác hàng tuần và rất siêng năng nhặt không sót một mẩu rác nào, thật là một cậu bé ngoan.

Trong lúc chúng tôi nhặt rác, có nhiều an ninh mặc thường phục cầm máy quay, quay phim chụp hình chúng tôi, nhận thấy việc nhặt rác là một việc xã hội hoàn toàn bình thường không có gì sai trái nên chúng tôi vẫn tiếp tục công việc mặc cho họ ghi hình.

Nhóm nhặt từ 9h đến 10h thì nghỉ... ngồi nghỉ mệt uống nước 1 lát, cả nhóm chuẩn bị ra về thì một anh bảo vệ đi đến hỏi chúng tôi sinh hoạt trong nhóm hội đoàn nào, sao không báo cho ban bảo vệ công viên, và nói rằng nhóm mặc áo có logo khẩu hiệu "nhạy cảm", sau này có sinh hoạt thì phải thông báo. Áo nhạy cảm anh bảo vệ nhắc đến, có lẽ là áo quyền con người có logo Human Rights với khẩu hiệu "chúng ta có quyền vì chúng ta là con người". Chiếc áo này thành viên nhóm thường mặc đi nhặt rác với ý nghĩa rằng: Chúng ta có quyền sống trong một môi trường trong sạch không có rác, chúng ta phải góp phần làm cho môi trường xanh - sạch. Thế nhưng khẩu hiệu này lại bị cho là nhạy cảm.


Nhóm rác chúng tôi là một nhóm thiện nguyện hoạt động mỗi chủ nhật hàng tuần, với mong muốn bảo vệ môi trường, giúp nâng cao ý thức người dân trong việc xả rác bừa bãi. Nếu cứ tiếp tục ngăn trở nhóm nhặt rác như vậy, chúng tôi đành phải đòi quyền tiếp tục nhặt rác, và quyền nhặt rác của người dân phải được tôn trọng.

Bé Minh rất thích thú với công việc thiện nguyện này







Nguyễn Gia Hảo : CHIẾC LÁ NHO CHE SAO NỔI VẾT NHƠ LỊCH SỬ

Nguồn danquyen

Thứ Hai, ngày 02 tháng 6 năm 2014

Dân Quyền: bài này ông Nguyễn Gia Hảo, cựu thành viên của Ban Nghiên cứu Thủ tướng, phu quân của bà Phạm Chi Lan (cũng đã là thành viên của Ban nghiên cứu đó) viết đã cả tuần nay cho một báo chính thong, nhưng không thấy đăng. Dân Quyền xin trân trọng  giới thiệu cùng bạn đọc.


Nguyễn Gia Hảo

 
Kể từ đầu tháng 5 năm nay, Trung quốc đã ngỗ ngược đưa giàn khoan HD 981 khổng lồ được hộ tống bởi hơn 100 tầu đủ các loại, quân sự và quân sự ngụy trang, rầm rộ kéo vào vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam để thăm dò dầu khí. Vấp phải các lực lượng cảnh sát biển và kiểm ngư VN ra ngăn cản và thuyết phục, phía Trung quốc đã cố tình khiêu khích, xô xát bằng canon…phun nước và đâm, va quệt…, thậm chí đâm chìm cả tàu đánh cá của ngư dân Việt.

 


Trên mặt các báo đã có nhiều bài phân tích về thời điểm, địa điểm Trung quốc gây hấn lần này với Việt Nam. Nào là lợi dụng lúc Mỹ và Châu Âu đang bận bịu với vụ Nga can thiệp vào Ucraina có thể "bỏ ngỏ" phía Đông, Châu Á và Thái bình dương; nào là Nga do bị Mỹ và Châu Âu cấm vận nên cần tìm Trung quốc là bạn "đồng minh" để bù đắp những thiệt hại về kinh tế và phòng xa khi lâm sự, khởi động lại "chiến tranh lạnh" mà thế giới đã muốn "đào sâu, chôn chặt"; nào là Trung quốc muốn thăm dò thái độ của Mỹ, trên hành động, về những cam kết của Tổng thống Obama trong chuyến thăm 4 nước Chấu Á vừa qua; nào là Trung quốc thách thức các nước ASEAN, nhất là sau nhiệm kỳ do Cămpuchia làm chủ tịch, tưởng đã tìm được "con ngựa thành Troa" trong ASEAN, đã dấn thêm một bước nhằm chia rẽ các nước thành viên ASEAN ngay trước thềm hội nghị của các nguyên thủ của khối này họp tại Myanmar…

 

Lựa đúng thời điểm, giới cầm quyền ở Trung nam hải đã phái CNOOC (Cty khai thác dầu khí ngoài khơi của Trung quốc, để thuận mồm, xin Việt hóa kêu là "Cậu cả Ngốc" cho tiện gọi!) đưa giàn khoan khổng lồ, nửa nổi, nửa chìm, lớn bằng cả cái sân đá bóng, cao lừng lững như một tòa nhà 4 tầng, trị giá cả tỷ đô la, đóng từ nhiều năm trước nhưng chưa tìm được thời cơ  thuận lợi để "ra khơi", nay mới được đưa vào vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam để khoan thăm dò, cho dù "Cậu cả Ngốc" đã được cảnh báo là khó có khả năng tìm ra dầu khí tại vùng đó…

 

Người ta bảo "Cậu cả Ngốc" đến biển Đông không phải vì dầu khí mà được giao sứ mệnh viết những trang đầu của "Giấc mộng Trung hoa" bằng việc đưa HD 981 vào biển của người khác để hòng xác nhận chủ quyền với nhiều lý lẽ ngớ ngẩn, ngây ngô kiểu "chúa Tàu nghe kèn" ra vẻ ngạc nhiên của vài "học giả" Trung hoa: nào là đó là vùng biển của Trung quốc, nào là các nước khác trong vùng đã có cả hàng trăm giàn khoan ở Biển Đông,  nay Trung quốc mới đưa có mỗi một giàn khoan ra đó thì có sao đâu (!)…Những lý sự cùn tương tự kiểu đó đã bị ngay những người dân Trung quốc có lương tri phản đối. Chỉ điểm qua trên mạng trong những ngày này thôi, đã thấy nhiều người cho đó là hành động cướp biển, không tôn trọng luật pháp quốc tế, họ kêu gọi chính quyền nước họ hãy giải quyết những việc đang lộn xộn trong nhà chứ đừng gây hấn với nước khác…, đừng ỷ nước lớn bắt nạt nước nhỏ, hãy hành động theo đúng kiểu "chính danh quân tử" của đạo Khổng, đạo Lão chứ đừng đạo tặc như hạng lục lâm, thảo khấu làm cho người Trung quốc phải hổ thẹn, hãy hành động cho đúng với tuyên bố "trỗi dậy hòa bình", "là thành viên có trách nhiệm của Liên Hiệp Quốc"…

 

Cũng cần nghiệm ra rằng, cứ mỗi lần Trung quốc gây gổ với nước khác, là y như rằng lúc đó Trung quốc đang gặp những khó khăn, bất ổn trong nội địa. Này nhé, sự bất mãn của người Tây tạng, người Duy ngô nhĩ Tân Cương, Nội Mông… trước sự thống trị của người Hán đã lên đến đỉnh điểm, từ những "tia lửa nhỏ" đang bùng lên thành ngọn lửa lớn sẵn sàng "đốt cháy đồng cỏ rộng". Những vụ đâm chém điên cuồng đã đi tới những vụ nổ bom (dù chỉ ở dạng tự tạo) chẳng những ở các vùng xa xôi mà đã vào sâu tới tận quảng trường Thiên an môn ở Bắc kinh, xuống tận Côn minh, Vân nam, Quảng châu…. Mặt khác, sự chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa vùng ven biển và vùng sâu trong nội địa; những vụ tham nhũng động trời của các nhân vật chóp bu -những người đã từng thuộc lầu lầu Mao tuyển, nhưng nay không từ bất cứ hành động bẩn thỉu nào để "kiếm ăn" (như thành viên Tổng quân ủy TW cũng ăn ngay cả trên lưng người lính Giải phóng quân)…; những vụ đấu đá nội bộ, thanh trừng lẫn nhau… đã khiến lòng dân oán hận, biến thành hàng trăm ngàn vụ bạo loạn nổ ra khắp nơi trên đất Trung Hoa…

 

"Cậu cả Ngốc" cũng tuyên bố rằng HD 981 sẽ nằm lỳ ở vùng biển của Việt Nam cho tới tận tháng 8 năm nay. Người ta tính rằng mỗi ngày "Cậu cả" ngốn cả triệu USD để duy trì sự tồn tại của con "quái vật" này và cả hàng trăm tầu, hàng chục máy bay hộ tống cùng lũ báo chí, truyền hình đi theo để lu loa những điều bịa đặt gian dối.

 

Hành động của "Cậu cả Ngốc" theo kịch bản của Trung nam hải đã gặp sự phản ứng gay gắt của người dân Việt Nam sau khi chính giới không thể "hòa hiếu" thêm được nữa, phải đưa tin công khai trên báo chí và đưa vài chục tàu chức năng của Cảnh sát biển và Kiểm ngư ra "nghênh tiếp" hơn 100 tàu đủ loại của Trung quốc, để vừa ngăn chặn, vừa giải thích và kêu gọi Trung quốc rút giàn khoan HD 981 và các tầu ra khỏi vùng biển của Việt Nam. Đáp lại sự kiềm chế   của nước chủ nhà, Trung quốc vừa đưa thêm các loại tàu có vũ trang vào, vừa không ngần ngại cho tầu của họ cậy đông đâm va và bắn nước vào tàu VN, tháo bỏ bạt che để các vũ khí nóng trên boong tàu trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu, cho máy bay trinh sát lượn lờ trên tàu của VN để uy hiếp tinh thần. Đối lại các cuộc biểu tình phản đối ôn hòa của người dân Việt, họ xúi giục bọn côn đồ trà trộn lôi kéo công nhân lợi dụng biểu tình để gây nên các cuộc bạo động đập phá, cướp bóc tại một số nhà máy trong các khu công nghiệp ở Bình Dương, Đồng nai, Hà tĩnh. Trong những vụ này rất có thể có bàn tay của Hoa nam tình báo cục chỉ huy bọn Hán gian nằm vùng ở Việt Nam kết hợp với lũ tay chân của chúng "đạo diễn" mọi việc, để tạo cớ đưa tàu biển đến di tản "công dân TQ", nhằm một mặt gây bất ổn cho Việt Nam, mặt khác bôi xấu hình ảnh Việt Nam trước con mắt của các nhà đầu tư quốc tế…Bằng những thủ đoạn thâm độc đó, họ muốn hướng dư luận ra ngoài và quên đi thực tại bất an mà Trung nam hải đang phải đối mặt, và làm cho người dân Trung quốc và dư luận thế giới quên đi những vụ bạo động và trấn áp diễn ra ngày càng nhiều trên khắp các vùng ở Trung quốc.

 

Người Việt Nam hàng ngàn năm nay, kể từ khi lập nước, đã sống bên cạnh Tàu, đã quen với những trò bẩn thỉu như  "ném đá giấu tay", "vừa đánh trống vừa ăn cướp", "vừa ăn cướp, vừa la làng", "gắp lửa bỏ tay người"…đã được đưa vào  binh pháp của họ. Nhiều báo chí đã nói đến chuyện trên, nhưng còn một chuyện chưa thấy ai nhắc tới.

 

Đó là, năm 2014 này, cùng với người dân Trung quốc, thế giới sẽ tưởng niệm 25 năm vụ Thiên an môn, trong đó hàng ngàn sinh viên và người dân Trung quốc đã ngã xuống vào cái đêm mồng 4 rạng sáng mồng 5 tháng 6-1989 tại quảng trường Thiên an môn giữa thủ đô Bắc kinh của TQ. Sau vụ thảm sát đó là những vụ bắt bớ, tù đầy và thủ tiêu không biết bao nhiêu người dám lên tiếng đòi tự do dân chủ, những học viên Pháp luân công chỉ theo tiêu chí "Chân, Thiện, Nhẫn" của đạo pháp. Bao người đã bị chết dưới bàn tay đao phủ, bị mổ và cướp nội tạng để bán, góp một phần làm vốn cho đất nước Trung hoa phát triển!

 

Người dân Trung quốc và thế giới sẽ không quên cái đêm kinh hoàng đó. Hàng năm, cứ đến ngày giỗ này, người dân ở Trung quốc thường âm thầm cầu nguyện cho những người đã ngã xuống, trong khi ở Hồng kông, Ma cao, Đài loan và ở nhiều nước khác, cộng đồng người Hoa thường tổ chức những cuộc mit tinh, tuần hành lớn để nhắc nhau không quên cái vết nhơ của lịch sử Trung hoa và phản đối nhà cầm quyển Trung quốc.

 

Liệu năm nay, kỷ niệm 25 năm sự kiện Thiên an môn sẽ ra sao? Liệu con quái vật HD 981 đang ngỗ ngược cắm sào tại Biển Đông thuộc chủ quyền của Việt Nam, liệu bộ máy tuyên truyền rất to mồm của Trung quốc đang cố lừa dối dư luận thế giới và đổ vấy cho Việt Nam "bắt nạt" Trung quốc có thể làm cho mọi người quên đi vụ Thiên an môn 25 năm về trước, quên đi hình ảnh man rợ của những tên lính xe tăng được cho uống rựơu để "lên tinh thần" trước khi xung trận nghiền nát dưới xích những người biểu tình trong tay không có lấy một tấc sắt?

 

Không. Người dân Trung quốc và thế giới không bao giờ quên vụ Thiên an môn năm 1989. Nhân dịp này hãy vào mạng mà xem những hình ảnh ghi lại sự kiện Thiên an môn tàn khốc 25 năm về trước. Hãy xem để tự vấn một điều: đối với người nước họ, họ còn sẵn sàng ra tay tàn nhẫn đến thế, thì đối với mình, kẻ luôn mồm tự xưng là "đồng chí, anh em 4 tốt" này sẽ đối xử ra sao? Hãy xem để thấy rằng những câu rao giảng nào là "trỗi dậy trong hòa bình", nào là "là thành viên có trách nhiệm của Liên Hiệp Quốc"… chỉ là những lời sáo rỗng của kẻ lừa bịp, "miệng nam mô, bụng một bồ dao găm"…

 

"Chiếc lá nho HD 981" dù to đến cỡ nào cũng không thể che đậy được những vụ việc đang xảy ra ngay trên đất Trung hoa, không che được vụ Thiên an môn của 25 năm về trước. Ngược lại, nó đã tuột rơi để cho bàn dân thiên hạ thấy được dã tâm của cái "Giấc mộng Trung hoa", một Trung hoa nằm trong tay những tên bạo chúa đầy tham vọng, những kẻ đang bôi nhọ những gì tốt đẹp của văn hóa Trung hoa truyền thống.

 

"Chiếc lá nho" đã tuột rơi để lộ nguyên hình Trung nam hải với "nhân dục vô nhai" (lòng tham không đáy) đã quên đi lời trăng trối gói gọn trong bốn chữ (đều rơi vào cung "tử" ) "Thao Quang Dưỡng Hối", được lý giải là kiên trì bốn hiện đại trong bóng tối, chớ vội phô trương thanh thế, hết sức nhũn nhặn mềm dẻo, che dấu mưu đồ bá chủ, giấu mình chờ thời, để đợi khi đã đủ nanh vuốt hãy hành động, của Đặng Tiểu Bình, một Tào Tháo tái xuất giang hồ ở thế kỷ 20, thâm trầm mưu mẹo trong suy nghĩ, ngổ ngáo, "cao bồi" trong hành động, không còn úp úp, mở mở, có có, không không, như trong bài đồng dao của trẻ nhỏ Việt Nam

 

"Tập tầm vông, tay nào không, tay nào có?

Tập tầm vó, tay nào có, tay nào không?"

 

"Chiếc lá nho" đã tuột rơi để đánh thức những ai còn đang mộng mị tin vào "16 chữ vàng" và "4 tốt", để người Việt quên đi những nhọc nhằn thường ngày, những khác biệt còn đó để đoàn kết lại dưới lá cờ "Tổ quốc trên hết", "Không có gì quý hơn độc lập-Tự do". Thấm nhuần lời dạy của các bậc tiền nhân, người Việt ngày nay ai cũng hiểu chủ quyền lãnh thổ, biển đảo của Tổ quốc là thiêng liêng, nên "nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó",  như lời người đứng đầu Chính phủ Việt Nam-Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã dõng dạc tuyên bố tại Diễn đàn Kinh tế Đông Á ở Manila ngay trong những ngày Trung quốc gây căng thẳng trên Biển Đông. 

 

Có một thời Trung quốc lên án Liên xô cũ là "đế quốc XHCN". Ngày nay Trung quốc là gì? Xin hãy hỏi người dân Châu Phi, nơi Trung quốc đang khai thác tàn bạo tài nguyên của họ, liệu Trung quốc có phải là tên thực dân kiểu mới được gắn thêm cái đuôi "XHCN" ? Chẳng phải đâu xa, ngay tại Việt Nam đây thôi, hãy hỏi những người nhẹ dạ cả tin, hay phải "ngậm bồ hòn làm ngọt" vì đã chót ăn tiền "lại quả" của "đối tác" mà giao cho các nhà thầu của "nước bạn" những công trình khởi công rầm rộ nhưng chẳng rõ bao giờ kết thúc, để hứng lấy những sản phẩm tồi và công nghệ bẩn, đã "tô nhượng" những vùng đất, vùng rừng nhậy cảm…. Hãy hỏi những người nông dân đã từng bị thương lái "nước bạn" xui đểu bán móng trâu, móng bò, bán rễ cây tiêu, cây trắc, nhổ lúa để trồng khoai lang… với lời hứa "bao tiêu" rồi "mất hút con mẹ hàng lươn", những ngư dân đã từng bị "tàu lạ" đâm va, cướp ngư cụ, bắt người đòi tiền chuộc…

 

HD 981 cắm sào trong biển của Việt Nam rồi từ đó nó sẽ gậm nhấm dần xuống phía Nam, nuốt trọn cả một vùng biển nằm trong cái "lưỡi bò" mà Trung quốc tự tạo ra để khống chế toàn bộ Biển Đông, con đường giao thương hàng hải lớn của thế giới, hàng năm khoảng 5.000 tỷ USD hàng hóa qua lại (riêng phần Mỹ là 1.200 tỷ/năm). Ai là tên xen đầm ở vùng này đây? Chắc chắn không phải Việt Nam, Philippines hay bất cứ một nước nào trong khối ASEAN. Và rõ ràng  không phải chỉ lợi ích của Việt Nam hay Phillipines bị xâm phạm, mà lợi ích của tất cả các nước đang sử dụng quyền tự do đi lại trên Biển Đông theo luật pháp quốc tế cũng bị thách thức.     

 

Các nước khác trong vùng, các nước còn nhỏ yếu, và ngay cả nước lớn đang có quan hệ với Trung quốc, trước hành động của Trung quốc lần này đối với "người anh em, đồng chí" Việt Nam, hẳn sẽ phải giật mình xem lại để điều chỉnh cách chơi với một Trung quốc trỗi dậy hoàn toàn không hòa bình chút nào.

 

Và liệu Trung quốc có đạt được cái ảo vọng bẻ từng chiếc đũa trong bó đũa ASEAN hay không, cho dù các nước trong khối này cũng còn nhiều chuyện phải giải quyết, hay ngược lại, hành động ngang ngược của Trung quốc lần này sẽ đẩy các nước ASEAN gắn kết lại với nhau hơn ?

 

Trong họa có cái may. Lần này Việt Nam càng thấy rõ "Ai là Ai?" ngay trong nội bộ mình và trên bình diện quan hệ quốc tế. Bị dồn đến chân tường, không thể "hòa hiếu" nói chuyện tay đôi với tên côn đồ, chắc chắn Việt Nam sẽ sẵn sàng chuyển sang các biện pháp khác phù hợp với luật pháp quốc tế, kể cả tranh thủ sự hợp tác, hỗ trợ của các nước khác để bảo vệ chủ quyền của mình, và đưa vấn đề ra cơ quan tài phán quốc tế để phân xử.

 

Trên hành tinh này không có dân tộc nào như dân tộc Việt Nam thấu hiểu thế nào là chiến tranh và những hậu quả còn thấm sâu của nó, chính vì vậy mà càng trân trọng giá trị của mỗi ngày có hòa bình. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, người Việt luôn tránh là người "khơi mào" cho các cuộc chiến, chỉ cầm vũ khí khi buộc phải tự vệ, như ai đó đã viết trên mạng trong những ngày vừa qua, "Việt Nam không bao giờ là người tuốt gươm ra trước nhưng sẽ là người sau cùng tra gươm vào vỏ".

 

Việt Nam không thể so sánh với Trung quốc về tiềm lực kinh tế và quân sự, song luôn có thể "Lấy nhân nghĩa thắng hung tàn, Lấy chí nhân thay cường bạo…". Với lịch sử ngàn năm và kinh nghiệm nhiều năm trong thế kỷ trước đương đầu với những kẻ xâm lăng từ phương Bắc và các cuộc chiến tranh với một số nước đã từng mạnh hơn Trung quốc, người Việt đã quen "lấy yếu thắng mạnh, lấy nhỏ thắng lớn", đã biết tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới, trong đó có cả nhân dân Trung quốc, để rồi cuối cùng đều đã giành được thắng lợi cho dù phải hy sinh không nhỏ …

 

Trong những ngày qua, việc Trung nam hải đưa "Cậu cả Ngốc" ra cắm sào tại Biển Đông thuộc lãnh hải của Việt Nam đã làm cho Việt Nam bừng tỉnh để rũ áo chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, tự tin thấy rằng điều cần thiết và cơ bản là phải tăng cường nội lực và trân trọng sự ủng hộ của quốc tế. Để làm việc này, không gì khác là phải làm cho những nội dung trong thông điệp đầu năm của Thủ tướng sớm thành hiện thực.

 

Trong những việc cần làm ngay, có (i) cải cách thể chế, (ii) xây dựng Nhà nước pháp quyền, và, (iii) xây dựng và phát triển một xã hội dân sự. Phải chăng đây là một bộ (set) "quyền lực mềm" mà Trung quốc khó lòng có được khi những cái đầu nóng ở Trung nam hải còn theo đuổi "Giấc mộng Trung hoa", mê hoặc nhân dân nước mình, lừa bịp thế giới rằng họ "không có gen xâm lược" để che giấu cái "máu bành trướng" đã thấm sâu "thâm căn, cố đế" trong tiềm thức họ!

 

Vậy là "chiếc lá nho" HD 981 dù to cỡ mấy cũng không che được vết nhơ lịch sử mới của Trung quốc, nối tiếp từ "đại nhảy vọt" rồi "cách mạng văn hóa" đến các cuộc chiến cướp đảo Hoàng sa, Gạc ma của Việt Nam, tấn công qua biên giới Việt-Trung năm 1979, cuộc tàn sát kinh hoàng tại Thiên an môn ngày 5-6-1989, việc trắng trợn đưa giàn khoan HD 981 vào biển Đông lần này, cùng không biết bao nhiêu vết nhơ lớn nhỏ trước và sau những mốc đó…

 

Chiếc lá nho đã tuột rơi để lộ nguyên hình "Giấc mộng Trung hoa" là thế đó!

 

 

Nguyễn Gia Hảo

26-5-2014