Thứ Tư, 2 tháng 7, 2014

Lê Tuấn Huy : Lại nói về đồng minh

Nguồn procontra

Tháng 7 1, 2014

Việc giàn khoan Haiyang Shiyou 981 được đưa vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam cho thấy Hà Nội đã thất bại trong việc dùng "đồng chí" và "phi liên kết" làm đối sách cho sự bành trướng trên biển của Bắc Kinh.

Vài năm gần đây, Việt Nam đã chuyển bước nhất định để tạo vị thế mới. Tuy vậy, sau những thắng lợi ngoại giao từ ghế chủ tịch luân phiên ASEAN (2010), đến khi Hoa Kỳ xoay trục, được sự hỗ trợ của một số lập luận cũ và mới, Hà Nội chỉ duy trì đường hướng mới ở mức tối thiểu để "cân bằng" với các bên, và càng xác quyết con đường phi đồng minh.

Trước khi bàn đến các lập luận ấy, cần nhắc lại rằng lịch sử và thực tế đã cho thấy đồng minh là một nhu cầu  quan hệ khách quan ở mọi thời đại, mọi lãnh thổ, mọi chế độ xã hội. Nó có thể là một liên minh chính thức về nhiều mặt, theo mục tiêu chiến lược, mà cũng có thể chỉ là sự gắn kết không chính thức hoặc tùy vào mục tiêu tình thế, dựa trên những chia sẻ về giá trị, quyền lợi, hoặc chỉ là động thái sách lược, chiến thuật. Nó có thể là một liên minh chính trị, một khối quân sự, kinh tế, hay những dạng đồng minh về thể chế, văn hóa… Và quan hệ đồng chí cũng chỉ là một biến thể trong sự đa dạng đó.

Từ sau Thế chiến thứ II, ngoài con số rất hiếm hoi quốc gia được thừa nhận trung lập, còn lại, tùy tương quan và giai đoạn, không một không gian địa lý nào tránh khỏi thế liên kết ngoại biên, theo hình thức này hay hình thức khác.

Khi chưa có sự việc nghiêm trọng hiện nay tại Biển Đông, các ý kiến đứng trên cương vị chính thống đã không bác cách tiếp cận đồng chí. Ngược lại, có nhiều khẳng định, rằng Việt Nam không cần đến đồng minh, vì quyết định là ở nội lực.

1. Hiểu nội lực và ngoại lực như thế nào?

Phát triển nội lực để xây dựng một quốc gia thịnh vượng, đủ sức đối mặt với mọi thách thức, là quan điểm hoàn toàn đúng. Nhưng nói rộng ra, rằng phải tự lực chứ không cần đến ngoại lực, không cần đến đồng minh, là hoàn toàn sai.

Về nhận thức, lập luận mở rộng đó phản ánh một tư duy phi lịch sử và phi thực tế.

Về chiến lược, nó lấy cái dài hạn thay cho cái cấp bách, nhầm lẫn giữa tương quan kinh tế – xã hội với tương quan chính trị – quân sự, bởi nội lực là cái trường kỳ của mọi quốc gia, và khoảng cách giữa các nước về nguồn lực này không phải một sớm một chiều mà rút ngắn, trong khi vấn đề chủ quyền liên quan đến Trung Quốc lại rất cấp bách.

Về chiến thuật, chỉ nhắm đến nội lực (vốn rất thua kém) thì chẳng khác nào tự trói tay trước một đối thủ vừa vũ trang hiện đại đầy mình, vừa đủ thế và lực để phân hóa sự liên kết khả dĩ của đối phương.

Bên cạnh đó, nhấn mạnh nội lực để bác bỏ đồng minh, xem nó chỉ là ngoại lực, là cách hiểu siêu hình.

Lẽ nào trong hai cuộc chiến chống Pháp và Mỹ, chỉ bằng nội lực riêng có mà Việt Nam đã thắng? Đương nhiên là không. Hậu thuẫn và viện trợ của các đồng minh Liên Xô, Đông Âu, Trung Quốc, nếu chỉ là ngoại lực thuần túy, tự nó sẽ chẳng mang ý nghĩa gì. Chỉ khi người Việtchuyển hóa thành cái của mình, không xem chúng là bất đắc dĩ hay thiếu hữu dụng, thì mới có được thành quả như đã thấy.

Tương tự, từ sau đổi mới, nếu xem đầu tư nước ngoài là như một ngoại lực chẳng đặng đừng (phải chấp nhận tư bản nước ngoài vào bóc lột), chứ không xem như một nguồn lực nội tại hóa, thì chắc chắn bộ mặt đất nước đã không như ngày nay.

Quan hệ đồng minh, khi xác lập đầy đủ và vận hành hiệu quả, sẽ trở thành một cấu thành của nguồn lực chính trị, kinh tế, ngoại giao, quân sự của quốc gia. Vấn đề là, thay vì giữ nhận thức sai lầm khi tách bạch nội lực và ngoại lực, người làm chiến lược cần tính toán, vận dụng nguồn lực đặc biệt này sao cho tối ưu.

Nhưng không dừng ở vấn đề nội lực, có lập luận cho rằng sự liên kết vẫn không bảo đảm được cho đất nước khi gặp nguy, bởi đồng minh cũng chỉ nhắm đến quyền lợi của họ chứ không vì quyền lợi của ta. Hai dẫn chứng thuyết phục là hải chiến Hoàng Sa năm 1974 bị Hoa Kỳ làm ngơ, và chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979 bị Liên Xô tảng lờ.

2. Đồng minh để làm gì và quyền lợi trong quan hệ đó ra sao?

Cho rằng xác lập đồng minh là để được lập tức can thiệp quân sự, như nhiệm vụ thường trực và bất biến của họ, là cách nghĩ thiếu trách nhiệm với chính mình và người khác.

Trừ khi chiến tranh đã là tất yếu và toàn cục vì một hay nhiều bên đã có chủ đích, không quốc gia nào lại muốn những xung đột nhất thời và cục bộ trở thành nguyên cớ để khơi mào một cuộc chiến diện rộng, có sự tham gia trực tiếp của các bên thứ ba. Với những chuyển biến của cục diện thế giới từ sau chiến tranh lạnh, người làm chiến lược có lý trí khó mà nghĩ rằng tạo quan hệ đồng minh là để đối tác tức thì tham chiến cho mình, bất kể nguyên nhân, thời cuộc và chiến cuộc.

Vậy, phải chăng có đồng minh cũng như không, nên không cần phải có? Không, mà chính liên kết ngoại biên là nhằm hạn chế nguy cơ chiến tranh, bởi quan hệ đồng minh là để gia tăng vị thế và giảm thiểu nguy cơ hay thiệt hại cho các quốc gia của liên minh, chứ không phải để can thiệp vô tội vạ, làm tăng nguy cơ cho nước khác và giảm đi cơ hội hòa hoãn.

Cho nên, đồng minh không phải là loại quan hệ đơn chiều, chỉ để hưởng sự bảo vệ ở quốc gia này và phải đi bảo vệ ở quốc gia khác. Mà, vì quyền lợi của chính mình, nhận định và xử trí chuẩn xác về chiến lược, sách lược và chiến thuật là điều trước tiên phải có của quốc gia liên hệ trong vụ việc; và cùng với nó, tương tác đồng minh là điều kiện không thể thiếu, vì đó không những là thế lực răn đe từ xa, hỗ trợ phòng vệ, mà còn là lực lượng trực tiếp hậu thuẫn về ngoại giao và quốc phòng, chính trị và kinh tế, khi lâm sự.

Đặt hai sự kiện Việt Nam bị đồng minh phớt lờ trong cách nhìn ấy, có lẽ sẽ phần nào khách quan hơn.

Đứng trên lập trường của người Việt, ta không thể không bất bình trước những gì đã diễn ra. Nhưng cũng cần nhìn rộng hơn, vào thời cuộc và vị thế của hai đồng minh đó, tại thời điểm của mỗi sự kiện.

Về vai trò của Hoa Kỳ trong hải chiến Hoàng Sa, đã có ý kiến cho rằng một mặt, sa lầy trong chiến tranh Việt Nam, Hoa Kỳ ký Hiệp định Paris (27/01/1973) để chấm dứt sự tham chiến của mình; mặt khác, trước sự suy tàn kinh tế của khối Xô Viết và xu hướng tư bản hóa của Hoa Lục, nước Mỹ vừa chọn người đồng chí trở mặt của Liên Xô, vừa chấp nhận thua sách lược tại Việt Nam để sẽ thắng chiến lược trên thế giới, qua việc tập trung nguồn lực cho sự diệt vong khả dĩ của khối Đông Âu.

Chúng ta hiện không đủ dữ liệu để kết luận chắc chắn, nên vẫn không loại trừ việc Hoa Kỳ đã bỏ mặc Hoàng Sa chỉ vì sự tàn tạ của họ bởi chiến tranh, nhưng khả năng toàn cục như vừa nói cũng là một lý giải cần được nghiên cứu thấu đáo và có thể chấp nhận.

Khác với trường hợp Hoa Kỳ, nại Liên Xô ra để biện hộ cho quan điểm phi đồng minh, là vô lý và bất công. Họ không can thiệp trực tiếp nhưng vẫn hết lòng ủng hộ Việt Nam trong thời gian ấy. Bên cạnh đó, còn có những khía cạnh khác cần nhìn vào.

Không thể phủ nhận rằng cuộc chiến biên giới phía Bắc có liên hệ tới việc Việt Nam đưa quân vào Kampuchea, ít ra là nguyên cớ đối với Trung Quốc. Với người Việt, hành động của mình là hợp lý. Dù thế, thử hỏi, sau khi ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác với Liên Xô (08/11/1978), Hà Nội hành động quân sự nhưng có tham vấn trước với đồng minh không, hay chỉ nghĩ rằng ở tình huống nào cũng không thể bị Moscow bỏ mặc? Nếu đã tự mình đưa ra quyết sách, không tính đến tình thế của đồng minh, thì không thể trách cứ họ.

Xét trên toàn cục, đấy là thời kỳ mà các khó khăn đã tích tụ sâu rộng ở Liên Xô, và bản thân họ cũng đang trong tình trạng rất dễ bùng nổ tại biên giới với Trung Quốc. Vả lại, chỉ có dân chúng Việt Nam khi ấy không biết rằng một tháng là hạn định mà Đặng Tiểu Bình đã đặt ra cho vụ thử lửa này. Do vậy, xét mọi mặt, việc Liên Xô không can thiệp quân sự là xác đáng.

Nhìn hai sự kiện vừa nói theo kiểu một chiều để cho rằng đồng minh chỉ vì lợi ích của riêng họ mà thôi, thì cũng chính là đang xác tín rằngbản thân ta chỉ đứng trên lợi ích của riêng mình để phán xét.

Từ cổ chí kim, có nước nào không đứng trên lợi ích của chính mình và đặt nó lên hàng đầu không? Việt Nam không vì lợi ích của chính mình và không đặt nó lên hàng đầu chăng? Chỉ cần trả lời hai câu hỏi ấy, sẽ lập tức thấy rằng luận cứ đồng minh chỉ vì quyền lợi riêng của họ, ngay từ việc đặt thành vấn đề, đã là không đúng. Nó phản ánh cáitâm thức lấy mình làm trung tâmđem quyền lợi của mình ra làm đơn vị đo lường cho người khác. Và đương nhiên, với thước đo ấy, sẽ không một quốc gia nào đáp ứng được.

Trong mọi sự vụ liên quốc gia, cái được xét để xác lập hoặc định hình quan hệ, là quyền lợi và mục tiêu chung. Nếu có thiện chí, các bên liên quan sẽ điều tiết để các quyền lợi trở nên hài hòa, bởi giữa các chủ thể khác nhau, không thể có quyền lợi nào trùng khít vào nhau, mà chỉ có sự đan xen, giao thoa với nhau. Do vậy, nếu đã nhìn nhận quyền lợi chung, vấn đề là cần chủ động thích ứng, vận dụng và mở rộng nó, thay vì cứ bất động mà đòi hỏi người khác phải vì quyền lợi của riêng mình.

Mặt khác, cùng một quốc gia sẽ có những quyền lợi chung khác nhau với những nước khác nhau, và chúng có thể xung khắc nhau. Nên, cùng lúc, sẽ có nhiều loại liên hệ đồng minh, tùy theo thực tế và nhu cầu. Từ đây, điều quan trọng là nhận thức về các quyền lợi ấy ra sao để xác định các nội dung, hình thức của liên kết, mà mấu chốt là xử trí tương quan giữa các liên hệ để xác định đâu là loại đồng minh có tính quyết định. Trừ thời kỳ đối lập toàn cầu giữa hai hệ thống xã hội, với sự thống lĩnh của quyền lợi chung về hệ tư tưởng, tự thân việc liên kết ngoại biên đã là và luôn là vấn đề về quyền lợi của quốc gia, dân tộc. Nên ngay trong giai đoạn phân cực đó, ta cũng thấy nổi bật những trường hợp trái khoáy làm nên lịch sử:

Liên bang Xô Viết có thể gia nhập khối Đồng minh của kẻ thù không đội trời chung về ý thức hệ khi bị nước Đức phát-xít tấn công. Tương ứng, để bảo vệ không gian tự do, phương Tây sẵn sàng là bạn chiến đấu của kẻ luôn muốn đào huyệt chôn mình.

Sau cuộc chiến tàn khốc, ở châu Á, Nhật đã nhanh chóng xóa đi mối thâm thù để xác lập đồng minh với chủ nhân hai quả bom nguyên tử ném xuống đất nước mình, bởi quốc gia ấy không những trợ giúp kiến thiết hậu chiến mà còn bảo đảm cho họ trước mọi đe dọa quân sự.

Còn Trung Hoa xã hội chủ nghĩa, đầu những năm 1970, đã đến với phương Tây như một đồng minh chính trị quyết định để chống lại Liên Xô, đồng thời cũng là đối tác hiệu năng cho nền kinh tế ọp ẹp của mình. Và cùng lúc, Hoa Kỳ phớt lờ quan hệ đồng minh thể chế với Đài Loan để chọn Hoa Lục làm "đối tác chiến lược toàn diện".

Thế nhưng hòn đảo ấy không vì sự "phản bội" này mà mãi "tổn thương", mãi "dự phòng" điều tương tự và cự tuyệt liên kết để khiến mình có thể cô độc. Họ không vì sự thay đổi nhất định của đồng minh trước tình thế chiến lược mới, không vì sự tương đồng văn hóa, lịch sử với Trung Quốc để bám lấy những cái chung thiếu thực chất so với nền tự do và ý tưởng độc lập mà họ theo đuổi. Từ khi Hoa Kỳ hậu thuẫn Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa giữ ghế tại Liên Hiệp quốc (1971) thay Trung Hoa Dân quốc, cùng với việc tăng cường nội lực từ nền kinh tế tự do và hoàn thiện nền chính trị dân chủ, Đài tiếp tục giữ vững thế liên minh vốn có. Điều đó đã giúp họ hùng mạnh cả về kinh tế lẫn quân sự, là một trong bốn con rồng châu Á, và sớm trở thành thế lực hải quân trong vùng.

Những ví dụ gần gũi trên cho thấy cách xử trí kinh điển về đồng minh, bao gồm cả yếu tố "đồng chí" ở mỗi bên. Họ không lấy hệ tư tưởng làm tâm điểm, mà là tình thế và vị thế. Họ không lấy "anh em" hay "láng giềng" làm chuẩn, mà là quyền lợi thiết thực và sự bảo an. Họ không "ghi vào tâm khảm" một sự biến lịch sử để co thủ, mà nhanh chóng thích ứng với hiện thực để bảo đảm hữu hiệu cho mình.

Trong khi đó, ở Việt Nam, sự cố bị bỏ rơi và nỗi e ngại quyền lợi riêng của đồng minh cứ ám thị không ít người. Gần đây, từ khi Hoa Kỳ xoay trục, nỗi ám ảnh đó lại được bổ sung bằng việc cho rằng chúng ta là bên thứ ba của cuộc chơi nước lớn, phải tránh bị lôi kéo để không trở thành nạn nhân.

3. Xác lập vị thế bên thứ ba bằng mong muốn hay thực tế?

Ý kiến cho rằng Việt Nam là bên thứ ba xuất phát từ tầm toàn cầu của vấn đề, là cuộc đua ngôi vị bá chủ giữa Hoa Kỳ và Hoa Lục. Xét về quyền lợi của riêng họ trong vị thế đó, đúng là Việt Nam ở ngoài cuộc. Nhưng xét giữa ta với từng siêu cường, và giữa ta với tương quan chung, thì không hẳn như vậy.

Với kết thúc của chiến tranh lạnh và do tương quan cụ thể với đồng minh, Hoa Kỳ đã rời khỏi Đông Nam Á qua việc đóng cửa căn cứ không quân Clark (1991) và căn cứ hải quân Subic (1992) ở Philippines. Nga cũng hành động tương tự ở Cam Ranh (1993)[1]. Cơ may bình yên của vùng dường như tiến triển thêm sau khi Tuyên bố về Ứng xử của các bên tại biển Nam Trung Hoa ra đời (2002).

Phần Việt Nam, sau khi rút khỏi Kampuchea (1989), đã bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc (1991) và Hoa Kỳ (1995), gia nhập ASEAN (1995), củng cố nền hòa bình qua Hiệp ước Biên giới trên đất liền (1999), Hiệp định Phân định vịnh Bắc Bộ và Hiệp định Hợp tác Nghề cá (2000) ký với Trung Quốc. Nhưng chính từ khi hai hiệp định sau có hiệu lực (2004), Hoa Lục khởi sự lối hành xử ngang tàng trên biển.

Ngày 08/01/2005, cảnh sát biển Trung Quốc xả súng vào tàu của ngư dân Thanh Hóa tại vùng đánh cá chung. Chín người chết, bảy người bị thương cùng tám người khác bị bắt về Hải Nam, mà theo họ, là kết quả từ hành động "ăn cướp có vũ trang nghiêm trọng trên biển" của ba tàu Việt Nam. Sự việc đã mở ra thời kỳ mới giữa hai nước: tranh chấp trên biển thay cho trên bộ.

Năm 2008, trong cuộc gặp vào những tháng đầu năm với Tư lệnh vùng Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, Đô đốc Timothy Keating, giới chức tương nhiệm Hoa Lục đã bán chính thức đề nghị hai nước cùng chia đôi Thái Bình Dương[2].

Đến tháng Ba 2009, cục diện bắt đầu thay đổi từ sau vụ đối đầu Impeccable.

Tháng Năm 2009, Hoa Lục chính thức hóa trước thế giới về lãnh hải đường chín đoạn, bằng bản đồ đệ trình cho Liên hiệp quốc.

Tháng Ba 2010, Trung Quốc thông báo với Hoa Kỳ, xem "Nam Hải" là lợi ích cốt lõi. Đáp lại, tháng Bảy 2010, Ngoại trưởng Hillary Clinton loan báo tại Đối thoại Sangri-La, xem hòa bình, ổn định và tự do đi lại ở Biển Đông là lợi ích quốc gia.

Năm sau, trong vùng biển Việt Nam, tàu Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh 02 (26/05/2011) và tàu Viking II (09/06/2011).

Tháng Tám 2011, Trợ lý Ngoại trưởng Kurt Campbell nói Hoa Kỳ cần chuyển hướng, từ các thách thức ngắn hạn ở Trung Đông sang các quan ngại lâu dài ở châu Á – Thái Bình Dương. Đến ngày 11/10/2011, Hillary Cliton công bố bài viết Thế kỷ Thái Bình Dương của Hoa Kỳ(America's Pacific Century).

Tháng Mười một 2011, Tổng thống Barak Obama khẳng định châu Á – Thái Bình Dương là ưu tiên hàng đầu trong chính sách an ninh, cùng lúc với thỏa thuận triển khai 2.500 quân tại căn cứ Darwin, Australia.

Tháng Một 2012, Mỹ công bố chiến lược quốc phòng mới, giảm chi tiêu và chuyển hướng sang châu Á.

Tháng Sáu 2012, Việt Nam thông qua Luật Biển. Trung Quốc đáp lại bằng việc ồ ạt thực hiện các chương trình phát triển Tam Sa. Trước căng thẳng đó, tháng Bảy cùng năm, ASEAN bắt đầu "chính thức hóa" sự chia rẽ khi lần đầu tiên, hội nghị ngoại trưởng của khối không ra được tuyên bố chung do không thống nhất về vấn đề Biển Đông.

Trung tuần tháng Mười một 2012, Đại hội XVIII Đảng Cộng sản Trung Quốc xác định xây dựng một cường quốc biển. Ngày 30/11/2012, tàu Bình Minh 02 lại bị tàu Trung Quốc cắt cáp.

Tháng Một 2013, Tổng thống Obama ký đạo luật chi tiêu quốc phòng của năm, có điều khoản thể hiện việc Hoa Kỳ từ bỏ lập trường trung lập trong tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư tại Đông Bắc Á.

Ngày 22/01/2013, Philippines loan báo kiện Trung Quốc ra Trọng tài Liên hiệp quốc về tranh chấp biển. Trước đó, tháng Sáu 2012, bãi cạn Scarborough rơi vào tay nước lớn sau khi Philippines lỡ "mềm dẻo" mà tin vào kiểu đàm phán để áp đặt một chiều của Trung Quốc, tin vào lời hứa cùng rút lực lượng hai bên khỏi bãi, vốn đã căng thẳng từ khi họ đưa tàu vào hồi tháng Tư. Tháng Năm 2013, tiếp tục trả đủa vụ kiện, Trung Quốc đưa tàu chiến và hải giám vào bãi Second Thomas, nhưng chiếm đoạt bất thành.

Đầu tháng Sáu 2013, tại Đối thoại Shangri-La, Bộ trưởng Quốc phòng Chuck Hagel loan báo chuyển sáu mươi phần trăm lực lượng hải quân và không quân về khu vực Thái Bình Dương. Hoa Kỳ căn bản hoàn chỉnh kế hoạch xoay trục.

Ngày 22/11/2013, Trung Quốc tuyên bố vùng nhận dạng phòng không trên biển Hoa Đông. Bốn ngày sau, Hoa Kỳ điều hai máy bay B52 xâm nhập vào đó.

Hạ tuần tháng Tư 2014, vài giờ trước khi Tổng thống Obama đặt chân đến Philippines (sau chặng dừng chân tại Nhật, Nam Hàn và Malaysia), quan chức Mỹ – Phi ký thỏa thuận an ninh mới, cho phép Mỹ sử dụng một số căn cứ quân sự hướng ra Biển Đông.

Obama vừa rời khỏi châu Á, với các vị trí liên minh tối thiểu dọc biển Hoa Đông và Biển Đông đã chính thức hóa (Nhật – Phi – Úc) mà không có một quốc gia chủ yếu trong tranh chấp, sự vụ giàn khoan 981 xảy đến cho chính nước đó.

Tiến trình trên cho thấy Hoa Kỳ không phải là người khơi mào cuộc đấu hiện nay ở châu Á – Thái Bình Dương. Ngoài điểm nóng Bắc Hàn và trách nhiệm với nước Nhật chịu sự giải giáp, họ đã triệt thoát khỏi Đông Nam Á. Nếu không vì thách thức mới, không hẳn họ lại muốn tốn hao nguồn lực cho nó khi đã hao mòn bởi sự can thiệp vào Afghanistan và Iraq, bởi cuộc chiến chống khủng bố, và đặc biệt, khi địa vị kinh tế đã không còn như trước. Họ như một thế lực bên ngoàiphải trở thành người trong cuộc, mà mục đích can dự là để duy trì trật tự thế giới đã có.

Còn Việt Nam, trong các xung đột liên quốc gia có tầm khu vực suốt mấy mươi năm qua, đã và vẫn là một bên chủ yếu. Chúng ta là người trong cuộc tại chỗ, có quyền lợi trực tiếp trong tranh chấp, có mục tiêu đa dạng, cụ thể và thiết thân hơn các thế lực bên ngoài. Chủ quyền bị đe dọa, tài nguyên bị xâm phạm, môi trường sinh sống ngàn đời của người dân ven biển bị thu hẹp đáng kể…, liệu ta có thể trở thành "bên thứ ba" để một "bên thứ hai" khác đối diện mà xử trí?

Trừ khi không xem quốc gia-dân tộc là tiên quyết mà vẫn cho rằng Trung Quốc thắng thế sẽ giúp chủ nghĩa xã hội vững mạnh, thì ở tầm toàn cầu, ai lãnh đạo thế giới chăng nữa, Việt Nam cũng không liên can. Vì dù Hoa Kỳ hay Hoa Lục, với thực tế lịch sử đã trải qua, người Việt biết rằng nước nhỏ cần uyển chuyển trước nước lớn để bảo đảm cho môi trường phát triển của mình.

Thế nhưng, sẽ có sự khác biệt hết sức lớn đối với Việt Nam khi một trong hai quốc gia này chi phối trật tự thế giới. Phần Hoa Kỳ, với cựu thù, họ không đối nghịch về lãnh thổ hay chủ quyền biển. Phần Trung Hoa, với người bạn hữu hảo, ngoài vấn đề lãnh thổ trên bộ đã im ắng, nay họ đang manh tâm cướp đoạt biển đảo. Trừ khi từ bỏ ý đồ thống lĩnh hoặc chiếm lĩnh xa bờ, nhà Hán của thế kỷ XXI sẽ không bao giờ ngừng việc khuất phục đồng chí phương Nam, như là điều kiện tiên quyết để thực hiện chiến lược biển của mình. Như vậy, ngay từ những bước đầu tiên của cuộc tranh đua hải dương, biểu hiện quan trọng nhất của tranh đua toàn cầu Mỹ – Trung, liệu ta có thể là kẻ vô can không?

Nếu chặt khúc toàn cục để lấy cái ngọn, tức sự cạnh tranh ngôi vị toàn cầu, thì chúng ta là người bên ngoài. Nhưng khi xét trong tiến trình tổng thể, từ điểm xuất phát, thì rõ ràng ta đứng bên trong. Thậm chí, cho dù chỉ xét cái kết cục tận cùng, giả định rằng Hoa Lục sẽ bá chủ, thì trên con đường đi đến đó, chủ quyền của Việt Nam đã bị họ bước qua để đi tiếp. Và tại thời điểm lên ngôi của họ, Việt Nam hoặc phải tự tay dâng lấy toàn bộ biển đảo và độc lập của mình, chịu sự đồng hóa, hoặc phải đối diện với những "trừng phạt" trực tiếp và tàn khốc.

Nhưng dù chưa tính đến viễn cảnh đó, thì với tương quan Việt – Trung trong bối cảnh hải dương khu vực và thế giới, có đưa yếu tố Mỹ vào hay không cũng không thay đổi được thực tế là Việt Nam đương nhiên ở vào thế đối nghịch với Trung Quốc, trừ khi nước nhỏ có ý tưởng phục tùng.

Với tương quan Mỹ – Trung, trong cuộc đấu ngôi vị thế giới, có đưa yếu tố Việt vào hay không cũng thay đổi được thực tế là phương Nam nằm trong số những đối tượng chính yếu mà phương Bắc phải khuất phục để xác quyết vị thế toàn cầu mới.

Như thế, giống như trường hợp vai trò đúng của nội lực bị viện dẫn sai trong tương quan với ngoại lực, ý kiến về bên thứ ba xuất phát từ sự thật cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung để kết luận "giả tưởng" rằng chúng ta chỉ là người bên ngoài.

4. Các bên thứ ba tương tự giúp gì được cho bên thứ ba Việt Nam?

Sau khi Việt Nam và Indonesia nối tiếp nhau giữ ghế chủ tịch khối Đông Nam Á, Hoa Kỳ bắt đầu có những bước đi cụ thể nhằm chuyển hướng quân sự. Từ thời điểm đó, không hẹn mà gặp, các nước có chung nền "văn minh lúa nước" bèn quay về lo cho mảnh ruộng, ao làng bình yên của mình, thay vì cho biển lớn đang dậy sóng.

Kampuchea công khai ủng hộ Trung Quốc trong tranh chấp.

Lào chăm chút cho các đập thủy điện trên dòng Mekong, vốn có thể gây hại lớn nhất cho đồng minh truyền thống của mình.

Malaysia nay hòa hoãn hơn nhiều, thậm chí còn thẳng thừng "Kẻ thù của quý vị không có nghĩa là kẻ thù của chúng tôi", trong khi trước đó còn kêu gọi ASEAN đoàn kết trong tranh chấp.

Singapore luôn kêu gọi Mỹ quay lại vùng nhưng tự mình không đóng vai trò tích cực hơn trong khối, thậm chí khó chịu với Philippines khi nước này kiện Trung Quốc ra toàn quốc tế.

Thailand và Myanmar không cần lo toan với vị trí cách xa Biển Đông. Brunei không phải toan tính với một mẩu biển lọt giữa Malaysia.

Indonesia là quốc gia biển không có mặt trong tranh chấp và giữ thế lớn nhất trong tiểu vùng, thì cần giữ thái độ không nghiêng về ai để còn làm trung gian giữa các bên.

Việt Nam, dù là một bên tranh chấp chính nhưng luôn kiên trì con đường riêng với bên kia.

Còn lại mỗi Philippines, không từ bỏ giải pháp chính trị nhưng tiến hành đồng thời cả biện pháp pháp lý lẫn xúc tiến liên minh quân sự.

Trước sự tích cực hơn của Mỹ, thay vì tiếp tục giữ thế tiến công ngoại giao trong hai năm 2010 và 2011 để hợp lực, hầu hết các nước ASEAN dường như đều "nhận ra" chỗ đứng bên ngoài của mình trong bàn cờ chiến lược Mỹ – Trung. Nhưng cách nghĩ đó là tiếp cận rất tai hại cho ASEAN, cho các nước trong tranh chấp Biển Đông và cho Việt Nam.

Việt Nam thấy rằng mình là bên thứ ba, muốn đứng ngoài những gì được cho là không liên quan đến lợi ích của mình, sao trách được Kampuchea khi họ hoàn toàn là người ngoài cuộc trong tranh chấp Việt – Trung, sao trách được họ đã chọn lấy nước lớn, vì với bên thứ ba, hà cớ gì phải chọn bên yếu hơn để mình mất đi lợi ích mà còn rước họa vào thân?

Việt Nam xem mình là bên thứ ba, sao tránh được Singapore, Malaysia, Indonesia sẽ là người ngoài cuộc khi mà tranh chấp ở bắc và trung phần Biển Đông là của người khác, còn mình đã ở vị trí luôn được đồng minh bảo đảm an ninh, nhờ tuyến lưu thông qua các eo Malacca, Sunda và Lombok.

Các nước ASEAN khác cũng có quyền lợi riêng tương tự, tùy vị thế của họ, mà với tư cách bên thứ ba, Việt Nam không thể trông mong nhiều.

Trong khi hối thúc Mỹ nhập cuộc thì trừ Philippines, các nước ASEAN, kể cả Việt Nam, lại từng bước biến mình thành người ngoài cuộc trước bối cảnh của khu vực và của chính mình, bằng những động thái thiếu thực chất. Trước vai trò không thể né tránh của cường quốc, họ nuôi hy vọng chuyển gánh nặng sang Hoa Kỳ, còn mình trở thành bên thứ ba, đi dây để hưởng lợi.

Nhưng, không giống các nước trong khu vực, Việt Nam vừa rất khác về quan hệ với Trung Quốc và Hoa Kỳ, vừa sử dụng một chiến lược chú trọng chiều rộng ngoại giao, thiếu chiều sâu chính trị và quân sự trong tương quan với bên ngoài, nên khó mà hưởng lợi tương tự như họ.

Đối với Mỹ, nếu Việt Nam cho rằng mình đứng ngoài chuyển biến chiến lược chung, và cũng muốn họ thuần túy là bên thứ ba trong vấn đề giữa Việt Nam và Trung Quốc để giữ sự hòa hiếu với phương Bắc, thì Hoa Kỳ sao phải cố xem mình như người trong cuộc? Và theo đó, họ đương nhiên chỉ cần can dự một cách tối thiểu về ngoại giao vì cho dù trên toàn cục, nhắm đến tự do hàng hải và kiềm chế đối thủ, thì với những tranh chấp cục bộ mà mình không có liên hệ đồng minh, họ cũng phải giữ sự hòa hoãn cho riêng mình khi còn có thể.

Thế giới ngày nay đầy những ràng buộc, và chúng đều tác động đến quyền lợi và an ninh của từng quốc gia liên quan, tùy theo mức độ liên hệ. Nên dù có cố dựa vào cái lợi ích và an ninh chung để thủ lợi cho mình, thì  cũng sẽ chẳng ai hy sinh quyền lợi và an ninh của họ để nhập cuộc nếu bản thân người trong cuộc mà còn không dám vào cuộc.

Cái nhận thức kiểu trục lợi của nhiều nước ASEAN và Việt Nam là một vấn đề có hai khía cạnh. Một mặt, họ muốn biến nhân tố bên ngoài thành nhân tố bên trong nhưng lại chuyển nhân tố bên trong thành nhân tố bên ngoài. Điều đó hoàn toàn bất khả, vì vị thế trong hay ngoài, ngoài thế và lực, còn gắn liền với vị trí của mỗi đối tượng: cái có vị trí bên ngoài có thể mang vị thế bên trong, nhưng cái tại chỗ không thể dời khỏi vị trí ấy để thành cái bên ngoài. Mặt khác, dù muốn người ngoài cuộc giữ vị thế trong cuộc nhưng họ lại muốn kẻ đấy đứng ở bên ngoài chứ không có vị trí tại chỗ. Mà vị trí ấy, ngoài sự hiện diện về chính trị, kinh tế, còn phải đứng chân quân sự tại khu vực, tức có sựliên minh cơ hữu và hiện diện thường trực hay bán thường trực của đồng minh.

Như vậy, cũng giống trường hợp nội lực và ngoại lực, quan niệm rạch ròi về bên thứ ba nhằm tách khỏi thời cuộc mà mình vốn dĩ đã ít nhiều liên đới, là không thấy được sự hàm chứa vị trí của nhau giữa các bên trong từng quan hệ và tổng thể quan hệ, không thấy sự chuyển hóa giữa trong và ngoài, tại chỗ và từ xa, bên này và bên kia, để hợp lực và củng cố vị thế cho chính mình và cho các bên có cùng lợi ích.

Quan niệm đó không những làm giảm hiệu năng đương cự của cả các chủ thể trong khu vực lẫn từ bên ngoài, vừa có thể được vận dụng để thúc đẩy chủ trương song phương mà phương Bắc kiên trì với từng nước nhỏ phía nam.

Vì quyền lợi, các nước ít nhiều liên quan đều tìm cách xác lập vị trí bên thứ ba, xem như cách để bảo toàn và thăng tiến nó. Nhưng kỳ thực, vai trò ngoài cuộc ảo đó lại là yếu tố phá hoại chính quyền lợi mà họ muốn bảo vệ.

Nhưng dù sao, đến đây, lại liên quan đến quyền lợi, hẳn có người vẫn chưa dứt được boăn khoăn về nó trong quan hệ đồng minh.

5. Quyến lợi trong quan hệ đồng minh ra sao? (2)

Quyền lợi của mỗi quốc gia và liên quốc gia không phải là cái bất biến và phi thời gian. Tùy theo giai đoạn lịch sử, bối cảnh địa-chính trị và vị thế của mỗi nước mà các quyền lợi ấy sẽ biến chuyển. Do vậy, đồng minh là quan hệ luôn tồn tại cùng lịch sử loài người, nhưng các quan hệ đồng minh cụ thể lại là cái luôn thay đổi, dù ít hay nhiều, dù mau hay chậm, tạo nên sự đa dạng của loại liên hệ này.

Xem quyền lợi của mình nằm ngoài tổng thể quyền lợi chung của đồng minh (đã định hình hay tiềm tàng) đã là sai lầm. Lấy quyền lợi ấy làm cái bất di bất dịch mà các quốc gia đồng minh phải đáp ứng đầy đủ và dưới mọi hoàn cảnh, thì càng sai lầm hơn. Bởi, vấn đề không phải ở việc cố định một lần về quyền lợi và đồng minh, mà là hòa hợp các quyền lợi đó trong thế linh hoạt của mình trước các tình thế chiến lược ở mỗi thời đoạn lịch sử, để phục vụ cho một quyền lợi tối thượng, là sự tồn vong của dân tộc.

Các trường hợp trong thế chiến thứ II, trường hợp Trung Quốc trong tương quan với Liên Xô và Mỹ, trường hợp Đài Loan trong quan hệ với Hoa Lục và Hoa Kỳ, chính là sự hòa hợp và linh hoạt đó. Các trường hợp gần gũi khác cũng vậy.

Ở thế kỷ trước, trong bối cảnh "bóng ma cộng sản" đang lan tràn, các nước Đông Nam Á đã lập tức liên kết với nhau và liên minh chặt chẽ với Hoa Kỳ để ngăn chặn. Đến khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc, họ lại công khai hất cẳng Mỹ khỏi khu vực. Thậm chí, khi nổi lên bốn con rồng châu Á, trên khắp Đông Nam và Đông Bắc Á đã xuất hiện tâm lý bài phương Tây, đề cao các giá trị châu Á với xu hướng gắn kết với Trung Hoa.

Cùng thời kỳ, ngay cả đối với nước Nhật, cũng đã có ý kiến cho rằng sẽ hình thành một khối liên kết với Trung Quốc để đối trọng với Mỹ và châu Âu. Trên thực tế, đã có những xê dịch đầu tiên cho điều ấy khi quốc gia Tây phương Đông Bắc Á này khởi động tiến trình thoát khỏi các căn cứ quân sự Mỹ, mà cho đến chính phủ tiền nhiệm của Shinzo Abe vẫn còn loay hoay toan tính.

Ấy thế mà, vào lúc này, Singapore, quốc gia Đông Nam Á từng ồn ào nhất về giá trị của châu lục và hô hào nhiều nhất cho một tiểu vùng không có Mỹ, lại là nước sớm nhất và không ngớt lời, không nhỏ lời kêu gọi "đế quốc" quay lại, đồng thời chấp nhận những đợt lưu trú không thường xuyên và bán chính thức của lực lượng Hoa Kỳ, để ngăn ngừa từ xa và từ sớm người bạn ít nhiều cùng chủng tộc và mới ngày nào còn cùng chung giá trị.

Phải chăng họ kêu gọi Hoa Kỳ quay lại mà không biết rằng sẽ có những tác động chính trị, xã hội cho đất nước mình? Phải chăng Nước Mỹ quay lại mà không biết rằng họ đã từng hất mình đi khi xong việc?

Rồi thêm, giới nắm quyền ở Phnom Penh hiện nay quay lưng lại đồng minh mà họ hàm ơn việc thoát khỏi nạn diệt chủng, để đi với đồng minh mới – vốn là kẻ đầu trò từng đẩy đất nước vào cảnh gần như diệt vong – chẳng phải là kẻ xa lạ hay các thế hệ sau, mà cũng chính là những con người của cuối thập niên 1970 nặng tình với Việt Nam.

Xung quanh là thế. Chỉ có Việt Nam, đứng trước kẻ đe dọa "trực tiếp và nguy hiểm nhất" đối với chủ quyền biển, trong tình thế cấp bách, là cứ mãi tính toán cho trọn vẹn, tròn trịa mọi thứ quyền lợi, kể cả những cái hoàn toàn nằm ngoài phạm trù quốc gia-dân tộc.

Khi đặt quyền lợi trong quan hệ đồng minh, mấu chốt không phải là tiêu chí về một sự bảo đảm hoàn hảo cho nó suốt cả quá khứ, hiện tại, tương lai, và bất biến trong mọi tình huống, là điều chỉ có trong bối cảnh tương tự như điều kiện lý tưởng của môi trường thực nghiệm khoa học tự nhiên; mà cốt yếu là quyền lợi đó như thế nào và được xét ra sao, trong từng bối cảnh lịch sử-cụ thể. Theo đó, có hai vấn đề cần giải quyết:

- Đâu là quyền lợi quyết định trong số những quyền lợi có chung với các bên tương tác, để từ đó xác định đồng minh: có xác lập đồng minh hay không và những đồng minh nào là khả dĩ, loại đồng minh nào đi với đối tác nào…

- Theo diễn biến lịch sử và chiến lược, quyền lợi riêng và quyền lợi chung sẽ biến chuyển như thế nào, từ đó mà thẩm định (các) liên hệ đồng minh đã có và hướng xử trí tiếp theo: tách đồng minh cũ, tạo đồng minh mới (hoặc không), hay thay đổi nội dung, hình thức của liên kết đã có và sẽ có.

Như vậy, ở tầm chiến lược, đối diện với bất kỳ quốc gia nào cũng không thể nhận thức quan hệ đối tác hay đồng minh bằng câu chữ tuyên truyền hoặc khái niệm đạo đức[3]. Cũng không phải tạo lập đồng minh là thụ động, để đồng minh quyết định thu nhận và sắp đặt quan hệ cho mình, càng không phải là dựa dẫm một chiều để phải nơm nớp lo đến ngày mình sẽ bị bỏ rơi hay bỏ rơi người khác. Ngược lại,chính mình phải chủ động xác lập  điều chỉnh các quan hệ đối tác và đồng minh trên cơ sở tương thích quyền lợi và điều kiện lịch sử. Do sự tương thích và điều kiện đó, nên đồng thời, liên hệ đồng minh cũng không phải là cái chủ quan, muốn có hay muốn không mà được, không phải là cái muốn đeo bám thì đeo, muốn bỏ rơi thì bỏ.

Một đồng minh trên cơ sở địa lý hay dân tộc, thể chế hay quân sự, một khi đã không muốn giữ tương tác như giữa các đối tác bình đẳng, mà chuyển thành quan hệ giữa người khuất phục và kẻ bị khuất phục, thì phía yếu hơn chỉ có một con đường để tránh họa nô lệ, là từ vị thế của mình mà xác lập các quan hệ ngoại biên khác nhằm đương cự lại, chứ không thể viện dẫn tình nghĩa quá khứ hay chính nghĩa cao đẹp mà giữ được độc lập và chủ quyền. Lịch sử các dân tộc không hề thiếu dẫn chứng về sự xoay chuyển này.

Đồng thời, một bên của liên minh cơ hữu hay đồng minh giá trị, khi vẫn có chung quyền lợi, chung các giá trị thực chất, và vẫn giữ vị thế mà tương tác chung cần đến, thì đối tác của nó, dù lớn mạnh hơn cũng không thể rời bỏ. Trở lại các ví dụ gần gũi, ta sẽ thấy.

So với tiềm năng khổng lồ của Hoa Lục, Đài Loan không là gì, vậy sao Hoa Kỳ không buông hẳn để đổi lấy niềm tin chiến lược của đối tác lớn về sự chân thành đối với chính sách một nước Trung Hoa? Vào năm 1979, khi căng thẳng chiến tranh lạnh lên cao do sự can dự của Liên Xô vào nội tình Afghanistan, trong hoàn cảnh cần định hình một mặt trận thống nhất giữa Hoa Kỳ, Tây Âu, Nhật Bản và Trung Quốc để chống lại, nước Mỹ vẫn đi trước một bước để giữ vững cam kết đồng minh với Đài Loan. Tháng Tư 1979, Đạo luật Quan hệ với Đài Loan (Taiwan Relations Act) có hiệu lực, nhìn nhận quan hệ thực tế với Đài cùng với các điều khoản nhằm giúp nơi này tăng cường năng lực tự vệ, đồng thời cho phép can thiệp quân sự nếu hòn đảo bị tấn công.

So quan hệ tay ba Mỹ – Trung – Nhật trên bình diện chung hay trong tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư, cũng tương tự như thế.

Cái mà Hoa Kỳ không thể buông rơi quan hệ đồng minh với Đài Loan và Nhật Bản không phải chỉ là vị trí địa lý của họ. Nhìn sang Myanmar để so thì điều đấy quá rõ. Nước này có vị trí quan trọng với cả Trung Quốc, Ấn Độ và Hoa Kỳ, lẫn với các nước Đông Nam Á giáp giới, nhưng không vì thế mà Mỹ muốn có họ bằng mọi giá. Chỉ sau khi Naypyidaw có những bước đi vững chắc từ bỏ nền độc tài quân sự, quan hệ thân thiện hơn mới được xác lập.

Từ đó có thể thấy, dù là nước nhỏ và yếu hơn trong quan hệ đồng minh hay trong thế trận chiến lược, thì vấn đề là ở chỗ nước đó như thế nào và có gì để đồng minh hay đối tác phải giữ lấy, chứ không phải chỉ tìm kiếm sự an toàn (đối với mối đe dọa và với nguy cơ bị bỏ rơi) bằng cách cho rằng mình có thể nằm ngoài quan hệ và thế trận ấy mà "khai thác" nó cho lợi ích riêng.

6. Tránh né quan hệ đồng minh, được gì?

Dù không muốn tạo quan hệ đồng minh, có đúng là Hà Nội chủ trương "trung lập" bằng chính sách "ba không"?

Không kể lịch sử từ năm 1954 đến khi khối xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan rã, không kể Hội nghị Thành Đô năm 1990 mở ra một giai đoạn đồng minh mới với phương Bắc, Việt Nam hiện nay cũng chưa bao giờ ngừng theo đuổi chính sách liên kết, ngấm ngầm và có chọn lọc.

Trước đe dọa ẩn tàng về một vùng biển bị xâu xé khi các thế lực dồn về Biển Đông để ngăn chặn Trung Quốc, Hà Nội đã chủ động, đi trước, nhằm xoay chuyển chính tình thế đó theo hướng có lợi. Đồng thời với việc đẩy mạnh giao lưu với hải quân các nước tại các hải cảng của mình, Việt Nam cũng tăng cường chia sẻ nguồn lực biển với các quốc gia thân hữu để họ hiện diện tại Biển Đông. Đây là đối sách sáng tạo và đúng đắn, chỉ có điều, với mặt thứ nhất, đó chỉ là những liên hệ phi quân sự và thuần túy về chiều rộng; với mặt thứ hai, đã nhầm lẫn đối tượng để hướng đến, bởi vẫn đứng trên sự lựa chọn cảm tính.

Trọng tâm đầu tiên của Hà Nội là New Delhi, vốn là người bạn luôn dành ủng hộ cho Việt Nam trong thời chiến cũng như thời bình, và cũng là một bên xung khắc trên bộ với Trung Quốc, nay lại bị đe dọa lấn sân ở Ấn Độ Dương. Trong tương lai, việc Ấn Độ khai triển đối ứng tại vùng biển phía nam của Hoa Lục là khả dĩ. Và chính Việt Nam đã thúc đẩy điều đó bằng việc liên tục đưa ra các đề nghị thăm dò, khai thác dầu khí. Hà Nội muốn đặt quyền lợi kinh tế vào tay New Delhi để họ phải bảo vệ nó, qua đó mà can dự sâu hơn vào vùng biển này. Xa hơn một bước, Việt Nam đã mời hải quân Ấn "ướm chân" tại vịnh Nha Trang[4], nơi mà cho đến gần đây, không một tàu quân sự của quốc gia nào khác được tiếp cận[5].

Dù vậy, ngoài những tuyên bố mang tính ngoại giao như các đối tác khác về tự do hàng hải và an ninh khu vực, phía Ấn cũng công khai rõ về giới hạn vai trò của mình. Tại Hội nghị Cấp cao kỷ niệm 20 năm Quan hệ Đối thoại ASEAN – Ấn Độ ở New Delhi (20-21/12/2012), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kêu gọi nước chủ nhà hậu thuẫn ASEANtrong vấn đề Biển Đông, nhưng Ngoại trưởng Ấn Salman Khurshid lại cho rằng chủ quyền phải được giải quyết giữa các nước tranh chấp. Trước đó, trong cuộc họp báo vào tháng Tám 2012, Tư lệnh hải quân Ấn, Đô đốc Nirmal Verma cho biết, dù có sự tái cân bằng chiến lược của Hoa Kỳ cùng với việc Trung Quốc tăng cường sức mạnh và quyết đoán hơn trên biển, lợi ích hải dương của Ấn Độ vẫn ở khu vực từ eo Malacca đến Vùng Vịnh, kéo dài xuống mũi Hảo Vọng. Ông nói thêm, Ấn sẽ không tích cực triển khai quân sự ở Biển Đông, đồng thời cho rằng dù có tranh cãi, các bên ở vùng biển này vẫn phải bảo đảm cho thông thương quốc tế.

Không phải New Delhi co thủ, mà là Hà Nội đã tính toán quá đà. Các nhà làm chiến lược của Việt Nam muốn "đi tắt đón đầu", "đốt cháy giai đoạn" trong khi chưa phải lúc để Ấn Độ trực tiếp can thiệp ở vùng biển Đông Nam Á. Họ vẫn đang theo đúng "lịch trình" hữu dụng, là trước mắt, cần tập trung cho khu vực vịnh Bengal và biển Andamannhư là chiến lược hữu hiệu để chốt chặn một đầu Biển Đông, ở nơi vừa cách không xa Malacca, vừa trực diện với kênh Kra dự phóng. Đối sách này còn là sự phân bố lực lượng hợp lý khi mà ngoài 60 phần trăm hải quân Mỹ sẽ tập trung cho châu Á-Thái Bình Dương, vùng biển Đông Bắc Á và Đông Nam Á lại có một trục liên hoàn Nhật – Phi – Úc, trong khi tại Ấn Độ Dương, ngoài lực lượng Mỹ có thể sẽ giảm bớt, chỉ có hải quân Ấn thường trực.

Đối với Nga, Việt Nam cũng có sai lầm tương tự. Con át chủ bài Cam Ranh luôn được bắn tin là rộng cửa mở cho Nga. Sau khi thông qua Luật Biển (21/06/2012) và tình hình căng thẳng quanh "Tam Sa", trong chuyến thăm đồng minh khắng khít một thời (26-30/07/2012), Chủ tịch Trương Tấn Sang đã mở lời về Cam Ranh, cùng với khẳng định thuận lợi của Tổng tham mưu trưởng Hải quân Nga. Tuy nhiên,Bộ Quốc phòng Nga đã lập tức bác bỏ khả năng này.

Nga đã giữ im lặng trong lúc Biển Đông sôi động nhiều năm qua. Lần đầu lên tiếng của họ lại là quan điểm có lợi cho sự tự tung tự tác của Trung Quốc dưới chiêu bài quen thuộc của giới ủng hộ sự độc tài quốc gia và quốc tế: chống can thiệp. Khi tình hình Scarborough đang căng thẳng, ngày 20/05/2012, Đại sứ Nga tại Philippines, Nikolay Kudashev, nói rằng lập trường chính thức của nước ông là phản đối can thiệp của nước ngoài vào Biển Đông, vì đó là chuyện nội bộ của các nước có tranh chấp mà cả Mỹ và Nga đều không liên quan. Lần thứ hai lên tiếng của họ là mới đây, sau khi Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Ấn Độ, Philippines… đều ít nhiều chỉ trích Trung Quốc trong vụ đưa giàn khoan vào thềm lục địa Việt Nam, thì duy nhất một lần vào ngày 16/05/2014, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga mới cất tiếng, thể hiện thái độ tuyệt đối đứng ngoài, theo công thức ngắn gọn có sẵn, kêu gọi kiềm chế và hy vọng hai bên đàm phán hòa bình.

Khách quan mà nói, về mặt chiến lược và lợi ích quốc gia, Nga không sai, mà là Việt Nam đã lượng định không đúng. Trong khi điều tiên quyết đối với Moscow trước khi có thể chuyển hướng, là củng cố và giành lại không gian hậu Xô Viết trong chừng mực có thể, thì Hà Nội lại muốn họ quay về Đông Nam Á. Nước Nga thời Putin chỉ tận dụng thế mạnh dầu khí và vũ khí nhằm lấy lại vị thế về kinh tế và chính trị phục vụ cho mục tiêu vừa nói. Họ hiện là thế lực duy nhất trên thế giới vừa là "lái dầu" vừa là "lái súng" tầm cỡ. Với họ, Việt Nam cũng chỉ là một bên hợp tác về dầu khí và là khách hàng lớn về vũ khí, như mọi đối tác loại này của họ, kể cả Trung Quốc. Nên với hai bên tranh chấp, họ có thể hữu nghị và nhận tiền mua bán từ cả hai, mà không thể nào "thiên vị" cho một bên. Đó là chưa kể, Trung Quốc là đối tác có vị thế và tiềm lực mà họ cần đến, nhiều hơn là điều tương tự có ở đối tác nhỏ hơn[6]. Vậy mà nước Việt đương thời vẫn mãi lấy tiêu chí "thủy chung" để hy vọng vào một thế lực thân Việt Nam nhất hiện diện ở Biển Đông, vừa để kiềm chế Hoa Lục vừa để cân bằng với Hoa Kỳ[7].

Tất nhiên, về chiến thuật ngoại giao, Hà Nội nói rằng tàu của thân hữu vào Nha Trang hay Cam Ranh để thăm hữu nghị hay nhận dịch vụ hậu cần. Nhưng về toan tính chiến lược, khoảng cách giữa căn cứ sửa chữa quân sự và căn cứ quân sự chẳng có gì xa xôi, vấn đề chỉ là có đi đến nhất trí và đạt được thỏa thuận đằng sau những ngôn từ ngoại giao hay không. Với Ấn và Nga, lời đáp từ phía họ là không.

Việc nhắm đến Ấn và Nga không phải chỉ vì những tương đồng dễ thấy, mà còn bởi đây là những thay thế sáng giá nhất cho Nhật và Mỹ, là những đối tác sẵn lòng tạo thế liên minh hơn.

Đối với Nhật, truyền thống cương cường, sự hào phóng, nhanh nhạy, chủ động hỗ trợ nước nhỏ, cùng với vị trí địa lý rất thuận lợi khi cơ động vào vùng biển Đông Nam Á, chỉ thua Ấn ở mỗi nền quốc phòng còn bị ràng buộc bởi một hiến pháp thuần phòng vệ (mà thực tế đang tiến đến tháo gỡ), cũng không khiến Hà Nội đặt nặng hơn Ấn.

Khi so với Nga, Hoa Kỳ cũng tương tự vậy, trong khi đây là quốc gia duy nhất đủ sức và sẵn sàng đối trọng, điều phối các liên hệ đa quốc nhắm vào các thách thức quốc tế. Họ đương nhiên không phải là đối tác duy nhất trong chiến lược kiềm chế tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc, nhưng là đối tác khả dụng nhất và quyết định nhất.

Lẩn tránh đồng minh khả thi để theo đuổi đồng minh bất khả thi là thực chất và đích đến của chiến lược phi liên kết của Việt Nam.

Chối bỏ quan hệ đồng minh trên lý thuyết nhưng thực tế lại huy động và trông chờ sự can dự rộng rãi, cũng như vận động sự hiện diện có chọn lọc của các thế lực khác, là đối sách mà Hà Nội cho là hữu hiệu nhất. Nó vừa tránh công khai liên kết để không kinh động đến Bắc Kinh, vừa bảo toàn được các quyền lợi "ý thức hệ", vừa có được các liên hệ rộng cho sự ủng hộ ngoại giao, vừa tạo quan hệ thực chất với những đối tác đặc biệt riêng có để nhận sự hậu thuẫn chính trị và quân sự, vừa tranh thủ được thời gian để tăng cường thực lực.

Trong số đó, chỉ có mục tiêu về các quyền lợi phi quốc gia-dân tộc là đạt được. Ngoài ra, tất cả đều dừng lại ở mức chung chung (đối với bên ngoài) hoặc chưa thể đạt mức cần thiết (đối với thế và lực bên trong).

Mục tiêu kiềm chế Trung Quốc đã không đạt được, ngoài khoảng thời gian 2012-2013 có sự êm thắm tạm thời. Nhưng thật ra, đó cũng là hai năm mà Bắc Kinh triển khai thành công đối sách phân hóa ASEAN, và cũng thành công khi đẩy Hà Nội sâu vào thế tự tin, cả trong quan hệ với Trung Quốc[8] lẫn trong chính sách "phi liên kết". Phần mình, họ không ngây thơ tin vào chủ trương "trung hòa" giữa các thế lực của Hà Nội.

Mục tiêu nhắm đến các quốc gia thân hữu đã không đạt được, ngoài sự lên tiếng hết sức chừng mực.

Mục tiêu đối với các đối tác chiến lược đủ loại khác cũng đã không đạt được, ngoài những tiếng nói ngoại giao đề cập đến khía cạnh có liên quan đến trật tự toàn cầu.

Kết quả:

- Đối với Việt Nam, khi vô sự là những giao dịch tiền bạc và ca tụng ngoại giao, khi hữu sự là sự cô độc về lực lượng và hành động.

- Các ngỏ quan trọng quanh rìa đông nam biển Đông Nam Á đã được "đón lỏng", từ sự quyết đoán trong thế liên minh của các quốc gia. Ngoài Nhật Bản ở rìa cực bắc, quay mặt vào Biển Đông và dễ tiếp cận Hoàng Sa, Trường Sa là chuỗi các căn cứ hải quân và không quân tại Philippines, nay đã được trao quyền sử dụng cho Hoa Kỳ. Cực nam là các cơ sở quân sự tại Úc, đất nước đang ngày càng ra mặt ủng hộ đồng minh. Tây nam là eo Malacca mà cả Hoa Kỳ và Ấn Độ đều không bao giờ sao nhãng. Cực tây là chuỗi căn cứ của Ấn tại hai quần đảo Andaman và Nicobar.

- Không kể phần dọc theo Trung Quốc, rìa tây Biển Đông, đồng thời cũng là mạn đông kéo dài suốt Việt Nam, là vùng duy nhất hở sườn, mà Hải Dương 981 và Nam Hải 9 đang giúp phô bày.

- Mối liên kết đa quốc ở rìa đông nam Biển Đông vừa đủ khả năng tập hợp thêm lực lượng mà cũng đủ sức bảo vệ sự thông thương, khi cần. Sự phi liên kết ở rìa tây thì đang trực diện với nguy cơ bị cướp đoạt tài nguyên và ngư trường, mà chính quyền sở tại không thể bảo đảm điều tối thiểu là sự an toàn sinh kế của người dân nước mình.

Rõ ràng, trong đối sách với phương Bắc, thực tế đã hiển hiện: chần chừ chỉ có chết.

7. Chần chừ chỉ có chết: lời kết không cần đặt dấu hỏi

Tất nhiên, tới đây, Việt Nam vẫn cần thực hiện các đối sách một cách khôn khéo, nhưng điều đó không thể theo lối cũ được nữa.

Trong những ngày này, Hà Nội đã nhanh chóng thể hiện chiều hướng liên kết với Manila, cũng như có động thái mới với Washington. Nhưng định hướng ấy cần tiếp tục đi vào chiều sâu và thực tế, chứ không thể dừng lại ở mức dùng quan hệ với Hoa Kỳ và các quốc gia có thể liên minh khác như một phương tiện để giữ lấy quan hệ đồng chí với Hoa Lục.

Với nước lớn, không bao giờ muộn khi có thêm đồng minh. Nhưng với nước nhỏ, sẽ quá muộn khi các ưu thế tuột vào tay người khác, trong khi nó có thể đã là thế và lực mới của mình nếu không chần chừ.

Thời điểm mà Hà Nội không còn thể đi dây hữu hiệu nữa, nay đã đến.

Thời điểm của cục diện Philippines có thể sẽ đến khi họ nổi lên như tác nhân chính thay cho Việt Nam, bởi họ vừa là bên chủ động pháp lý kiện Trung Quốc, vừa là nhân tố quân sự tích cực trong kế hoạch cân bằng chiến lược, vừa là chủ thể chính trị đi đầu, dứt khoát và mạnh mẽ đấu tranh với các hành động thay đổi nguyên trạng Trường Sa từ phương Bắc. Với vai trò đó, sự hậu thuẫn của đồng minh và quốc tế sẽ tập trung cho họ.

Thời điểm mà Đài Loan xác quyết vị thế của mình trong tranh chấp có thể sẽ đến nếu họ được sự ủng hộ để trở thành một bên của tiến trình COC.

Thời điểm mà Hoàng Sa và Trường Sa, với tư cách yếu tố độc lập tương đối, chi phối lại các chủ thể tranh chấp cũng đang đến khi Trung Quốc đẩy mạnh phát triển "Tam Sa" và (có thể) hải đảo hóa những nơi đã cưỡng đoạt ở Trường Sa.

Trong viễn cảnh đó, nếu Việt Nam tiếp tục thụ động với những chủ trương như hiện nay, thì khả năng Biển Đông bị xâu xé cũng sẽ đến, vì thế giới sẽ không để Trung Quốc độc chiếm vùng biển này. Khi ấy, Hà Nội khó mà lại chuyển hung thành kiết được nữa. Một khi các liên minh trong vùng chính thức định hình và hiện diện đầy đủ ở những điểm xung yếu mà không có Việt Nam, với những trải nghiệm trong quan hệ với Hà Nội, có phần chắc các nước này cũng sẽ buông đầu dây phía họ, như Bắc Kinh đã vừa buông.

Trước việc Bắc Kinh dùng hệ thống giàn khoan làm công cụ xâm lược biển, duyên hải phía đông đang phơi ra như một khoảng trống quân sự mà Việt Nam sẽ không thể tự mình lấp đầy. Hà Nội không nên hy vọng rằng việc tập trung của các thế lực khác ở những nơi khác quanh Biển Đông sẽ khiến Hoa Lục quay sang đối phó, từ đó mà xuống thang với láng giềng phương Nam. Thực tế trước nay là, dù vẫn đối ứng với thế lực lớn, họ sẽ lấy những thế lực nhỏ, yếu làm mục tiêu hàng đầu.

Để hóa giải sự thất thế đó, kiện ra tòa án quốc tế, một khi Hoa Lục không thừa nhận, sẽ vô hiệu đối với họ. Nhưng cũng chính vì thế, giải pháp pháp lý này trở thành một giải pháp chính trị và ngoại giao hữu hiệu mà Hà Nội không nên chần chừ, thay vì việc chọn tâm điểm là sựvận động ngoại giao tràn lan, thiếu hiệu quả.

Giải pháp chính trị hàng đầu là bộ Quy tắc Ứng xử Biển Đông, thì đang bị Bắc Kinh hủy hoại ngay từ trong tiến trình ỳ ạch của nó, bằng cách trì hoãn và dùng sức mạnh tạo nên hiện trạng mới có lợi cho mình. Họ đang đi trước nhiều bước để một khi COC hình thành, sẽ phải ghi nhận sự xâm thực đó bằng tiêu chí giữ nguyên hiện trạng.

Cùng lúc, trung tâm chính trị hàng đầu cho việc xử lý tranh chấp, là ASEAN, cũng bị Hoa Lục phân hóa và tự phân hóa, bị trói tay và giảm hiệu năng bằng nguyên tắc đồng thuận cả khối.

Giải pháp kinh tế chống Trung Quốc, sẽ không ai tính đến chừng nào Hoa Lục còn chưa tấn công quân sự trên diện rộng nhắm vào đồng minh của các thế lực lớn.

Còn lại là giải pháp quân sự, cũng sẽ không ai tính đến với tư cách là hành động đối ứng cho sự xâm thực phi quân sự hoặc trấn áp cục bộ của Trung Quốc. Thế nhưng, nó luôn được tính đến với tư cách phòng vệ và răn đe từ xa, vừa để ngăn ngừa xung đột vừa tạo đủ lực cho xung đột, nếu buộc phải vậy. Sự răn đe đó, một nước nhỏ, yếu cả thế và lực không thể một mình mà làm được, không thể vài năm hay chục năm mà làm được, trong khi nguy cơ thì chực chờ ngay trước mắt.

Dù sao, với tất cả những điều trên, để giữ môi trường hòa bình của mỗi nước, của khu vực và thế giới, hướng chiến lược cần theo đuổi vẫn là ASEAN thực hiện vai trò trung tâm chính trị, kiên trì với COC, song hành cùng giải pháp pháp lý ở mỗi quốc gia và trong thế liên minh[9]. Đồng thời, tổ chức này cũng cần trở thành trung tâm quân sự của tiểu vùng để hoàn thiện vị thế của một bên đối tác, trực tiếp chịu trách nhiệm về an ninh của chính mình. Phần Hoa Kỳ, với vai trò của đồng minh trụ cột, là người điều phối về chính trị, ngoại giao, quân sự với các thế lực trong và ngoài vùng có can dự, và là lực lượng quân sự tối hậu làm rào chắn cuối cùng, mà các quốc gia có tranh chấp với Trung Quốc cần liên kết.

Việt Nam không thể nằm ngoài thế chiến lược chung đó mà nghĩ rằng vừa duy trì được mọi quan hệ tốt đẹp, vừa tự một mình bảo đảm được hòa bình, chủ quyền và an ninh, trong cái thế trọng sức mạnh mà Hoa Lục đã đặt mọi phía vào đó.

Ngoài nội lực cần một quyết tâm chính trị cao nhất mới có thể tạo đà phát triển trọn vẹn, không thể giữ được chủ quyền và nền độc lập bằng sự đơn thương độc mã của chính nghĩa suông và ngoại giao câu chữ. Nghĩ rằng có thể thắng Trung Quốc nhờ mặt trận lòng người mở ra bên trong nó và trong lòng nhân dân thế giới, như đã từng làm với nước Mỹ, là điều tuyệt đối không tưởng. Hoa Lục toàn trị của thế kỷ XXI không phải là Hoa Kỳ dân chủ của thế kỷ XX để mà phải chịu áp lực của công luận trong và ngoài nước và chịu sự phán xét trực tiếp của người dân nước mình.

Một khi nội lực chỉ là sự hô hào mà không được thực tế hóa bằng những chuyển biến triệt để và toàn diện, một khi chính nghĩa và ngoại giao còn chưa được vật chất hóa bằng sức mạnh của sự liên kết đúng đối tượng, thì chỉ là tự ta đang vô hiệu hóa mình bằng công cụ tuyên truyền.

15/05 – 30/06/2014

© 2014 Lê Tuấn Huy & pro&contra



[1] Sau khi không thống nhất giá mới với Việt Nam, Nga không tiếp tục thuê Cam Ranh. Nhưng hai bên đồng ý để lưu trú lại một tổ thu thập tín hiệu vô tuyến hướng ra Biển Đông, chủ yếu nhắm vào Trung Quốc, duy trì đến năm 2002.

[2] Hiện vẫn chưa có thông tin chính xác, nhưng qua đối chiếu, có thể đó là cuộc gặp được nhắc đến trong một bản tin của Viện Hải quân Hoa Kỳ vào tháng Hai 2008.

[3] Kiểu như "tình hữu nghị là tài sản quý báu", "người bạn thủy chung"…

[4] Chuyến thăm Nha Trang và Hải Phòng của tàu INS Airavat (19-22/07/2011) là kết quả chuyến đi trước đó của Đô đốc hải quân Nguyễn Văn Hiến đến Ấn. Hải trình này đã khiến phương Bắc khó chịu và phản ứng theo kiểu của họ: trên đường về, ở Biển Đông, INS Airavat nhận được tín hiệu vô tuyến từ tàu không được nhận dạng của Trung Quốc, yêu cầu tàu Ấn xác định danh tính và lý do hiện diện trong vùng biển "của họ".

[5] Cập nhật: Vừa mới đây, ngày 24/06/2014, tàu vận tải nặng USNS Cesar Chavez (T-AKE 14) của hải quân Hoa Kỳ đã từ Philippines vàoneo tại vịnh Nha Trang trong 15 ngày, để Công ty TNHH một thành viên nhà máy đóng tàu Cam Ranh bảo dưỡng.

[6] Cách đặt vấn đề tại sao Nga không ủng hộ Trung Quốc ở Biển Đông, là nhầm chủ thể. Mức độ xung khắc và xung đột giữa họ với nhau trong quá khứ khiến Kremlin thừa biết Trung Quốc là như thế nào. Mà các chiến lược gia Trung Nam Hải hẳn cũng đủ tầm để lượng định về các thế lực trên thế giới, và biết rằng họ không trông chờ sự hậu thuẫn của Nga. Câu hỏi "tại sao" ấy nên được đặt ra với Việt Nam thì đúng hơn.

[7] Cập nhật: Sau hợp đồng dầu khí 400 tỷ dollar Tổng thống Putin đạt được tại Bắc Kinh vào hạ tuần tháng Năm 2014, chỉ với việc ba tàu của Hạm đội Thái Bình Dương Nga sau hải trình công vụ ở Ấn Độ Dương trở về, ghé vào Cam Ranh ba ngày (17-20/06/2014) để nhận dịch vụ hậu cần, mà Đại sứ Việt Nam tại Nga đã lại lập tức lên tiếngmời Nga ưu tiên sử dụng Cam Ranh. Và chỉ vài ngày sau, Đặc sứ của Chính phủ được gửi sang để hội đàm với đại diện Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Nga, mở lời ủng hộ họ trong vai trò tại châu Á-Thái Bình Dương. Câu trả lời của họ vẫn là công thức về "nguyên tắc không can thiệp" và đàm phán hòa bình giữa các bên tranh chấp.

[8] Sự tự tin về sự gần gũi này vừa được thể hiện, vừa là kết quả từ các chuyến thăm liên tục của lãnh đạo hai nước: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Trung Quốc, 11-15/10/2011. Tổng Bí thư Tập Cận Bình thăm Việt Nam, 20-22/12/2011. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm Trung Quốc, 19-21/06/2013. Thủ tướng Lý Khắc Cường thăm Việt Nam, 13-15/10/2013.

[9] Ý kiến về một liên minh pháp lý Việt Nam – Nhật Bản – Philippinesnên được chú ý thích đáng.

VRNs. Vị linh mục-blogger Việt Nam tranh đấu cho tự do tôn giáo

Nguồn chuacuuthe
ĐĂNG NGÀY: 02.07.2014 , MỤC: - TIN NỔI BẬTCÔNG GIÁO TRẺ

VRNs (02.07.2014) – Diễn đàn Việt Nam 21 – 30/06/2014 – Tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới đã đưa tên linh mục thuộc Dòng Chúa Cứu Thế, Antôn Lê Ngọc Thanh vào danh sách "100 anh hùng thông tin" của họ. Báo Vatican Insider phỏng vấn với chính vị linh mục.

Chiến dịch cho nhân quyền và tự do tôn giáo tại Việt Nam đang trong đà tiến triển trên mạng. "Gần 40 triệu người sử dụng Internet tại Việt Nam. Phương cách có hiệu quả nhất để đánh thức nhận thức của người dân và rao giảng Tin Mừng là tạo ra các ứng dụng cho điện thoại thông minh và máy tính bảng – đó là những công cụ rất phổ biến – để nông dân, thanh niên, sinh viên và người lao động chỉ cần bấm một nút là có thể truy cập thông tin về niềm tin và sự tự do". Linh mục-blogger cha Antôn Lê Ngọc Thanh, người quản lý trang mạng Tin tức Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam (www.chuacuuthe.com) và đài phát thanh, truyền hình Công giáo trên Internet tại Sài Gòn (năm 1975, thành phố miền Nam Việt Nam này được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh sau khi bị Việt Cộng cưỡng chiếm) cho biết trong một cuộc phỏng vấn dành riêng cho Vatican Insider.

Linh mục Antôn Lê Ngọc Thanh, một linh mục Dòng Chúa Cứu Thế, 45 tuổi, là người đã được tung lên hàng những người nổi danh quốc tế sau khi ông được đưa vào danh sách "100 anh hùng thông tin" của tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới. Danh sách này vinh danh các cá nhân đấu tranh cho tự do ngôn luận và tự do báo chí, đặc biệt trong hoàn cảnh khó khăn. Việt Nam vừa khít vào nhóm này: các nguồn tin tức chính (báo chí, kênh truyền hình và trang mạng) là quốc doanh. Chính phủ kiểm soát các phương tiện truyền thông đại chúng và các thông tin được xuất bản hay phát sóng. Nhưng một phong trào trực tuyến đang phát triển chống lại hệ thống kiểm soát đó. Bản chất của Internet, với trang web không ngừng tiến hóa, khiến cảnh sát rất khó có thể kiểm soát từng công dân một. Hệ thống kiểm duyệt của nước này có những lỗ hổng. Blog và mạng xã hội đã trở thành một phương tiện cơ bản để người Việt Nam diễn đạt ý kiến của mình một cách tự do. Cha Antôn cho các trang mạng là mảnh đất màu mỡ để nâng cao ước mong tự do của công chúng. Chiến dịch đòi hỏi tôn trọng nhân quyền của ông đã bị chính phủ Việt Nam chỉ trích, cho cảnh sát theo dõi liên tục và đã dẫn đến việc ông bị bắt giữ nhiều lần.

 

cha Antôn Lê Ngọc Thanh, CSsR đang chia sẻ đề tài Đức Mẹ là người nghèoloan báo tin mừng cho người nghèo.

cha Antôn Lê Ngọc Thanh, CSsR đang chia sẻ đề tài Đức Mẹ là người nghèoloan báo tin mừng cho người nghèo.

Thưa Cha Antôn, xin Cha cho chúng tôi biết về cuộc sống và thiên hướng của Cha

"Tôi sinh ra trong một khu phố nghèo ở Sài Gòn, nơi các linh mục thuộc Dòng Chúa Cứu Thế chăm sóc mục vụ. Sự hăng say của các ngài đã cảm hóa tôi khi tôi còn nhỏ. Tuy nhiên đất nước chúng tôi bị chủ nghĩa vô thần cộng sản choàng lên. Khi tôi lớn lên, tôi cảm thấy trống rỗng trong lòng mặc dù tôi thành công trong việc học. Một hôm tôi tình cờ được đọc đoạn văn từ trong lá thư của Thánh Phaolô gửi tín hữu Galat nói rằng "Không còn phải tôi sống, nhưng là Chúa Kitô sống trong tôi" (x. Gl 2, 20) tôi đột nhiên nhận ra rằng Thiên Chúa đã ở sâu trong tâm hồn tôi. Tôi bắt đầu làm các việc như các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế là chăm sóc trẻ em bụi đời. Sau đó, tôi tham gia vào Dòng Chúa Cứu Thế: Các cha DCCT đã dạy tôi rằng Chúa Kitô sống giữa những người nghèo và người bị bỏ rơi ".

 

Điều gì đã khiến Cha quyết định đi vào lĩnh vực truyền thông?

"Khi tôi 16 tuổi, niềm đam mê về ngành báo chí và truyền thông bắt đầu phát triển trong tôi. Tôi muốn trở thành một nhà báo và bắt đầu làm việc như một cộng tác viên độc lập. Khi tôi trở thành một linh mục, tôi đã được gửi đến giáo phận Kontum, nơi lo mục vụ truyền giáo cho các nhóm sắc tộc thiểu số. Tôi đã học được làm thế nào để hiểu người dân bản địa và đã thực hiện một số phim tài liệu ngắn về họ. Năm 2005, khi các mạng xã hội đã được sinh ra, tôi bắt đầu viết một số cảm nghĩ vắn tắt trên một blog và trên Facebook. Năm 2009, Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam quyết định tái lập lại hoạt động thông tin xã hội, và Nhà Dòng giao phó nhiệm vụ này cho tôi. Kể từ đó, chúng tôi, một nhóm mở rộng gồm có giáo dân, người ngoại đạo và tôi đã tạo ra một hệ thống thông tin trên mạng gồm có website thông tin, đài phát thanh và truyền hình internet. Chúng tôi chuyển tải các tin thời sự có liên quan đến mối quan hệ giữa xã hội Việt Nam và các giá trị Kitô giáo. Tự do tôn giáo và các quyền bất khả xâm phạm của con người rất gần gũi với trái tim của chúng tôi ".

 

Công tác mục vụ của cha tới đâu rồi?

"Tôi hiện đang làm việc tại Tổng Giáo phận Sài Gòn. Công tác mục vụ của tôi chủ yếu là qua mạng. Chúng tôi không những có thể phục vụ người dân địa phương mà còn hợp tác với người Việt hải ngoại khắp nơi trên thế giới nhờ vào Internet. Đây là một dịch vụ cho cuộc sống, cho sự thật và cho Tin Mừng. Ví dụ: chúng ta cần phải tố cáo các trường hợp người bị tước đoạt đất đai của mình mà không được bồi thường gì cả. Bất cứ ai phản đối đều bị bắt giữ. Hoặc chúng tôi gặp những giới trẻ có cuộc sống đang tập trung vào cờ bạc trực tuyến, bạo lực và khiêu dâm. Nhiều giới trẻ đã mất hy vọng trong cuộc sống. Chúng tôi cố gắng gặp tận mặt và giúp đỡ họ".

 

Cha phải đối phó những khó khăn nào?

"Chúng tôi thường bày tỏ tình đoàn kết của chúng tôi đối với một số nhà hoạt động hoặc các blogger bị bắt vì đã bị kết án tham gia vào việc "tuyên truyền chống chính phủ ". Tại một cuộc biểu tình ủng hộ ông Nguyễn Văn Hải, (được gọi là Điếu Cày), cảnh sát bắt giữ tôi, ngăn chặn không cho tôi viết tường thuật về phiên tòa bất công này. Điều tương tự cũng đã xảy ra khi tôi dự phiên tòa xử Đình Nhật Uy, anh đã bị bắt vì một số bài viết trên Facebook. Tất cả các phóng viên, kể cả chính bản thân tôi đều có những rủi ro tương tự. Để hỗ trợ lẫn nhau về nhiệm vụ này cho tự do, chúng tôi tổ chức họp hàng tuần, giúp đỡ lẫn nhau và cầu nguyện với nhau. Chúng tôi không có vũ khí, nhưng bạo lực không làm chúng tôi sợ bởi vì nó không thể làm suy yếu lương tâm chúng tôi. "

 

Giáo Hội Việt Nam phải đối mặt với tình trạng nào hiện nay?

"Trong xã hội cộng sản của chúng tôi, tôn giáo không hoàn toàn tự do. Mặc dù Hiến pháp tuyên bố rằng công dân có quyền tự do lựa chọn tôn giáo của họ, tất cả các hoạt động tôn giáo phải được Nhà Nước cho phép. Các cộng đồng tôn giáo như Giáo hội Công giáo không có tư cách pháp nhân được công nhận. Ngoài những vấn đề cơ cấu ra, trong Giáo Hội Việt Nam tôi thấy có những vấn đề liên quan đến người làm chứng tận tâm với đức tin trong cuộc sống hàng ngày của họ. Điều thách đố là sống một cuộc sống thật sự Kitô giáo. Tuy nhiên, người Việt đặt niềm tin rất lớn vào Giáo Hội, nơi họ cho là có một tổ chức mạnh mẽ và đoàn kết. Vì lý do này, Giáo Hội có nhiệm vụ đóng góp vào sự tiến bộ dân chủ, vì lợi ích của cả nước".

 

Cha có tin rằng cố Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận là một ví dụ trong ý nghĩa này?

"Đức Hồng Y là một nhân vật điển hình cho chúng tôi: Ngài từ miền Nam Việt Nam, như tôi, và chính quyền cộng sản đã nhốt ngài vào tù vì ngài giữ niềm tin vào Thiên Chúa. Cuốn sách "Đường hy vọng" truyền sức mạnh và lời khuyến khích đến tất cả giáo dân Công giáo Việt Nam, ngay cả trong tình hình khó khăn hiện nay. Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã hành động như nhân chứng của Chúa Kitô ngay cả trong tù, mang một thông điệp hòa bình tới các cán bộ nhà tù. Tôi hy vọng Đức Giáo Hoàng Phanxicô sẽ sớm phong chân phước cho ngài".

Paolo Affatato  (Vatican Insider *)

Bản dịch của N.Khôi  (Diễn Đàn Việt Nam 21)

* Nguyên bản của Paolo Affatato, Vatican Insider 26/05/2014:

The Vietnamese priest-blogger fighting for religious freedom

Nguyễn Lộc Yên : Thế lực thù địch, đích thực từ đâu?

Nguồn danlambao

Nguyễn Lộc Yên (Danlambao) - "Thế lực thù địch" là gì? Là một cụm từ trừu tượng, vì vậy cần định nghĩa khái quát về "Thế lực thù địch" để ý nghĩa của đề tài được xác định rõ ràng hơn:"Thế lực thù địch là kẻ thù có sức mạnh và thế lực chống đối một cách quyết liệt". Còn Cộng sản Việt Nam (CSVN) với cụm từ "Thế lực thù địch" thì diễn giải rất mơ hồ nhưng lại sử dụng thủ đoạn và mờ ám, trong Nghị quyết số 12, với tựa đề "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay", Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng bị ám ảnh bởi "Thế lực thù địch" nên ngạo ngược nói: "Các thế lực thù địch không từ bỏ âm mưu và hoạt động 'diễn biến hòa bình', thúc đẩy 'tự diễn biến, tự chuyển hóa', tăng cường hoạt động chống phá, chia rẽ nội bộ Đảng và phá hoại mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân, làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng".

Vậy "Thế lực thù địch" đích thực từ đâu?! Chúng ta thử nghiền ngẫm câu nói của người xưa: Soi gương để xem hình, xét việc xưa để biết nay (Minh kính khả dĩ sát hình, vãng cổ khả dĩ soi kim). Vậy người viết xin phép kể lại hai chuyện xưa có liên quan đến bài viết này:

- Vào thời Xuân Thu (khoảng năm 722 đến 481 TCN) vua nước Tấn (thuộc đất Sơn Tây ngày nay) đi chơi bằng thuyền, có đông đủ các quan văn võ. Vua hỏi: "Loan Doanh, trẫm đã cho cấm cố một nơi, còn con là Loan Phường trốn ra nước ngoài, có ai biết Loan Phường nay ở đâu không?"

Các quan im lặng, không ai nói gì cả. Thanh Quyên là người lái thuyền, lại bẩm rằng: "Thưa Hoàng thượng, hỏi Loan Phường để làm gì?". Vua nói: "Từ khi trẫm trị họ Loan đến nay, người già chưa chết hết, người trẻ lại lớn lên, trẫm lo ngại họ phục thù, nên mới hỏi về họ Loan".

Thanh Quyên lại thưa: "Nếu vua và các quan khắng khít cùng lo sửa sang đất nước, lo lắng đời sống muôn dân, thì dòng họ nhà Loan làm gì được Hoàng thượng. Nhưng nếu Hoàng thượng không sửa sang đất nước, không lo lắng đời sống muôn dân, thì những người ngồi trong thuyền này, ai cũng có thể trở thành họ Loan hay kẻ thù địch của Hoàng thượng". Vua khen: "Ngươi nói phải lắm". Từ đấy, nước Tấn được sửa sang giàu mạnh, đời sống nhân dân được yên ổn, no đủ, nên đời vua này trị vì không có "thế lực thù địch" nào xuất hiện và không có nước nào dám gây hấn với nước Tấn cả. Đây là vua nước Tấn lo ngại thù địch từ trong nước!

- Khi Hưng Đạo Vương sắp mất, vua Trần Anh Tông đến thăm và hỏi: "Nếu chẳng may ông mất, rồi giặc phương Bắc lại sang xâm lấn Đại Việt, thì ta phải dùng kế sách gì". Vương kiến giải lời tâm huyết sâu sắc mà những người đang lèo lái quốc gia nên nghiền ngẫm: "Quân địch ào ạt tràn đến như lửa, như gió, thế ấy dễ trị. Nếu chúng dùng chước như tằm ăn lá dâu, không cần mau thắng, không cướp bóc của dân, thì phải lựa lương Tướng, như đánh cờ vậy, cốt Binh và Tướng phải như cha con. Thời bình phải khoan thư sức dân, vun bồi đất nước, là phương sách sâu gốc bền rễ, đấy là thượng sách để giữ nước". Đây là vua Trần lo ngại thù địch là giặc ngoại xâm!

Kế sách an dân giữ nước xưa nay là vậy, cớ sao Cộng sản Việt Nam lại lọc lừa nhắc đi nhắc lại về "Thế lực thù địch" trên các hệ thống truyền thông như: tivi, báo, đài... của nhà nước?! Nhà nước CSVN đã lầm lẫn "Thế lực thù địch" mà trước đây được hiểu đó là "thế lực tư bản", tiêu biểu là Tây phương, chính xác là "Mỹ". Đến thập niên 1990, để Đảng sống còn thì CSVN chạy theo chính sách "kinh tế thị trường" vẫn ì ạch kéo theo cái đuôi "định hướng xã hội chủ nghĩa" nhầy nhụa, thì "Đế quốc tư bản" không còn là "thế lực thù địch" của đảng CSVN nữa! Năm 1996, Hoa Thịnh Đốn chấp nhận bang giao chính thức với Hà Nội, các chiến hạm của Hải quân Hoa Kỳ vào thăm các bến cảng VN, và nhiều phái đoàn Việt-Mỹ sang nước cựu thù thăm hỏi lẫn nhau, từ đấy CSVN bắt đầu đu dây với Mỹ, nài nỉ kẻ cựu thù ban cho mình ân huệ!

Từ đấy, "Thế lực thù địch" đối với CSVN chỉ còn ám chỉ lầm lẫn vào những người Việt yêu nước, như: Việt Khang, Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Hoàng Vi, Đinh Nguyên Kha, Nguyễn Phương Uyên, Hồ Thị Bích Khương... Và ám chỉ những công thần của chế độ vừa tỉnh ngộ muốn vẫy vùng ra khỏi vũng bùn nhầy nhụa Cộng sản, nên cũng bị gán ghép thành "Thế lực thù địch", những nhân vật này phải kể đến: Trung tướng Trần Độ (1923-2002), Hoàng Minh Chính (1920-2008) nguyên Tổng thư ký Đảng Dân chủ Việt Nam và Viện trưởng Viện Triết học Mác-Lênin, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, cựu đại sứ của CSVN tại Bắc Kinh, Vi Đức Hồi... Những người bị gọi là "Thế lực thù địch", có nhiều người đã bị bắt, bị lao tù hay bị quản chế.

Gõ bàn phím (keyboard) đến đây, người viết lại sực nghĩ đến giàn khoan HD-981 của Tàu cộng đang xâm phạm thềm lục địa VN nên cảm thấy rất bực bội, cũng từ đấy nhìn thấy rõ chân tướng của cán bộ cao cấp CSVN, vì "cháy nhà ra mặt chuột", cán bộ CSVN có lẽ cùng một nòi giống "Con Rồng Cháu Tiên" sao lại trâng tráo lẫn đần độn, như người đứng đầu nhà nước là Nguyễn Phú Trọng vì sợ hay tự nhận mình là "đứa con hoang" của giặc Tàu nên không dám bàn bạc cách chống giặc mà im thin thít, nhưng lại trơ trẽn khẩn cầu xin yết kiến tên đầu sỏ giặc Tàu là Tập Cận Bình, nhưng bị chúng từ chối! Kẻ tệ hại hơn, tại Hội nghị Đối thoại Shangri-La ở Singapore, đại tướng Phùng Quang Thanh đang giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng, vào trưa ngày 31-5-2014 đã phát biểu rằng: "Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau còn tồn tại tranh chấp về biên giới, lãnh thổ hoặc va chạm là điều khó tránh khỏi", đúng là loại ăn lương từ Đồng bào Việt Nam lại làm quan cho Tàu. Giặc Tàu đang xâm phạm lãnh hải VN, hèn tướng Thanh trơ tráo lắm mới nói lời đần độn như vậy?!!!.

Hoàn Cầu Thời Báo còn trịch thượng đăng tin cuộc hội đàm tại Hà Nội ngày 18-6-2014, Ủy viên Quốc vụ viện Trung Cộng là Dương Khiết Trì đã giảng dạy cho lãnh đạo đảng CSVN: "tự kiềm chế bản thân trước khi quá muộn". Còn nhục mạ nặng nề: "Thúc giục đứa con hoang đàng trở về nhà". Than ôi! Từ trước ai cũng biết VC là đàn em của Tàu cộng, nhưng ai ngờ VC là con hoang của Tàu cộng, nếu Tàu cộng không nói sự thật này thì nhân dân VN làm sao biết Đảng và Chính quyền của mình là đứa con hoang của kẻ thù truyền kiếp?! Tôi không biết các vị lãnh đạo đảng CSVN tuân hành hay không tuân hành lời Dương Khiết Trì đã dạy bảo Đảng CSVN. Có phải CSVN vì quá sợ sệt họ Dương dọa nạt, và tự nhận mình là những "đứa con hoang đàng trở về nhà (Thiên triều)". Có lẽ do đấy mà VC không dám kiện Tàu cộng xâm phạm biển Đông ra tòa án Quốc tế?!. Xin hỏi các người CSVN có biết thẹn thùng khi giặc Tàu gọi các người là "đứa con hoang đàng" hay không???! Chứ người dân Việt thấp kém như tôi thì vô cùng nhục nhã đấy! Thật là:

Giàn khoan xâm phạm biển Đông
Toàn dân gìn giữ núi sông, chống Tàu
Nực cười Trọng Lú khẩn cầu!
Còn Phùng hèn tướng hoạt đầu xấu xa?!
Họ Dương trịch thượng rầy la
"Đứa con hoang hãy về nhà" nhục thay!

Dương Thiết Trì, ngươi có biết Thám hoa Giang Văn Minh (1573-1638) của VN đã dõng dạc trả lời với vua Minh nước Tàu là Chu Do Kiểm, khi vua Minh hách dịch ra câu đối: "Đồng trụ chí kim đài di lục" (Cột đồng đến nay đã rêu xanh), ý vua Minh muốn nhắc chuyện Mã Viện dựng cột đồng khắc chữ: "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt" "Cột đồng gãy, Giao Chỉ không còn". Giang Văn Minh vì danh dự dân tộc, nên thẳng thắn đối lại: "Đằng giang tự cổ huyết do hồng" "Nước sông Bạch Đằng từ xưa đến giờ máu còn hồng"(*). Câu này nhắc lại chiến công lẫy lừng của Ngô Quyền và Hưng Đạo Vương, đã giết quân Tàu ở Bạch Đằng giang, đến nay máu dòng sông còn đỏ. Vua Minh quá thẹn sinh giận, bất chấp luật lệ bang giao; ỷ nước lớn cho người mổ bụng xem "sứ thần An Nam to gan đến đâu", ngày ấy là mùng 2 tháng 6 năm Kỷ Mão (1639). vua Minh giận vì thẹn, nhưng kính trọng người khẳng khái, cho ướp xác Giang Văn Minh bằng bột thủy ngân và đưa thi hài về nước. Khi về đến Thăng Long, vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng bái kiến linh cữu và ban tặng câu "Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng" (Sứ thần không làm nhục mệnh vua, xứng đáng là anh hùng thiên cổ).

Ngày nay, giàn khoan HD-981 của Tàu cộng xâm phạm biển Đông của VN, nối chí người xưa, bà Lê Thị Tuyết Mai đã tự thiêu ngày 23-5-2014 trước Dinh Độc Lập tại Sài Gòn, Việt Nam. Ngày 20-6-2014, ông Hoàng Thu là cựu chiến sĩ của quân lực VNCH, binh chủng Pháo Binh thuộc sư đoàn 3 đóng tại Đà Nẵng, đã tự thiêu tại Tampa Bay, Florida (Hoa Kỳ), nơi hiện trường người tự thiêu để lại hai tờ giấy viết tay ghi: "Haiyang 981 phải rời khỏi hải phận Việt Nam" và "Anh hùng tử, chí hùng nào tử". Người viết vừa ngậm ngùi vừa thán phục Thám hoa Giang Văn Minh, bà Lê Thị Tuyết Mai, ông Hoàng Thu. Ngược lại, vì sao VC như tổng Trọng, tướng Thanh, không biết sỉ nhục khi tổ quốc lâm nguy?! Than ôi:

Tiền nhân gìn giữ quê hương
Hy sinh báo quốc, lo lường tận tâm
Ngày nay, Tàu cộng lấn xâm
Tự thiêu phản đối, xả thân nước nhà
Cớ sao Việt cộng lơ là?!
Mải mê quyền lực, sơn hà gian nguy!!!

Đến đây, tôi mới hiểu ra được "Thế lực thù địch" đích thực từ đâu?! Đấy là: Quân xâm lược Tàu và Đảng Cộng Sản Việt Nam là hai thế lực đã gây cho nước Việt Nam bị khốn đốn và hao hụt, đã gây cho dân tộc Việt Nam bị điêu đứng và lầm than!!! Muốn ngăn chận hai "Thế lực thù địch" ghê gớm ấy, toàn dân Việt Nam phải chung lưng góp sức mới mong giải quyết được ách nạn to lớn này. Những lực lượng của dân tộc sẽ trở thành lực lượng cách mạng diệt thù trong, chống giặc ngoài, xin trân trọng kể đến 4 lực lượng nòng cốt ở trong nước, mà VC đang nơm nớp lo ngại:

1Các Nhà đấu tranh Dân chủ, Sinh viên và Thanh niên: Trong lực lượng này có nhiều người trí thức, khi đấu tranh sẽ có những phương thức hành động uyển chuyển, như: Phối hợp nhịp nhàng với các lực lượng đấu tranh khác, vạch trần bộ mặt thật của quân buôn dân bán nước...

2Lực lượng Dân oan: Dân oan là những nông dân, những tiểu thương tính tình chơn chất, bị VC cướp ruộng vườn, tài sản, họ đã mất tất cả, nên sẽ đấu tranh quyết liệt.

3Tôn giáo: Giữa Tôn giáo và Cộng sản vô thần không bao giờ hài hòa được cả, vì vậy nên Công giáo, Phật giáo, Phật giáo Hòa Hảo, đạo Tin Lành, đạo Cao Đài luôn bị CSVN tìm mọi cách trù dập tàn khốc! Thế nên, khi Đức Giáo hoàng John Paul II (Gioan Phaolo Đệ nhị) về thăm nước Balan của ngài, lúc ấy còn cai trị bởi chế độ Cộng sản, ngài đã nhắn nhủ cộng đồng Công Giáo Balan: "Các Con đừng sợ", cũng từ đấy cuộc cách mạng Balan mới rộ nở và lật đổ chế độ Cộng sản Balan.

4Công nhân Việt Nam: Trong mục "Thực trạng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay"của PGS, TS Nguyễn Thị Quế ghi: "Hiện nay, cả nước có hơn 12,3 triệu công nhân trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất". Như vậy công nhân là một lực lượng đông đảo, họ là người chăm chỉ làm việc để lo đời sống cho mình và gia đình. Nhưng họ bị VC cấu kết với giới chủ nhân hãng xưởng bóc lột sức lao động, như làm nhiều giờ lương ít, bồi hoàn khi bị rủi ro trong lúc làm việc không thỏa đáng... Vì vậy mới đưa đến nhiều cuộc đình công và họ không có thiện cảm với CSVN.

Còn nữa, 4 triệu Đồng bào ở hải ngoại dù không trực tiếp đối đầu với bạo quyền CSVN, nhưng đây là lực lượng yểm trợ cho công cuộc cách mạng lật đổ chế độ độc tài vô cùng quan trọng. Thời gian qua đã chứng minh là CSVN vừa sợ vừa vuốt ve người Việt hải ngoại. Nên tâm thần CSVN bất định đã phản phúc lời nói của chính mình; CSVN đã gọi người Việt hải ngoại là "những kẻ ham mê bơ thừa sửa cặn của Đế Quốc", "kẻ vượt biên phản quốc", "bọn lười biếng"… Khi cần tiền Đô (USD) gởi về nước cho bà con để cứu chế độ đang giãy chết, thì CSVN đổi ngược cách xưng hô: "Việt kiều yêu nước", "khúc ruột ngàn dặm", nhờ hằng năm người Việt hải ngoại gởi về khoảng 10 tỉ đô la (năm 2012) mà chế độ CSVN mới hồi phục trở lại.

Hiện nay Tổ quốc đang lâm nguy, người viết xin được phép gợi ý với Đồng bào yêu nước ở hải ngoại:

- Hỗ trợ tinh thần: Đấy là, khi biết các nhà đấu tranh dân chủ, các blogger, dân oan, tôn giáo... bị chính quyền CSVN đàn áp dã man; chúng ta chuyển tải tin tức cập nhật đến các các cơ quan truyền thông, nhân quyền quốc tế, các dân biểu, nghị sĩ ở các nước tự do mà chúng ta đang dung thân. Và liên tục Email, phổ biến những tin tức chính xác về quốc nội, để phá vỡ kế hoạch tuyên truyền dối trá và bưng bít thông tin của khoảng 700 phương tiện truyền thông nhà nước CSVN.

- Hỗ trợ vật chất: Đấy là, chúng ta cần có nguồn tài chánh sẵn sàng, khi thấy các cá nhân hay các phong trào dân chủ ở trong nước đấu tranh thực sự và bị CSVN đàn áp trắng trợn. Chúng ta sẽ gởi tiền về trợ giúp họ, để họ có khả năng hoạt động, vì những gia đình đấu tranh này, đang bị CSVN bao vây kinh tế rất gắt gao. Tôi mong mỏi rằng Đồng bào hải ngoại là "Khúc ruột nghìn dặm" của 90 triệu Đồng bào yêu tự do, nhân quyền trong nước, chứ không phải cho chế độ độc tài CSVN.

Ngày nay tổ quốc đang lâm vào bối cảnh của lịch sử năm 937, loạn tướng Kiều Công Tiễn giết chết Tiết đô sứ Dương Diên Nghệ, sau đấy nghe dân ai oán và sợ quân lực tinh nhuệ của Ngô Quyền đang trấn thủ Ái Châu; nên Kiều Công Tiễn cho sứ sang Nam Hán cầu cứu. Vua Nam Hán nghĩ là dịp tốt để xâm lược nước ta, liền cho điểm binh mã, sai con là Thái tử Hoằng Thao làm tiên phong, chính Lưu Cung dẫn quân hậu viện, ào ạt đem quân xâm lăng nước ta. Dương Cát Lợi cấp báo hung tin cho Ngô Quyền biết. Ngô Quyền ngẫm nghĩ suy tính tình hình, rồi đưa ra kế sách: "Trước phải khẩn cấp thanh toán thù trong, để nội bộ thống nhất, sau dùng kế sách đánh đuổi quân xâm lăng ra khỏi bờ cõi".

Ngô Quyền đem quân đến Đại La giết chết Kiều Công Tiễn, xong hiệu triệu toàn dân cùng đồng tâm cứu nước, chống giặc Nam Hán xâm lăng. Ngày 7 tháng Chạp Mậu tuất (31-12-938) Ngô Quyền sai quân dùng cọc nhọn đầu bịt sắt, đóng giữa lòng sông Bạch Đằng, chờ nước thuỷ triều lên đem quân khiêu chiến, rồi giả thua nhử giặc vào giữa cọc trận, đợi nước thuỷ triều xuống, quân ta phục kích hai bên bờ sông đổ ra diệt giặc, cánh quân ta ở phía trên dòng sông tức tốc quay ngược thuyền lại, đồng loạt phản công mãnh liệt. Lúc ấy gió thổi mạnh, nên sóng nước ào ào như có thiên thần trợ chiến, giúp quân dân ta đuổi giặc cứu nước vì chính nghĩa. Quân ta dùng tên lửa bắn như mưa. Thuyền giặc bị cháy, xác giặc bị chết chìm chết cháy trôi lểnh nghểnh chật cả lòng sông, máu đỏ sóng nước. Hoằng Thao bị bắt và bị giết. Lưu Cung nghe tin con chết, khóc rống rất thảm thiết, sợ sệt vội vàng cho rút quân về Nam Hán. Về đến Nam Hán, nghĩ tên Lưu Cung xui xẻo, đổi lại tên Lưu Yểm. Chiến thắng Bạch Đằng giang, có thể coi là trận chung kết toàn thắng của dân tộc ta trên con đường đấu tranh chống Bắc thuộc và chống đồng hóa.

Hiện nay, đất nước ta cũng lâm vào cảnh thù trong, giặc ngoài; đất đai, biển đảo của Tổ quốc lần lượt bị hao hụt, Đồng bào yêu nước lại bị "Thế lực thù địch" là bọn bán nước trù dập, bắt bớ, tù đày; nên Đồng bào phải chung lưng góp sức mới mong giải quyết được ách nạn này.

Ngày 1 háng 7 năm 2014



===

Chú thích:

(*)- "Nước sông Bạch Đằng từ xưa đến giờ máu còn hồng" Nếu độc giả muốn xem lại 2 chiến công lẫy lừng của tiền nhân ở Bạch Đằng giang. Xin lần lượt copy hàng chữ: "Trang Sử Việt: Ngô Quyền đại phá Nam Hán-Vietbao online" và "Trang Sử Việt: Hưng Đạo Vương: Trần Quốc Tuấn-Vietbao online" rồi click vào Google để xem.

Hà Sĩ Phu : Trằn trọc tháng bảy (1)

Nguồn boxitvn

02/07/2014


Khoa học cho biết trong không gian luôn có những sóng vô hình tác động vào cơ thể con người làm cho mình bỗng nhiên thay đổi sinh hoạt, thay đổi tính tình, cảm xúc. Đã hai tháng nay, thềm lục địa của nước mình bị cái giàn khoan khổng lồ của của tên cướp biển cắm vào trúng long mạch của nòi giống Việt, chẳng biết có phải vì thế mà khiến cho nhiều người Việt mình ăn ngủ không yên, hằng đêm thắc thỏm, cứ thắp nhang lên bàn thờ là thấy hình ma quỷ hiện về, lo nghĩ mung lung, đêm nằm thường sinh ác mộng. Tôi ngẫm từ cá nhân mình thì biết. Xin kể với bạn bè những suy nghĩ mung lung ấy của mình thường bất chợt hiện về trong giấc ngủ. Tản mạn đủ điều, không mạch lạc.

1. Ác mộng

Cứ lơ mơ ngủ là hiện ra rõ mồn một cảnh một gia đình cự phách bỗng dưng tan tác như một lũ ăn mày. Tổ tiên họ để lại cho con cháu một cơ ngơi đồ sộ đủ làm ăn no ấm đến muôn đời. Chẳng ngờ thằng anh cả say mộng gia trưởng, hão huyền, lừa đàn em để lén đi đánh bạc với lão hàng xóm tinh quái, bị thua bạc phải đem gán cả cái gia tài gấm vóc ấy, lại ngầm ký mấy bản giao kèo hẳn hoi.

Hốt hoảng sợ gia đình biết sẽ đánh đuổi ra đường, thằng thua bạc bèn nói khó với lão hàng xóm tìm cách lo liệu sao cho trót lọt. Hồi lâu bàn bạc, hai bên nghĩ ra một mẹo, không trao cả gia tài ngay một lúc mà cứ "bàn giao" từng phần, cho gặm dần như tằm ăn lá dâu, nay thuê khoảnh vườn này 50 năm, mai cho một bọn gia nhân sang làm nhà ở nhờ một góc, mốt cho thuyền bè sang đánh cá chung tại hồ, lại cho mấy con nô tỳ ăn ngủ với thằng anh cả ấy đến có con riêng…

Gia đình có phát hiện thì thằng anh cả mất nết ấy cứ dùng "quyền huynh thế huỵch" lấp liếm vài câu lấy lệ, cũng ra vẻ khoa chân múa tay phản đối lão hàng xóm cho qua chuyện, hứa hươu hứa vượn cốt sao gia đình không nổi giận, nổi khùng. Cứ thế chẳng mấy chốc cả gia tài đồ sộ rơi hết vào tay lão hàng xóm, còn gia đình thì "may mắn" được lão hàng xóm "tốt bụng" mở lượng hải hà cho lưu trú ở một góc vườn, con cháu đời đời được làm kẻ hầu người hạ cho lão hàng xóm tham lam tinh quái. Cả gia đình bất hạnh chỉ còn biết ngậm một nỗi căm hờn trong tủi nhục, chẳng biết trách mình ngu dại, lại thầm trách tổ tiên đã làm gì thất đức để sinh ra một thằng con trưởng vô phúc, bán cả cha ông…

Tỉnh dậy thấy mắt mình ươn ướt, chắc mắt già kèm nhèm nó thế, chứ chẳng lẽ lại vớ vẩn thương cái gia đình trong mộng, thế rồi mệt quá mà ngủ thiếp đi.

2. Ngộ độc hàng Tàu

Đấy là chuyện ngủ, giờ đến chuyện ăn. Một đất nước xưa nay rất trong lành mà bây giờ hằng ngày ăn gì cũng sợ độc, một thứ độc rất… Trung Quốc! Vợ tôi thường mua lê mua táo thắp nhang, những quả táo quả lê rất đẹp nhìn mà phát thèm, thế nhưng để quên ba tháng trên bàn thờ mà trông vẫn đẹp mã như không mới hoảng hồn chứ, bổ ra thấy quả thì rắn như đá, quả thì thối đen bên trong, không biết họ tẩm chất gì lạ thế, chỉ dân mình là khổ.

Nhưng đêm nằm nghĩ lại thấy người dân còn may, chứ lớn lao như Đảng ta mà xơi phải món vịt tiềm thuốc Bắc "Thập lục kim tự" (vịt đây là vịt Bắc Kinh chính hiệu) là biến thái ngay không cứu được nữa là.

Động lòng trắc ẩn, tôi nhập hồn Bút Tre, nhỏm dậy, bật đèn ghi vội vào nhật ký:

Ngộ độc là tại hướng (ba) đình

Cả làng ngộ độc, cớ chi mình kêu ca?

Đường đường như thể đảng Ta

Xơi phải mười sáu chữ, cũng biến ra… đảng Tàu!

Biết có bậc đại nhân cũng ngộ độc như mình, như có người "đồng bệnh tương lân" nên tấm lòng AQ cũng tự sướng đôi chút.

3. Ước gì mình nhầm

Viết thế rồi vẫn cứ áy náy, liệu mình nghĩ như thế có nhầm không, có quá không? Vẫn biết tình hình hiện nay, hai chữ "bán nước" thiên hạ đã nói, đã viết giăng giăng khắp nơi, đến nhà "Hồ Chí Minh học" Nguyễn Khắc Mai cũng đã công khai bảo cái công hàm của chính phủ Phạm Văn Đồng (tất nhiên dưới sự lãnh đạo của Hồ Chủ tịch) là phản động, phản quốc rồi, nhưng thôi, cứ níu lấy hy vọng chút xíu, cứ đắm đuối, cứ mong sao những suy nghĩ của mình là nhầm lẫn thì đại phúc cho dân, theo kiểu "lạc quan vô tận" ấy mà. Trước đông người, ai nỡ buông một lời tuyệt vọng? Lạy trời cho những lời phê phán của mình là nhầm, nhầm vài phần trăm thôi cũng được.

Nhưng khốn nỗi, không gì chống nổi thực tế, những tin tức sáng nay (xem phần dưới) đã thêm một lần quyết định, cho thấy sự kết tội như thế chẳng những không nhầm, rất không nhầm, mà trái lại còn chưa tới, chưa ngang tầm với thực tế đồi bại không thể chối cãi. Cuộc đầu hàng và Hán hóa đã đi nhanh hơn sức mình tưởng tượng, vì được chuẩn bị quá lâu rồi.

4. Những tin tức sáng nay.

Tin thứ nhất là ảnh chụp bức công văn của Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi các địa phương về 16 điều cần làm ngay để thực hiện theo ý kiến của Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông Hồ Xuân Hoa (xem tại đâyvà tại đây). Trong đó có điều 1 "Thúc đẩy Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị và Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Lê Thanh Hải thăm Quảng Đông".

Và trong điều 2, Trung Quốc sẽ đào tạo các cán bộ đảng cho Việt Nam, cụ thể là "trong 05 năm đào tạo 300 cán bộ Đảng Cộng sản Việt Nam; trong đó Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh mỗi địa phương 100 cán bộ, 100 cán bộ của các tỉnh thành có quan hệ hợp tác với Quảng Đông nhiều như TP. Hải Phòng, Đà Nẵng, tỉnh Quảng Ninh, Quảng Nam".

Tưởng Việt Nam đã cam tâm làm một tỉnh "Quảng Nam" của Trung Quốc, hóa ra không được thế, chỉ đáng là một địa phương trong vòng quản trị của tỉnh Quảng Đông thôi. Chẳng trách UV BCT Nguyễn Thiện Nhân cũng chỉ ở tầm nhảy múa với tỉnh Quảng Tây, thế cũng vinh dự chán! Hề hề, trước đây học sách thấy hai chữ "khuyển mã", giờ mới hiểu nghĩa. Bình luận thêm nữa là thừa.

Tin thứ hai, một cán bộ khá cao cấp cho biết tinh thần chống xâm lược mới nhất của Trung ương cần được quán triệt là :

Một: Tận dụng mọi phương tiện truyền thông, mọi diễn đàn để tố cáo China, NHƯNG DỨT KHOÁT KHÔNG KIỆN.

Hai: Xác định Mỹ vẫn là kẻ thù lâu dài (của đảng) vì đi với Mỹ thì mất chế độ.

Ba: ĐẢNG RẤT THƯƠNG DÂN, có chiến tranh thì nhân dân sẽ khổ, nên đảng phải nhịn Trung Quốc hết mức, không để xảy ra chiến tranh tránh khổ cho dân.

Tuy đây chỉ là thông tin từ thư của bạn bè, nhưng đối chiếu với thực tế và theo kinh nghiệm cho biết những tin tức này là đáng tin cậy, một đảng viên tử tế không thể bịa ra những tin đang phổ biến trong đảng như thế này. Tin tức này gợi ra một số vấn đề mà tôi thường nghĩ tới nhưng chưa có dịp viết ra, xin đề cập đến ở phần sau.

(còn tiếp)

H.S.P. ngày 1-7-2014

Tác giả gửi BVN.

Thứ Ba, 1 tháng 7, 2014

Nguyễn Tường Thụy : Người con gái kiên cường và người mẹ can đảm

Nguồn RFA

Nguyễn Tưởng Thụy, viết từ Hà Nội 2014-06-30

Chị Đỗ thị Minh Hạnh
Chị Đỗ thị Minh Hạnh
Photo danlambao

Đỗ Thị Minh Hạnh

Chiều nay, 27/6/2014, thông tin về Đỗ Thị Minh Hạnh ra tù trước thời hạn làm náo nức những người yêu nước. Trên mạng xã hội facebook, mọi người hân hoan chia sẻ niềm vui này. Niềm hân hoan chẳng khác nào khi Nguyễn Phương Uyên ra khỏi nhà tù ở Long An. Nhà báo Phạm Chí Dũng gọi Hạnh là "cánh chim báo bão" ("Cánh chim báo bão đã sải cánh tự do"  http://bolapquechoa.blogspot.com/2014/06/canh-chim-bao-bao-sai-canh-tu-do.html).

Cách đây vài tuần cũng có thông tin là Hạnh được trả tự do nhưng chưa phải. Những người tiếp nhận thông tin này thể hiện thái độ dè dặt. Thông tin đưa ra hơi sớm nhưng có cơ sở. Có lẽ vì thế, cho đến cuối ngày hôm nay, vẫn còn có người dè dặt.

Đỗ Thị Minh Hạnh bị bắt vào ngày 23/02/2010 tại Di linh-Lâm Đồng.

Hạnh bị truy tố bởi tội danh "phá rối an ninh trật tự nhằm chống lại chính quyền nhân dân" theo Điều 89 Bộ Luật Hình sự. Trong phiên tòa ngày 27/10/2010, cô bị đưa ra xử cùng với Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng. Cả ba nhà hoạt động còn rất trẻ này đều bị kết án nặng nề: Nguyễn Hoàng Quốc Hùng 9 năm tù giam, Đỗ Thị Minh Hạnh và Đoàn Huy Chương, mỗi người 7 năm tù giam.

Hạnh từ chối luật sư. Cô xác nhận tất cả hành vi mình làm nhưng không cho đó là tội.

"Tội" của Hạnh là tổ chức cho hơn 1000 công công ty TNHH giày da Mỹ Phong tại tỉnh Trà Vinh đình công. Điều cần lưu ý là công ty này lại là công ty của Trung Quốc.

Hạnh bị đánh đập nhiều lần nhưng không bao giờ nhận tội. Quản giáo trại giam nói với gia đình Hạnh, con này nó bướng lắm, nó không chấp hành nội qui của trại.

Cô bị chuyển qua nhiều trại giam, cuối cùng, ngày 2/10/2013, cô bị chuyển ra trại giam Thanh Xuân (huyện Thanh Oai, Hà Nội).

Do những cống hiến của mình, Đỗ Thị Minh Hạnh đã được giải Quốc tế Nhân quyền năm 2011 cùng với Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ.

Như vậy, Hạnh đã bị giam 4 năm, 4 tháng, ra tù trước hạn 2 năm 8 tháng. Việc Hạnh ra tù là vô điều kiện và chắc hẳn không phải do "chính sách nhân đạo" của nhà nước cộng sản Việt nam.

Đây là kết quả vận động quốc tế với sự tham gia của nhiều tổ chức, chính giới các nước đặc biệt là sự nỗ lực không biết mệt mỏi của Bà Trần Thị Ngọc Minh, mẹ của Đỗ Thị Minh Hạnh. Bà đã vượt biên giới đi khắp nơi kêu cứu cho con khi mọi cố gắng trong nước không đạt kết quả. Bà có mặt ở Đức, Áo, Mỹ, Canada, Austrlia.

Ngày 16/1/2014, Bà tham gia buổi điều trần về tù nhân lương tâm trên thế giới diễn ra trước Ủy Ban Nhân Quyền Tom Lantos tổ chức tại phòng HVC 210 trong Trung tâm tiếp khách của Quốc Hội Hoa Kỳ.

Trong quá trình vận động quốc tế, Bà Trần Thị Ngọc Minh không chỉ kêu cứu cho con bà. Bà nói:

"Tôi đến đây, đề nghị với các chính giới và quốc hội Hoa Kỳ can thiệp với nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam trả tự do cho con tôi. Không những trả tự do cho con tôi mà còn phải trả tư do cho tất cả tù nhân lương tâm khác tại Việt Nam bởi vì họ là những người yêu nước, những người không có tội với tổ quốc, nhưng nhà cầm quyền Việt Nam đã bắt giam và hành hạ, đánh đập con tôi ở trong tù rất tàn nhẫn. Tôi xin đến đây mong quí vị ở chính giới Hoa Kỳ cứu giúp con tôi cùng hai người bạn là Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đoàn Huy Chương, cùng hoạt động giúp đỡ những người dân oan, những người công nhân bị áp bức, bị bóc lột. Đáng lý ra nhà nước cộng sản phải trân trọng thì lại bắt ba bạn trẻ này, đánh đập, bỏ tù và hành hạ trong nhà tù."

Bà Trần Thị Ngọc Minh điều trần trước Ủy hội Nhân quyền Tom Lantos tại Quốc hội Hoa Kỳ
Bà Trần Thị Ngọc Minh điều trần trước Ủy hội Nhân quyền Tom Lantos tại Quốc hội Hoa Kỳ

Tại Đức, Bà Trần Thị Ngọc Minh đã có cuộc gặp với Ủy Ban Nhân quyền Quốc hội Liên bang Đức vào ngày 8.4.2014. Ngày hôm sau, Bà đến gặp Đặc ủy viên Nhân quyền Liên bang Đức. Trong dịp này bà đã đến trao đổi với văn phòng nữ dân biểu Sabine Bätzing-Lichtenthäler là người đỡ đầu cho Đỗ Thị Minh Hạnh.

Tại Canada, ngày 3/5/2014, bà Minh đã có buổi nói chuyện với 200 đồng hương tại thành phố Toronto. Buổi nói chuyện vô cùng cảm động. Bà nghẹn ngào, nước mắt giàn giụa. Những người tham dự xúc động mạnh mẽ, cũng không cầm nổi những giọt nước mắt lã chã, xa xót cho những đứa con ưu tú của dân tộc vì đấu tranh mà bị cầm tù, đày ải.

Clip bà Minh nói chuyện tại Toronto Mời xem tại đây:

https://www.youtube.com/watch?v=HX8V4JYZwB8

Và tại đây:

https://www.youtube.com/watch?v=DeGHV9PwXwI

Tại Úc, Bà Minh đã tiếp xúc với đồng bào gốc Việt tại 5 thành phố Brisbane, Sydney, Melbourne, Adlaide và Perth. Đặc biệt tại Sydney và Melbourne bà được phát biểu trước hàng ngàn đồng bào.

Một cuộc Hội thảo tại Quốc Hội Liên Bang - Canberra với sự hiện diện của 14 dân biểu nghị sĩ liên bang đã được tổ chức. Chính giới Úc vận động Bộ Ngọai Giao quan tâm đến trường hợp của Đỗ Thị Minh Hạnh và các tù nhân lương tâm tại Việt Nam.

Một cuộc Thảo luận khác về Nhân Quyền cũng được tổ chức tại Quốc Hội Tiểu Bang Victoria - Melbourne với 7 dân biểu tiểu bang tham dự. Các dân biểu này đã phổ biến một lá thư kêu gọi nhà cầm quyền VN trả tự do cho Đỗ Thị Minh Hạnh.

Sự cố gắng không mệt mỏi của Bà Trần Thị Ngọc Minh đã thu hút được chú ý, quan tâm của công luận, của nhiều tổ chức, chính giới các nước. Tại hội nghị Asean ở Brunei, Ngoại trưởng Úc Bob Carr đã yêu cầu Việt Nam trả tự do cho Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đoàn Huy Chương. Ông nói: "Chúng tôi đặt nặng tầm quan trọng cho việc bảo vệ quyền tự do lập hội và tự do thành lập công đoàn.", "Tôi đã yêu cầu Việt Nam thả những người này".

Được biết, Bà Minh được chính phủ Ba Lan cấp Visa tị nạn chính trị tạm thời 2 năm. Nói chuyện với Bà qua skype, tôi hỏi: "Chị có tính đến khi trở về VN, chị sẽ gặp rắc rối thậm chí nguy hiểm không? Bà bảo có chứ, nhưng nhất định tôi sẽ về.

Sự cố gắng không mệt mỏi xuất phát từ tình mẫu tử của Bà Trần Thị Ngọc Minh đã không uổng phí. Sứ mạng của Bà trong chuyến đi vận động quốc tế này về cơ bản đã hoàn thành. Nhưng còn biết bao tù nhân lương tâm hiện nay đang bị tù đày ở các trại giam trong điều kiện rất khắc nghiệt.

Không chỉ Đỗ Thị Minh Hạnh mà tất cả tù nhân lương tâm khác phải được trả tự do. Cuộc đấu tranh vì Tự do, Dân chủ, nhân quyền, vì tương lai tươi sáng của Đất nước, Dân tộc còn nhiều gian nan lắm.

Hà Nội, 28/6/2014

Nguyễn Tường Thụy

VRNs. Đỗ Thị Minh Hạnh: Tôi may mắn khi được ở tù

Nguồn chuacuuthe
ĐĂNG NGÀY: 01.07.2014 , MỤC: - TIN NỔI BẬTPHÓNG SỰ

VRNs (01.07.2014) – Sài Gòn – Cô Đỗ Thị Minh Hạnh đã được thả tự do cách đây hai ngày, vào lúc 18 giờ tối ngày 28.06.2014. Chia sẻ niềm vui với Truyền thông Chúa Cứu Thế cô Minh Hạnh quả quyết cô sẽ không bao giờ từ bỏ con đường cô đã chọn và cô cảm thấy may mắn khi cô được đi tù.

Cô Minh Hạnh chia sẻ niềm vui: "Minh Hạnh cảm thấy vui, phấn khởi trong lòng, cũng như được gặp gỡ gia đình, các anh chị em và các chiến hữu đã từng cộng tác với Minh Hạnh trong thời gian tôi chưa bị bắt. Cảm xúc rất là nhiều được pha trộn với niềm vui, nỗi buồn, nỗi đau thương và niềm hạnh phúc. Hạnh phúc vì được nhìn thấy ba với mẹ, anh em, những người chiến hữu và kể cả những người mà tôi chưa bao giờ từng gặp – nhưng là những người đấu tranh một cách ngoan cường. Và hiện nay, được nhìn thấy tầng lớp trẻ đấu tranh một cách mạnh mẽ và ngoan cường hơn. Bên cạnh đó, còn có những nỗi khuất tất trong lòng, đó là nỗi đau khi suy nghĩ về hai người bạn của tôi vẫn còn chịu cảnh tù đày. Đặc biệt là chị Mai Thị Dung đang phải chịu cơn đau bệnh tật, không đi được, phải dìu đi và cần người chăm sóc cho việc đi vệ sinh… và đang yếu dần trong nhà tù. Đó là điều Minh Hạnh cảm thấy và mong sao một ngày nào đó họ sẽ được như Minh Hạnh."

Sau khi cô Minh Hạnh được thả tự do, thì ngay sau đó, những người yêu mến cô đã đến tận tư gia ở huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng đến chia vui với cô và gia đình. Điều này làm cho cô rất ngạc nhiên và xúc động:

"Minh Hạnh rất bất ngờ. Trong đầu tôi nghĩ, lúc về nhà sẽ được gặp ba mẹ, chứ không được gặp nhiều người như vậy. Thật sự, đây là một sự thay đổi quá lớn mà tôi chưa bao giờ thấy trong thời gian trước khi tôi vào tù. Bạn bè có thể đến thăm như thế này, nhưng trước đây không bao giờ có được, vì muốn thăm các nhà đấu tranh dân chủ thì vô cùng khó khăn. Mà hôm nay, tôi hạnh phúc quá, có nghĩa là đất nước mình đang dần dần tiến lên, đang dần dần thay đổi để có bộ mặt xã hội tốt đẹp hơn, và có nhiều thanh niên hơn để đấu tranh chống lại cái ác. Đây là điều tôi cảm thấy vô cùng vô cùng vui mừng. Chính điều này làm cho tôi có một động lực vô cùng mạnh. Đặc biệt là có sự xuất hiện của hai bạn trẻ tên là Dung và Tuấn – là những giới trẻ đã đến thăm tôi. Trước đây, tôi chưa biết hai em, nhưng khi tôi gặp hai em thì hai em đã truyền cho tôi một sức mạnh vô cùng lớn. Từ lý luận và tinh thần của hai em làm cho tôi cảm thấy tự hào vô cùng về giới trẻ VN hiện nay. Thực sự không biết nói thế nào, nhưng hai em đã làm cho tôi cảm thấy cảm động và vững tin, rồi đây đất nước mình sẽ thay đổi và tôi sẽ ngoan cường, mạnh mẽ hơn trên con đường tôi đã lựa chọn."

Trong suốt thời gian bị giam cầm, cô Minh Hạnh nhấn mạnh về việc các quản giáo và cán bộ trại giam luôn sử dụng các chiêu trò "tù trị tù", "tù đánh tù", "tù xử tù" để đánh đập cô. Cô Minh Hạnh khẳng định:

140701001

"Thực sự nói về vấn đề này thì rất là nhiều. Mất rất nhiều thời gian để kể. Nhưng tôi có thể tóm lược lại là, tôi đã bị nhà cầm quyền cs VN sử dụng biện pháp "tù trị tù", "tù đánh tù", "tù xử tù" và tôi đã phải chịu những trận đánh hội đồng của những chị em tù nhân do bị kích động từ phía cán bộ. Còn chi tiết như thế nào, thì chắc chắn tôi, sẽ phơi bày sự thật trước công luận để cho các anh chị em biết bộ mặt thật của họ như thế nào.

Tôi là một người thân cô thế cô, thân hình nhỏ nhắn nữa… thì làm sao mà tôi có thể chống lại một lực lượng đông người đánh tôi như vậy, tuy nhiên sức mạnh tinh thần sẽ vượt qua tất cả. Tôi vẫn đứng hiên ngang đứng trước đám đông đó, những con người tàn ác đó và la to lên… [tôi] cảm thấy xấu hổ, nhục nhã vì những hành động đê hèn và bỉ ổi nhất mà cộng sản đã sử dụng để đối đãi với một con người chân yếu tay mềm như tôi. Tôi đã hét lên đả đảo cs vì những gì họ làm với tôi, tôi cảm thấy kinh tởm với cách hành xử của họ đối với tôi. Tôi là một nhân chứng sống. Không chỉ riêng tôi đâu, sau này, tôi sẽ kể một vài trường hợp khác mà còn kinh khủng hơn cả tôi nữa."

Dù bị ngược đãi, bị đối xử bất công trong trại giam nhưng Cô Minh Hạnh vẫn cảm thấy may mắn khi được ở tù vì nơi đó đã tôi luyện cô thành một con người kiên cường và mạnh mẽ hơn. Cô Minh Hạnh bày tỏ:

"Tôi muốn truyền đạt lại với giới trẻ rằng, nếu các em muốn đấu tranh thì các em không nên sợ tù đày. Khi cuộc đời tôi bước vào nhà tù thì tôi cảm thấy tôi được may mắn khi được ở tù. Tại sao? Bởi vì khi đó mình sẽ thấy rõ bộ mặt thật của họ hơn, và càng hiểu rõ mình còn thiếu sót những cái gì, mình đã đánh mất những cái gì, mình đã bỏ lỡ những cái gì và mình sẽ không để điều đó sẽ xảy ra khi mình ra khỏi nhà tù. Trong cuộc sống [của trại giam] tôi học được tính kiên cường, mạnh mẽ nhiều hơn, làm cho con người cảm thấy quật cường nhiều hơn. Bên cạnh đó, tôi cũng cảm thấy rất là sợ? Sợ, tại sao? Bởi vì, ở trong trại giam quá lâu thì sợ mình sẽ ngu dốt do thiếu kiến thức về xã hội, cũng như tôi hoàn toàn không có những thông tin bên ngoài. Tôi không được mang những cuốn sách để đọc hay những cuốn tập, viết vào trại giam Xuân Lộc nên tôi không được học hành ở đó – mà tôi rất khao khát được học. Tuy nhiên ở trại giam Thủ Đức và Thanh Xuân thì tôi tìm được một số cuốn sách và tự học trong nhà tù."

Cô Minh Hạnh hy vọng vào giới trẻ sẽ thay đổi vận mệnh đất nước và cô quả quyết cô sẽ không bao giờ từ bỏ con đường cô đã chọn:

"Tôi chỉ biết cám ơn các tổ chức, các đoàn thể, các cơ quan ngôn luận, cá nhân trong và ngoài nước, cũng như các chính phủ đã luôn luôn sát cánh ủng hộ tôi trong suốt thời gian qua. Tôi vừa mới ra khỏi trại giam, nên còn nhiều cái sơ xót, tôi mong rằng tất cả các quý vị thông cảm và hiểu cho tôi. Tôi sẽ cố gắng sắp xếp để có những cuộc trình bày về vấn nạn trong tù cs như thế nào. Tôi hy vọng rằng, giới trẻ VN càng lúc càng đông đảo hơn để đấu tranh cho dân tộc VN. Sức mạnh tinh thần càng lúc càng phát triển và vững mạnh hơn. Hy vọng đất nước VN sớm có một ngày tương lai thật sự sáng chói và ánh sáng chiếu trên quê hương đất nước chúng ta. Và, tất nhiên, con đường tôi đã lựa chọn thì sẽ không bao giờ thay đổi cho đến hơi thở cuối cùng."

Về tình hình sức khỏe, cô Minh Hạnh cho biết:

"Hiện nay, tôi rất là mệt, do đi một chuyến đường xa và tôi bị say xe. Công an áp tải tôi về tận nhà bằng ô tô. Trong mấy ngày vừa qua, tôi ngủ rất ít… Hiện tại, gia đình tôi rất lo lắng cho bệnh tình của tôi khi tôi có hai cái nang ở ngực. Trước đây, chỉ có một cái nhưng đi khám lần hai thì xuất hiện thêm một cái nữa. Theo bác sĩ ở bệnh viện Hà Đông Hà Nội cho biết, hai cái nang này còn nhỏ, nằm trên dây thần kinh gây ra đau rát chứ không gây ra ung thư, cho nên họ nói tôi cứ yên tâm. Tôi chỉ nghe bác sĩ nói vậy thôi nhưng tình trạng đau rát vẫn diễn ra. Gia đình tôi có nói rằng, bây giờ, phải đi kiểm tra, vì gia đình lo lắng tôi có bị ung thư ngực hay không. Tôi hy vọng tôi không bị ung thư và đúng như những gì bác sỹ ở bệnh viện Hà Đông đã khám. Vài ngày nữa, gia đình sẽ đưa tôi đi khám bệnh. Nếu những cái nang đó không gây ra ung thư thì đó là một niềm vui vô cùng lớn đối với tôi. Còn nếu có một bệnh lý gì đó thì mình sẽ kịp thời chữa trị."

Cô Đỗ Thị Minh Hạnh cùng với hai người bạn của cô là Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đoàn Huy Chương đã tranh đấu cho quyền lao động của công nhân, giúp các công nhân tổ chức đình công. Tổ chức Lao Động Việt ghi nhận: "Ngày 28-30.01.2010, có 10.000 công nhân công ty giày Mỹ Phong đình công để chống bóc lột và phản đối đốc công người Hoa lăng mạ các nữ công nhân Việt.

Tháng 02.2010, Chương-Hùng-Hạnh bị bắt. Vào tháng 03.2011, Cô Minh Hạnh bị kết án 7 năm tù giam với tội danh "phá rối an ninh trật tự nhằm chống lại chính quyền nhân dân" theo điều 89 Bộ Luật Hình Sự của Việt Nam. Còn bạn cô là Huy Chương bị tuyên án 7 năm tù giam và Quốc Hùng bị tuyên 9 năm tù giam.

Được biết, Bộ công an đã áp giải cô Đỗ Thị Minh Hạnh từ nhà tù Thanh Xuân (Hà Nội) đi vào khuya hôm 26.06. Xe công an chở cô Minh Hạnh về đến Lâm Đồng vào chiều ngày 28.06. Tại nhà ông Tỵ, công an lập biên bản yêu cầu gia đình xác nhận rằng Đỗ Thị Minh Hạnh vẫn khỏe mạnh, tuy nhiên gia đình cô đã từ chối ký tên vào biên bản này.

Tổ chức bảo vệ nhân quyền cho biết, hai đồng nghiệp khác của cô Hạnh là Đoàn Huy Chương và Nguyễn Đoàn Quốc Hưng vẫn chưa được trả tự do, và do vậy nỗ lực đấu tranh của các tổ chức nhân quyền quốc tế và quốc nội tuy đã có kết quả, nhưng không thể dừng lại ở đây. Ngoài những người bị giam giữ vì hoạt động cho công nhân, còn có rất nhiều người dân Việt Nam bị kết án bởi những điều luật vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế.

Huyền Trang, VRNs

Bản chụp công văn số 1832/BNG-ĐBA ngày 03 tháng 6 năm 2014 của Bộ Ngoại giao

Nguồn boxitvn

01/07/2014

Ngày 29/6/2014, trang mạng Diễn Đàn công bố công văn số 1832/BNG-ĐBA của Bộ Ngoại giao (xem ở đây). Để bảo vệ nguồn tin, Diễn Đàn buộc phải cắt một phần nội dung công văn. Điều đó khiến một số người, do cẩn thận, hoài nghi tính xác thực của văn bản. Nay Bauxite Việt Nam xin công bố toàn vẹn văn bản công văn nói trên, do một bạn đọc cung cấp. Văn bản này cho thấy quả thực phần mà Diễn Đàn đã cắt thực ra không quan trọng, không làm tổn hại đến nội dung của công văn.

clip_image002

Trong tình hình giàn khoan Hải Dương 981 còn ngang nhiên hạ đặt trên vùng biển Việt Nam, công văn của Bộ Ngoại giao Việt Nam có thể khiến cho quốc dân đồng bào nghĩ ánh mắt rực lửa của Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh khi tiếp Dương Khiết Trì chẳng qua là trò diễn. Mà nếu ai đó vẫn còn tin tưởng Việt Nam sẽ "xoay trục" sau sự kiện giàn khoan Hải Dương 981, mà ngờ rằng công văn này là ngụy tạo, thì sẽ nghĩ sao đây khi tờ Xây dựng Đảng thản nhiên đăng tin Ban Tổ chức Trung ương Đảng cử đoàn cán bộ "đi nghiên cứu, khảo sát kinh nghiệm công tác xây dựng đảng tại Trung Quốc" (xem ở đây), y như giữa hai nước chưa hề có gì nghiêm trọng đang xảy ra. Hay đó là một cử chỉ cho nước "bạn" biết câu thề thốt của Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Nguyễn Văn Thơ rằng thì là "Việt Nam không hai lòng trong quan hệ với Trung Quốc" (xem ở đây) là quyết tâm của cả bộ máy chính trị, và Việt Nam thực sự đã đáp ứng lời kêu gọi tha thiết "lãng tử hồi đầu" của một Trung Quốc cùng ý thức hệ?!

Bauxite Việt Nam

clip_image004

clip_image006

clip_image008