Thứ Sáu, 4 tháng 7, 2014

Tuyên bố thành lập Hội Nhà báo độc lập Việt Nam

Nguồn anhbasam


 04/07/2014

H5Sài Gòn ngày 4 tháng 7 năm 2014

Tuyên bố thành lập Hội Nhà báo độc lập Việt Nam

Làm thế nào để báo chí và các nhà báo cất được tiếng nói theo đúng nghĩa của hai từ "tự do"? Làm thế nào để báo chí được làm đúng thiên chức của mình, phản biện và xây dựng một xã hội công bằng, một đất nước thật sự độc lập tự chủ, không cúi đầu hoặc run sợ trước hiểm họa ngoại xâm đang quá cận kề?

H3

Đã đến lúc báo chí và các nhà báo Việt Nam cần có tư cách độc lập để trả lời những câu hỏi trên. Tuân theo kinh nghiệm của mọi xã hội dân sự tiến bộ nhất trên thế giới, một trong những giải pháp cần phải có là Hội Nhà báo độc lập Việt Nam.

1* Quan điểm thành lập:

- Hội Nhà báo độc lập Việt Nam (tiếng Anh: Independent Journalists Association of Vietnam – IJAVN) là tổ chức xã hội dân sự nằm trong xã hội dân sự Việt Nam, vì một Việt Nam tiến bộ xã hội, dân chủ và đa nguyên, văn minh và giàu mạnh.

- Hội Nhà báo độc lập Việt Nam hoạt động trên cơ sở:

+ Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên Hiệp Quốc mà Việt Nam là một thành viên có nghĩa vụ tuân thủ.

+ Các quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do lập hội được minh định trong Hiến pháp Việt Nam.

- Thông qua hoạt động báo chí, Hội Nhà báo độc lập Việt Nam hoạt động theo nguyên tắc ôn hòa, bất bạo động; tôn trọng đa nguyên chính trị; phi lợi nhuận; hướng đến mục tiêu cổ súy cho tự do của người dân và dân chủ cho toàn xã hội, đóng góp ý kiến phản biện dưới dạng các tác phẩm báo chí và diễn đàn ngôn luận cho xã hội và đất nước.

- Hội Nhà báo độc lập Việt Nam hướng đến mục tiêu xây dựng môi trường sinh hoạt trí tuệ và lành mạnh cho các hội viên và những người yêu thích nghề báo, đặc biệt là những người trẻ, nhằm thực hiện quyền tự do biểu đạt và tự do báo chí.

- Hội Nhà báo độc lập Việt Nam gồm những người có quá trình hoạt động báo chí không phân biệt quan điểm chính trị, tôn giáo, giới tính, độ tuổi; không phân biệt người trong nước và ngoài nước; tự nguyện dấn thân vì tự do báo chí, vì một nền dân chủ thật sự, vì tiến bộ xã hội và hạnh phúc người dân.

- Hội Nhà báo độc lập Việt Nam độc lập về quan điểm, nhân sự, tài chính…

2* Mục đích thành lập:

- Phản ánh trung thực và sâu sắc những vấn đề nóng bỏng của xã hội và đất nước.

- Phản biện đối với những chính sách bất hợp lý của nhà nước liên quan đến quản lý xã hội và tự do báo chí.

- Tổ chức trao đổi, đối thoại với các cấp chính quyền về tự do báo chí và quản lý xã hội khi có điều kiện, đồng thuận với những chính sách, giải pháp hợp lòng dân và có lợi cho đất nước.

- Hỗ trợ về tinh thần và vật chất, hoạt động tương thân tương ái giữa các hội viên.

- Lên tiếng và có hành động cần thiết để bảo vệ những người làm báo vì tiến bộ xã hội, nhưng bị sách nhiễu, bắt bớ, tù đày, khủng bố… Đấu tranh yêu cầu Nhà nước Việt Nam hủy bỏ những điều luật mơ hồ của Bộ luật hình sự được dùng để áp chế tự do báo chí như Điều 258, 88…

- Thu hút và đào tạo cây viết trẻ nhằm đóng góp cho nền báo chí chuyên nghiệp Việt Nam trong tương lai.

- Thu hút và tạo môi trường sinh hoạt cho các nhà báo và cộng tác viên báo chí, không phân biệt báo nhà nước hay truyền thông xã hội.

3* Những nội dung hoạt động chính:

- Sinh hoạt định kỳ và đột xuất về thông tin thời sự. Trao đổi về phương hướng và chủ đề viết.

- Tổ chức tọa đàm, hội thảo về một số chủ đề quan trọng của xã hội và đất nước.

- Xây dựng lực lượng làm báo trẻ để tạo lớp kế thừa cho lớp nhà báo lớn tuổi.

- Lên tiếng kịp thời về những trường hợp người dân và nhà báo bị xâm hại.

- Chuyển tải những vấn đề nóng bỏng và cấp thiết của đất nước, xã hội ra hệ thống truyền thông quốc tế.

- Liên kết và hợp tác với những tổ chức chính phủ và phi chính phủ quốc tế về báo chí.

- Vận hành một trang báo mạng dành cho các nhà báo và cộng tác viên.

4* Cơ cấu tổ chức:

Hội Nhà báo độc lập Việt Nam có Ban lãnh đạo gồm chủ tịch và một số phó chủ tịch, ủy viên. Ban lãnh đạo được phân công điều hành theo các công việc và theo khu vực.

H4Ban lãnh đạo:

- Chủ tịch: Nhà báo Phạm Chí Dũng.

Phụ trách chung các hoạt động của Hội. Email: phamchidungsg@gmail.com

- Phó chủ tịch thường trực: Nhà báo, linh mục Anton Lê Ngọc Thanh.

Phụ trách khu vực miền Nam và trang báo của Hội. Email: naygum@gmail.com

- Phó chủ tịch: Nhà báo Nguyễn Tường Thụy.

Phụ trách khu vực miền Bắc. Email: tuongthuy52@gmail.com

- Phó chủ tịch: Nhà báo Bùi Minh Quốc.

Phụ trách khu vực miền Trung. Email: bmquoc40@gmail.com

- Ủy viên: Nhà báo Ngô Nhật Đăng.

Trị sự hai trang báo: Việt Nam Thời Báo và Vietnam Times Email: dangngonhat@gmail.com hoặc vietnamtimes00@gmail.com

Cơ cấu ban:

Hội Nhà báo độc lập Việt Nam có một số ban chuyên môn và trang báo là cơ quan ngôn luận của Hội.

Hội Nhà báo độc lập Việt Nam mời gọi những người làm báo có tâm nguyện với dân tộc tham gia vào Hội, chung sức làm mọi việc có ích cho quê hương.

Mọi liên hệ, ghi tên tham gia và ủng hộ Hội Nhà báo độc lập Việt Nam xin gửi về các địa chỉ email: hoinhabaodoclapvietnam@gmail.com

Ban lãnh đạo Hội Nhà báo độc lập Việt Nam

- Phạm Chí Dũng

- Anton Lê Ngọc Thanh

- Nguyễn Tường Thụy

- Bùi Minh Quốc

- Ngô Nhật Đăng.

 


Điều lệ hoạt động của Hội Nhà báo độc lập Việt Nam

1* Quan điểm:

Hội Nhà báo độc lập Việt Nam (tiếng Anh: The Independent Journalists Association of Vietnam – IJAVN) là tổ chức xã hội dân sự nằm trong xã hội dân sự Việt Nam, vì một Việt Nam tiến bộ xã hội, dân chủ và đa nguyên, văn minh và giàu mạnh.

Hội Nhà báo độc lập Việt Nam hướng đến mục tiêu xây dựng môi trường sinh hoạt trí tuệ và lành mạnh cho các hội viên, đặc biệt là những người viết trẻ, nhằm thể hiện quyền tự do biểu đạt và tự do báo chí.

Hội Nhà báo độc lập Việt Nam không phân biệt quan điểm chính trị, tôn giáo, giới tính, độ tuổi; không phân biệt người trong nước và ngoài nước; tự nguyện dấn thân vì tự do báo chí, vì một nền dân chủ thật sự, vì hạnh phúc của nhân dân.

2* Những nội dung hoạt động chính:

- Sinh hoạt định kỳ và đột xuất về thông tin thời sự. Trao đổi về phương hướng và chủ đề viết.

- Tổ chức tọa đàm, hội thảo về một số chủ đề quan trọng của xã hội và đất nước.

- Xây dựng lực lượng viết báo trẻ để tạo lớp kế thừa cho lớp nhà báo lớn tuổi.

- Lên tiếng kịp thời về những trường hợp người dân và nhà báo bị xâm hại.

- Chuyển tải những vấn đề nóng bỏng và cấp thiết của đất nước, xã hội ra hệ thống truyền thông quốc tế.

- Liên kết và hợp tác với những tổ chức phi chính phủ quốc tế về báo chí.

- Vận hành một trang báo mạng dành cho các nhà báo và cộng tác viên độc lập.

3* Nguyên tắc sinh hoạt:

Hội Nhà báo độc lập Việt Nam được tổ chức dựa trên hiệu quả và tinh thần đồng đội, phát huy tối đa trách nhiệm của từng cá nhân để Hội thực sự đóng góp có hiệu quả cho xã hội mà không bị lệ thuộc vào tính hình thức.

Hội được tổ chức theo tinh thần dân chủ:

- Thông tin đầy đủ; thảo luận và biểu quyết tự do; ủy nhiệm công tác; kiểm soát và báo cáo công việc.

- Quyết định bằng đồng thuận hoặc qua biểu quyết của đa số.

Hội được tổ chức trong tinh thần tự nguyện chấp hành kỷ luật:

- Tôn trọng nhân phẩm và quyền tự do của mỗi thành viên.

- Tôn trọng quyết định của tập thể.

- Tôn trọng những thành viên được ủy nhiệm công tác.

- Thực hiện và báo cáo những công việc được giao.

Các quyết định được biểu quyết theo đa số thành viên hợp lệ.

4* Hội viên:

Hội viên phải là người có ít nhất 5 tác phẩm báo chí đã công bố phù hợp với tiêu chí của Hội.

Hội viên được bảo đảm quyền tự do phát biểu đối với mọi vấn đề của Hội.

Hội viên có thể tự quyết định ra khỏi Hội.

Hội viên có thể bị khai trừ vì vi phạm kỷ luật hay có hành động ngược lại tiêu chí của Hội.

5* Cơ cấu tổ chức:

Cơ quan điều hành cao nhất của Hội Nhà báo độc lập Việt Nam là Ban lãnh đạo, gồm chủ tịch và một số phó chủ tịch, ủy viên.

Ban lãnh đạo được phân công điều hành theo các công việc và theo khu vực.

Ban lãnh đạo thay mặt toàn thể thành viên ban hành quyết định và đôn đốc, giám sát việc thi hành.

Ban lãnh đạo biểu quyết mỗi khi thấy cần những qui định về cách thức sinh hoạt.

Nhiệm kỳ đầu của Ban lãnh đạo là 2 năm. Hết nhiệm kỳ đầu, các hội viên sẽ cùng quyết định cụ thể về các nhiệm kỳ kế tiếp.

Nhân sự và nhiệm vụ Ban lãnh đạo Hội và các ban chuyên môn, trang báo có thể được bố trí, điều chỉnh tùy yêu cầu tình hình và do Chủ tịch Hội quyết định.

Trong trường hợp vì lý do biến cố hoặc bất khả kháng mà Chủ tịch Hội không thể điều hành, Phó chủ tịch thường trực Hội sẽ đảm nhiệm công tác điều hành Hội. Nếu Phó chủ tịch thường trực Hội cũng không thể điều hành bởi lý do biến cố hoặc bất khả kháng, một Phó chủ tịch Hội sẽ được ủy nhiệm để điều hành công tác của Hội.

6* Các chi hội:

Trong giai đoạn đầu hoạt động, Hội Nhà báo độc lập Việt Nam có 4 chi hội:

- Miền Bắc

- Miền Trung

- Miền Nam

- Hải Ngoại

Văn phòng của Hội Nhà báo độc lập Việt Nam được đặt tại Sài Gòn.

7* Ban chuyên môn:

Trong giai đoạn đầu hoạt động, Hội có các ban chuyên môn:

- Văn phòng Hội

Người phụ trách: Chủ tịch, Phó chủ tịch thường trực, Chuyên viên

- Ban Sự kiện và Đào tạo

Người phụ trách: Một Phó chủ tịch và Chuyên viên

- Ban Quan hệ quốc tế

Người phụ trách: Một Phó chủ tịch hoặc Một Ủy viên và Chuyên viên

- Trang báo

Người phụ trách: Do chủ tịch bổ nhiệm sau khi tham khảo với toàn Ban lãnh đạo

Các ban chuyên môn có thể đón nhận sự hợp tác của mọi thành viên và thân hữu.

Nhân sự và nhiệm vụ các ban chuyên môn, trang báo có thể được bố trí, điều chỉnh tùy yêu cầu tình hình và do Chủ tịch Hội quyết định.

8* Tài chính:

Hội viên tự nguyện đóng góp.

Hội tiếp nhận đóng góp tài chính của các nhà hảo tâm trong nước và ngoài nước để sử dụng cho mục tiêu chung và các chương trình xã hội.

Danh sách hội viên ban đầu của Hội Nhà báo độc lập Việt Nam

(xếp theo a – b – c…)

1.   Tường An (Pháp)

2.   Vũ Thị Phương Anh (Sài Gòn)

3. Nguyễn Đình Ấm (Hà Nội)

4.   Nguyễn Vũ Bình (Hà Nội)

5.   Huỳnh Ngọc Chênh   (Sài Gòn)    

6.   Tiêu Dao Bảo Cự (Đà Lạt)

7.   Phạm Chí Dũng (Sài Gòn)

8.   Ngô Nhật Đăng (Sài Gòn)

9. Nguyễn Hoàng Đức (Hà Nội)  

10.   Trương Minh Đức (Bình Dương)    

11.   Nguyễn Thanh Giang (Hà Nội)

12. Chu Vĩnh Hải (Sài Gòn)      

13. Phạm Bá Hải (Sài Gòn)        

14. Phan Thanh Hải (Sài Gòn)          

15. Lê Hải (Đà Nẵng)

16. Vũ Sỹ Hoàng (Sài Gòn)        

17. Huỳnh Trọng Hiếu (Quảng Nam)

18. Vi Đức Hồi (Lạng Sơn)        

19. Lê Phú Khải (Sài Gòn)          

20. Mai Thái Lĩnh (Đà Lạt)

21. Hạ Đình Nguyên (Sài Gòn)

22. Kha Lương Ngãi (Sài Gòn)  

23. Hồ Ngọc Nhuận (Sài Gòn)  

24. Vũ Quốc Ngữ (Hà Nội)        

25. Hà Sĩ Phu (Đà Lạt)

26. Đỗ Trung Quân (Sài Gòn)

27. Bùi Minh Quốc (Đà Lạt)      

28. Nguyễn Quốc Thái (Sài Gòn)      

29. Lê Ngọc Thanh (Sài Gòn)    

30. Phạm Đình Trọng (Sài Gòn)

31. Phạm Thành (Hà Nội)  

32. Trần Quang Thành (Séc)

33. Nguyễn Văn Thạnh (Đà Nẵng)    

34. Châu Văn Thi         (Sài Gòn)      

35. Huỳnh Công Thuận (Sài Gòn)

36. Nguyễn Tường Thụy (Hà Nội)  

37. Nguyễn Trung Tôn (Thanh Hóa)

38. Nguyễn Khắc Toàn (Hà Nội)

39. Nguyễn Thị Huyền Trang (Sài Gòn)            

40. JB. Nguyễn Hữu Vinh (Hà Nội)

41. Huỳnh Thục Vy (Đắc Lắc)

42. Dương Thị Xuân (Hà Nội)          

Declaration to establish an Independent Journalists Association of Vietnam (IJAVN)

How would the Press and journalists raise their voices according to the true sense of the word "freedom"? How would the Press – once established – carry out its true God given role, critics and build a sustainable social justice for everyone, not bow or tremble before the danger of imminent foreign invasion?

It is therefore high time for the Vietnamese Press and its citizens-journalists to exercise their independent free will and answer these questions. Then to follow the experiment of the most progressive civil society in the world, thus one of the solutions commands us to establish anIndependent Vietnam Journalists Association.

The views regarding the Establishment:

- The Independent Journalists Association of Vietnam (IJAVN) should be one of the many civil society organizations in a socially progressive, democratic and pluralistic, civilized and prosperous Vietnam.

- The Independent Journalists Association of Vietnam will operate upon these premises:

+ The Universal Declaration of Human Rights and the International Covenant on Civil and Political Rights of the United Nations of which Vietnam is a member, therefore must comply with its obligations.

+ To follow the freedom of the press, freedom of speech, freedom of association – instituted in Vietnam constitution.

- Through the operation of the Press, the Vietnam Independent Press would operate as an initial non-profit organization, under the principle of peaceful non-violence; with respect for political pluralism, advocating freedom and democracy for all the people in society, and contribute critical rebukes, comments and articles in the national forum.

- The Independent Journalist Association of Vietnam aims to create an intellectual and healthy living environment for our members, especially young writers, in order to promote the freedom of expression and freedom of the press.

- The Independent Journalist Association of Vietnam is composed of those people have worked in journalism regardless of political views, religion, gender, age; irrespective of nationalities, regions, domestic or overseas; they voluntarily commit themselves to true democracy, people's progress and happiness.

- The Independent Journalists Association of Vietnam operates independently on opinion, personnel, and financial concern.

The Purposes for the Founding:

- To reflect honest, profound and burning societal and the national issues.

- To rebuke the irrational policies of the state concerning social management and freedom of the press.

- To host exchanges and dialogues with the authorities on press freedom and social management whenever possible. In some cases, we may agree with the State on a number of policies and measures deemed to be popular and beneficial for the people and the country.

- Support for physical, spiritual and active mutual assistance and solidarity between its members.

- Speak up and take action necessary to protect those writing for social progress, but have been harassed, arrested, imprisoned, terrorized… To fight and demands the government of Vietnam to rescind vague and unjust laws in the Criminal Code, used to oppress freedom of the press such as articles 258, 88.

- To attract and train young writers to contribute to Vietnam professional journalism in the future.

- Attract and create an environment for journalists and media contributors, irrespective of state-run newspapers or social media.

The contents of the main activities:

- Periodic and unscheduled news information and current affairs sessions. Discuss directions and writing topics.

- Organize seminars and workshops on topics of social and national importance.

- Developing a young journalist force to succeed the older journalists.

- Speak up promptly on the cases of people and journalists being abused.

- To transfer hot button issues of the country's urgent affairs to the international media system.

- To link and cooperate with non-governmental organizations in the international press.

- Operate an online media site for journalists and independent collaborators.

Organization Structure:

The leadership of the Independent Journalists Association of Vietnam includes the president and a number of vice president, organizing member. The leadership committee is assigned to take their responsible tasks and by region.

Board of Directors:

The President is journalist Pham Chi Dung in charge of general tasks. Email: phamchidungsg@gmail.com

Vice President of the Journalists Standing Committee is Father Le Ngoc Thanh in charge of South and website. Email: naygum@gmail.com

Vice President: Journalist Nguyen Tuong Thuy in charge of North. Email: tuongthuy52@gmail.com

Vice President: The journalist Bui Minh Quoc in charge of Central. Email: bmquoc40@gmail.com

Member: Journalist Ngo Nhat Dang in charge of two websites Viet Nam Thoi Bao and Vietnam Times. Email: dangngonhat@gmail.com

Committee Structure:

The Independent Journalists' Association of Vietnam has several professional boards and web pages (http://www.hoinhabaodoclap.org,http://ijavn.org) – the official organs of the Association.

The Independent Journalists Association of Vietnam invites journalists who care for the nation to participate in the Association along with supporters who'd like to join force with the Association and aspiring to be at least of minimal help for the homeland.

All contacts, enrollment and support for The Independent Journalists Association of Vietnam please email:

         hoinhabaodoclapvietnam@gmail.com

The Board of Directors of The Independent Journalists Association of Vietnam

- Phạm Chí Dũng

- Lê Ngọc Thanh

- Nguyễn Tường Thụy

- Bùi Minh Quốc

- Ngô Nhật Đăng

Sài Gòn, July 4, 2014

By-laws of The Independent Journalists Association of Vietnam

Viewpoints:

The Independent Journalists Association of Vietnam (IJAVN) should be one of the many civil society organizations in a socially progressive, democratic and pluralistic, civilized and prosperous Vietnam.

The Independent Journalists Association of Vietnam aims to create an intellectual and healthy living environment for our members, especially young writers, in order to promote the freedom of expression and freedom of the press.

The Independent Journalist Association of Vietnam does not discriminate about political views, religion, gender, age; and irrespective of nationalities, regions, domestic or overseas; these folks would voluntarily commit themselves to a true spirit of democracy, people's happiness and press freedom.

* Principal activities of the Association:

- Periodic and unscheduled news information and current affairs sessions. Share and discuss directions and writing topics.

- Organize seminars and workshops on topics of social and national importance.

- Developing a young journalist force to succeed the older-generation journalists.

- Speak up promptly on the cases of people and journalists being abused.

- To transfer hot-button issues of the country's urgent affairs to the international media system.

- To link and cooperate with non-governmental organizations in the international press.

- Operate an online media site for journalists and independent collaborators.

Activities' guiding principle:

The Independent Journalists Association of Vietnam is based on effective organization and teamwork, maximizing individual responsibility so that the Association can contribute to societal effectiveness without being dependent on formality.

Association is founded on democratic principles:

- Free flow of information; discuss and vote freely; delegate tasks; monitor and report on tasks.

- Decision by consensus or by majority votes.

Association is organized on the spirit of voluntarism and discipline:

- Respect for individual dignity and freedom of each member.

- Respect collective decisions.

- Respect members whose work are delegated.

- Execute and report on assigned work.

The decisions that are achieved through one-person-one-vote have the highest value. The majority is made up of more than half of the valid votes.

* Membership:

Members must have at least 5 published works appropriate with IJAVN's criteria.

Members are guaranteed the rights to freedom of expression in all matters concerning the Association.

Any member can decide to withdraw from the Association amicably.

A member may be expelled for disciplinary action for going against the Association's stated purposes.

Organizational Structure:

The highest executive organ of the Independent Journalists Association of Vietnam is the leadership committee, which includes the president and several vice presidents.

The leadership committee is delineated by task and by region.

On behalf of the membership, the leadership committee makes decisions, supervises and monitors program implementation.

The leadership will vote to set up rules and regulations for activities as needed.

The initial term the leadership committee is 2 years. The end of the initial term, members will make decision on next term.

Issues and matters regarding personnel, leadership and professional committees, and web pages can be arranged, adjusted depending on the situation and as requested by the President of the Association.

In the events of force majeure or reasons beyond his control, the president of the Association cannot perform his/her duties, the Standing Vice President will assume the administration of the Association. If the Standing Vice President also cannot run by reason outside his/her control or force majeure event, the Vice president shall be authorized to manage the work of the Association.

The chapters:

In the first stage of operation, the Independent Journalists Association of Vietnam has 3 chapters:

- North

- Central

- South

- Overseas

The headquarters of the Independent Journalists Association of Vietnam is in Saigon.

* Professional Committees:

In the first phase of operation, the Association initial will have these professional committees:

- The Association Office

Persons in charge: President, Permanent Vice President, expert.

Events and Training Department:

Persons in charge: Vice President and expert.

International Relations Department

Person in charge: Vice Persident, organizing member, expert.

Web Department:

Persons in charge: Appointed by President after reference with the board of directors.

The professional committee can enlist the cooperation of all members and friends.

Human Relations department and the duties of professional departments, web pages can be arranged and adjusted depending on the situation and as requested by the President of the decision.

* Finance:

Members voluntarily contribute.

The Association welcomes financial contributions from philanthropists in the country and abroad for use in its common goals and charitable programs.

Trần Văn Chánh : BÁO CHÍ VÀ TỰ DO

Post lại từ viet-studies

 

Bản chất của báo chí là phải được tự do. Suy cho cùng, nếu không được tự do, báo chí sẽ trở nên kém hữu ích, có hại, hoặc thậm chí mị dân. Trong trường hợp này, báo chí không giúp nâng cao trình độ dân trí đủ để người dân nhận thức sáng suốt những vấn đề cơ bản liên quan quyền lợi thiết thân cùng nghĩa vụ của họ, trong bất kỳ xã hội nào đặt nền tảng trên nguyên tắc người dân được quyền làm chủ.

     Thomas Jefferson (1743-1826), tổng thống thứ 3 của Hoa Kỳ, người được chọn để dự thảo bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776, đã từng phát biểu một câu rất nổi tiếng liên quan vai trò của báo chí trong đời sống quốc gia: "Nếu bắt tôi phải chọn lựa chúng ta nên có một nền chính quyền không báo chí hay có một nền báo chí không chính quyền thì tôi không hề do dự chọn lựa ngay cái thứ hai".

     Từ rất lâu, ở nhiều nước trên thế giới, báo chí thường được ví như "cơ quan quyền lực thứ tư" (đệ tứ quyền), nhân tố quyết định để có được một xã hội công bằng, giàu mạnh, và điều xác tín này hầu như không ai có thể nói khác được.

     Hơn nửa thế kỷ trước, trong bài báo 10 chính sách Việt Minh viết theo lối diễn ca, cựu chủ tịch nước Hồ Chí Minh đã từng nói:

     Hội hè, tín ngưỡng, báo chương,

     Họp hành, đi lại có quyền tự do.

     Như vậy, quyền tự do báo chí hẳn phải là mục tiêu của mọi cuộc vận động cách mạng để đạt được xã hội dân chủ. Cũng vì vậy mà Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam qua nhiều lần sửa đổi (với lần sau cùng thông qua ngày 28.11.2013, có hiệu lực từ 1.1.2014) trước sau vẫn khẳng định quyền tự do báo chí, ghi rõ tại điều 25: "Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định".

     Tính đến khi Luật báo chí sửa đổi, bổ sung của Việt Nam ra đời năm 1999 thì ở Điều 2, vấn đề quyền tự do ngôn luận/ báo chí lại một lần nữa được xác nhận rõ thêm: "Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình. Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ; không một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân. Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, phát sóng".

     Xét lịch sử báo chí trên toàn thế giới, người ta thấy hai chữ "tự do" luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt thể hiện trong hầu hết nếu không muốn nói tất cả các bộ luật báo chí khắp nơi và từ xưa đến giờ. Mác cũng nói đạo đức của báo chí là tự do, và quan niệm báo chí chính là sự thể hiện cái tinh thần, con mắt và trái tim của nhân dân.

     Luật báo chí năm 1881 của Pháp (áp dụng chung cho cả những nước thuộc Pháp, gồm cả Việt Nam) chỉ là một đạo luật quy định quyền tự do ngôn luận. Theo đúng truyền thống Cách mạng Pháp, các nhà lập pháp năm 1881 cho rằng: "Con người trung bình đủ lương tri để tự mình phân biệt chân ngụy giữa những mớ tin tức và bình luận trái ngược…".

     Tuy nhiên trên thực tế, giai cấp thống trị và một số nhà độc tài vẫn thường tìm cách hạn chế báo chí cách này cách khác với đủ mọi lý do. Bất cứ nhà độc tài nào cũng cho rằng chỉ có mình hoặc phe đảng mình mới thực sự nắm vững nguyện vọng của dân chúng và có sứ mạng thực hiện các nguyện vọng ấy theo kiểu riêng của họ; sự bền vững của chế độ là trọng, còn tự do của cá nhân thì không đáng kể. Nhà độc tài Mussolini (người Ý, 1883-1945) đã từng tuyên bố: "Báo chí là một bộ phận của chế độ và một sức mạnh để phục vụ chế độ" (la presse est un élément du régime et une force à son service).

     Kinh nghiệm thực tế ở mọi nước đều cho thấy báo chí luôn được tự do và cũng luôn bị hạn chế. Chẳng hạn một nước đang tuyên chiến với nước khác thì dù đang theo chính sách tự do cũng không thể để cho nhà báo trong nước tự do sách động dân chúng đi theo đối phương được. Đó là chính trị, cũng là đời thường, như một lẽ tự nhiên không có gì phải tranh cãi. Điều đáng nói là đôi khi trong thời bình, một số nhà chính trị độc tài cũng tìm cách hạn chế báo chí bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, mặc dù ngoài miệng họ vẫn luôn nói đến tự do và quyền lợi của công chúng. Thường khi đây lại là vấn đề có liên quan đến tầng lớp thống trị đặc quyền như Mác đã từng viết: "Vấn đề không phải là cần biết có quyền tự do báo chí hay không vì quyền này vẫn có. Vấn đề chính là cần biết quyền tự do báo chí là đặc quyền của một thiểu số cá nhân hay đặc quyền của con người".

     Trên cơ sở của quyền tự do ngôn luận, báo chí phải đồng thời giải quyết ổn thỏa hai mối quan hệ vừa đối với công chúng vừa đối với các nhà đương cuộc. Trong quan hệ thứ nhất, tự do báo chí còn là tự do của độc giả có quyền được biết tin tức đầy đủ và chính xác, do vậy nhà báo luôn bị một mối ràng buộc thuộc bản chất nghề nghiệp là không phải muốn dùng tờ báo của mình để loan tin gì cũng được, hoặc muốn nói gì thì nói. Trong quan hệ thứ hai (với chính quyền), vì bản chất nghề nghiệp là phải luôn bênh vực quyền lợi của công chúng, nhất là đối với tầng lớp lao động nghèo khổ bị áp bức, nhà báo luôn coi quyền lợi của nhân dân là luật pháp tối thượng hơn cả mọi luật pháp, và đôi khi còn phải có can đảm phê phán những luật lệ đương thời, hoặc chủ trương, chính sách, hành động sai trái của các nhà chức trách. Ở khắp mọi nơi và từ xưa đến giờ, chưa hề có một nhà báo nào được gọi tiến bộ và được công chúng tin cậy mà lại chỉ chuyên xu phụ tô điểm cho chính sách sai lầm của các nhà cầm quyền. Những nhà báo như vậy đâu đâu cũng bị đặt cho cái tên chung quen thuộc là "bồi bút", bị thiên hạ xem thường.

     Cũng có hạng nhà báo vì cuộc sống cá nhân hay vì nhiều loại lý do khác nữa sẵn sàng phục vụ cho các chính quyền mị dân bằng cách viết những bài báo mà mới xem qua thì có vẻ phê phán kịch liệt những sai trái của các nhà đương cuộc nhưng thực tế lại chỉ đụng đến những phần râu ria không thuộc bản chất của những vấn đề cần nghiên cứu giải quyết tận gốc rễ. Điều tai hại này khiến cho một bộ phận dân chúng ngây thơ hồn nhiên tưởng rằng tình trạng tiêu cực của các nhà chức trách sắp bị triệt tiêu rồi mà không dè làm như vậy chỉ là một cách thông hơi để giúp duy trì lâu hơn cho tình trạng bê bối tiêu cực. Nếu những nhà cách mạng cũng là nhà báo tiền phong tiền bối như Mác, Lênin, Hồ Chí Minh, Nguyễn An Ninh, Cù Thu Bạch, Lỗ Tấn… mà cũng làm báo kiểu đó thì các tầng lớp thống trị đương thời họ chắc chắn sẽ hoan nghênh họ hết sức, và họ cũng không thể góp phần tạo ra những tình huống cách mạng thuận lợi để đấu tranh cho những người cùng khổ.   

      Ngược lại, mọi chính quyền sáng suốt và vì dân luôn biết lợi dụng báo chí theo một chiều khác để phát hiện và sửa chữa những sai lầm của mình trên căn bản lý thuyết và đường lối, nhờ vậy vừa duy trì được lý tưởng của chế độ vừa tranh thủ được sự ủng hộ và tình cảm chân thực của mọi tầng lớp nhân dân. Lênin thường biết chú ý lắng nghe ý kiến của những người đối lập, thậm chí đọc cả các sách báo của kẻ thù viết về cuộc cách mạng ở tháng 10 Nga (năm 1917), và tự nhủ: "Những người này đã giúp đỡ chúng ta rất nhiều. Họ nhắc chúng ta chú ý đến tất cả những sai lầm và hành động ngốc nghếch mà chúng ta đã mắc phải. Chúng ta phải cám ơn họ" (Lênin, Về văn học nghệ thuật, NXB Văn Hóa Nghệ Thuật, Hà Nội, 1963, tr. 114).

     Đã hẳn quyền tự do báo chí là không thể chối cãi, nhưng cái cách thể hiện tự do thì trên thực tế còn tùy thuộc vào truyền thống dân chủ và hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mỗi nước. Ở nhiều nơi, quyền tự do báo chí đương nhiên được công nhận trên Hiến pháp, nhưng các viên chức có trách nhiệm thực thi trực tiếp thường không chỉ ra được chỗ giới hạn rõ rệt khiến các nhà báo dù có nghĩa khí đến đâu cũng không biết hành động viết lách ra sao cho phải, để vừa không bị chụp mũ ("phản động", "diễn biến hòa bình"…), vừa không có mặc cảm tội lỗi với công chúng mà vẫn phụ lực được cho các nhà chức trách trong công cuộc hợp tác xây dựng xứ sở. Để khắc phục tình trạng này, các điều khoản ghi trong luật báo chí cần phải rõ ràng minh bạch hơn nữa, tuyệt đối tránh những câu chữ mù mờ lưỡng nghĩa mà ai muốn giải thích và bắt chẹt ra sao cũng được. Có luật rõ ràng rồi, nếu ai làm trái luật thì cứ đem ra tòa xét xử.

     Tuy nhiên, liên hệ với tình trạng thực tế Việt Nam, cho mãi tới hiện nay, điều khó khăn nhất đối với một nhà báo vẫn là phải luôn suy lường, cảnh giác để xác định đâu là cái lằn ranh  hay "vùng cấm" vô hình buộc mình phải tự hạn chế, tự biên tập lấy bài trước khi bị ông tổng biên tập cắt xén vào những chỗ tâm đắc nhất, vì việc này ngoài kinh nghiệm thực tế ra, không có một quy chuẩn hay sách vở, luật lệ nào chỉ rõ. Riêng cái gọi "vùng cấm", hay thứ tương tự là những "vấn đề nhạy cảm", trước sau vẫn mờ mờ ảo ảo, như chuyện tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc, trước đây không ai bảo ai bị coi là vấn đề nhạy cảm, thậm chí vùng cấm, nay các nhà báo lại đồng loạt nói huỵch toẹt ra, bình luận đủ thứ. Giả định cứ để cho được tự do hơn, vấn đề có lẽ đã biến chuyển theo những hướng khác, thuận lợi cho phía Việt Nam hơn, vì dân phải "biết" thì mới "bàn" được, từ đó phát huy quyền làm chủ và tinh thần trách nhiệm, cùng nhau tính kế bảo vệ Tổ quốc.

     Một số người vì không muốn vướng vào những sự phức tạp tế nhị như thế đã tự động bỏ nghề, hoặc chuyển qua chỉ viết cho các báo mạng, để cố nói lên các sự thật. Đơn giản bởi vì nhà báo chân chính vốn không chỉ yêu sự thật mà còn phải ra sức bảo vệ sự thật nữa. Đây vừa là trách nhiệm vừa là lương tâm của người cầm bút, thể hiện một cách cụ thể trong quá trình viết lách, hoặc biên tập và quyết định bài vở của người khác, trên cơ sở lấy lợi ích của nhân dân làm cốt mà không hề khuất phục bất kỳ một thế lực nào. Nếu tính trung thực luôn gắn liền với lòng can đảm thì lương tâm và trách nhiệm cũng thế, không thể tách rời nhau được. Vì vậy, lời phát biểu sau đây của nhà báo Pháp nổi tiếng Jean Lacouture được trích dẫn từ bản tiếng Việt của tạp chí Người đưa tin UNESCO (tháng 9.1990, tr. 13) thật đáng để cho mọi nhà báo suy gẫm, nhân Ngày Nhà báo Việt Nam 21.6 năm nay: "Nhà báo là một sinh vật có một lương tâm mà không một ông trùm báo chí nào, không một hệ tư tưởng thống trị nào, không một sự đồng lõa với phe đảng nào khuất phục được hoàn toàn".

                                                                                                                             21.6.2014

       

NguồnVăn Hóa Phật Giáo, số 204 (1.7.2014)

Thứ Năm, 3 tháng 7, 2014

Hà Sĩ Phu : Trằn trọc tháng bảy (tiếp theo)

Nguồn boxitvn

03/07/2014

5. Kiện hay không kiện?

Có ba vấn đề khác nhau:

- Về đường lưỡi bò chiếm 80% Biển Đông thì Trung Quốc vô lý hoàn toàn, Việt Nam dứt khoát phải cùng với các nướcvừa kiện vừa có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn như liên kết với Hoa Kỳ, lập liên minh phòng thủ Biển Đông, vân vân, Việt Nam không có lý do gì lảng tránh việc này.

- Về những giàn khoan ngang ngược, cũng giống như việc đường lưỡi bò nhưng phức tạp hơn vì ranh giới chồng chéo và cũng liên quan đến Hoàng Sa - Trường Sa, có thể phát sinh nhiều luận điểm, tuy nhiên vẫn phải kiện, và đừng quên nếu không có sức mạnh thực tế thì cũng không đẩy được chúng đi. Nói chung, việc kiện ra các tòa án quốc tế, dù hiệu quả ít hay nhiều vẫn phải tiến hành, để vạch rõ chính nghĩa, vì danh dự dân tộc hoặc tạo hồ sơ giải quyết sau này.

- Riêng Hoàng Sa (và có thể cả Trường Sa) thì khó khăn hơn nhiều, dân đã có kiến nghị yêu cầu nhà nước phải kiện Trung Quốc, nhưng nhà nước thì lưỡng lự, chập chờn, không chuẩn bị gì, bây giờ quyết định không kiện gì hết (?), mà chỉ tuyên truyền (chắc là để xoa dịu cho dân yên tâm) [theo thông tin mới nhất thì Thủ tướng đã giao các cơ quan củng cố hồ sơ để báo cáo lãnh đạo Đảng, Nhà nước cân nhắc việc đấu tranh pháp lý về Biển Đông; xem ở đây – BVN]! Ở đây có nhiều điều cần thảo luận.

Trước hết phải đau lòng thừa nhận rằng việc Hoàng Sa - Trường Sa nếu kiện ra Liên Hiệp Quốc thì khả năng thua nhiều hơn thắng. Tại sao?

Đồng ý rằng về pháp lý công hàm Phạm Văn Đồng (trả lời Bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trong đó họ khẳng định Hoàng Sa - Trường Sa là của Trung Quốc) không có giá trị "mua bán", vì người ta không thể bán cái không có trong tay mình, vì không có sự đồng thuận của chính phủ ở nửa nước miền Nam, hoặc vì chưa thông qua Quốc hội, vân vân.

Nhưng trách nhiệm của Công hàm Phạm Văn Đồng lại nguy hại ở ý nghĩa khác. Đối với Hoàng Sa - Trường Sa công hàm Phạm Văn Đồng tuy không có giá trị pháp lý của một giao kèo mua bán hay sang nhượng, nhưng có giá trị của một bản tuyên bố chính thức, minh định nhận thức và lập trường của chính phủ Việt Nam, để Trung Quốc và thế giới được rõ, rằng Hoàng Sa - Trường Sa là của Trung Quốc (đã là của Trung Quốc thì đương nhiên không phải của Việt Nam, Việt Nam chúng tôi không liên quan gì đến các quần đảo đó!)

Một người khách quan đọc bản công hàm ấy ắt phải hiểu như thế. Nếu có kẻ nào còn mơ hồ tưởng lầm Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam thì hãy xem thêm các bản đồ và sách giáo khoa của Việt Nam sẽ rõ! Phạm Văn Đồng đã giúp Trung Quốc chu đáo đến thế là cùng.

Trong công hàm Phạm Văn Đồng không cần có nửa lời về Hoàng Sa - Trường Sa là đương nhiên, vì đã minh định Hoàng Sa - Trường Sa là của Trung Quốc thì cũng như các đảo Bành Hồ, Trung Sa… chứ liên quan gì đến Việt Nam đâu mà phải đề cập? Đã của Trung Quốc, không phải của Việt Nam thì Trung Quốc cứ tự nhiên sử dụng, cần gì đến chuyện "mua bán" hay sang nhượng?

Một sự phủ định chủ quyền thản nhiên và sạch trơn như vậy còn tai hại hơn một giao kèo bán đất rất nhiều, vì nếu "bán" thì trước khi bán Hoàng Sa - Trường Sa vẫn còn là của Việt Nam, sau này còn có thể chuộc lại, nhưng khẳng định như Phạm Văn Đồng có nghĩa là từ trước chí sau Hoàng Sa - Trường Sa không liên quan gì đến Việt Nam cả. Chu đáo đến thế thì con cháu bây giờ hết chỗ cựa (nếu cãi lại sẽ sẽ phạm luật estoppels).

Là người Việt Nam dù với chính kiến nào, không ai muốn hải đảo nước mình rơi vào tay Trung Quốc, nhưng giải pháp "khôn ngoan" muốn hạ thấp trách nhiệm của công hàm Phạm Văn Đồng để vừa thoát khỏi ràng buộc với Trung Quốc mà vẫn bảo vệ được uy tín cho Đảng Cộng sản e rằng bất khả thi.

Bây giờ, sau nửa thế kỷ mới trưng các bản đồ lịch sử ra, xét về tình, thế giới có thể thông cảm, nhưng về lý, mình đã trói mình quá chặt thì cũng khó gỡ ra, ấy là chưa kể lẽ phải luôn thuộc về kẻ mạnh.

Tự chối bỏ chủ quyền thì còn tai hại hơn bán chủ quyền. Vì thế, đối với Hoàng Sa - Trường Sa kiện thì cứ kiện, nhưng chỉ có thể giải quyết trong một giải pháp trọn gói, chống lại toàn bộ sự xâm lấn của Trung Quốc cả ở biển đảo và trên đất liền.

Thật vậy, việc xâm chiếm Việt Nam đâu chỉ giới hạn ngoài biển đảo? Nào ai biết đã có bao nhiêu văn bản ký kết tạo điều kiện cho Trung Quốc chiếm dần lãnh thổ Việt Nam, đi đôi với việc xâm lấn nhân sự vào các cấp lãnh đạo từ tỉnh huyện đến Trung ương? Muốn thoát khỏi cái ách Trung Quốc đã quàng rất nhiều vòng vào cổ dân tộc này, tức là muốn "Thoát Trung" chỉ có một con đường duy nhất là từ bỏ thể chế cũ một cách thật sự, để một nhà nước mới, một nhà nước dân chủ, mới có tư cách nhân danh nhân dân chối bỏ những ràng buộc mà chế độ cũ đã ký kết, phương hại đến đất đai, chủ quyền của Tổ quốc Việt Nam.

6. Thoát Trung chủ yếu là thoát về chính trị, không phải văn hóa

Lịch sử đưa đẩy hai nước Việt Trung vào cùng một "đại gia đình Cộng sản" là tạo ra cơ hội bằng vàng, nhốt con thỏ và con sói vào cùng một chuồng thành hai anh em ruột, chị em ruột. Thế là toàn bộ chương trình dài hơi nhằm nô dịch Việt Nam, biến Việt Nam thành chư hầu kiểu mới của Trung Quốc được thiết kế trên cái nền Cộng sản, trong đó "quyền đảng" được nâng lên tối đa và "quyền dân" thực tế bị hạ xuống tối thiểu, khiến cho hai đảng cứ tự do làm việc ngầm với nhau, quyết định mọi việc trong quan hệ cá lớn nuốt cá bé, trong khi nhân dân bị đứng ngoài cuộc. Vậy đây là một cuộc cờ chính trị "vĩ đại", yêu cầu thoát Trung chẳng qua là thoát khỏi sự kìm kẹp chính trị cộng sản khủng khiếp ấy.

Trong tiến trình ràng buộc có sử dụng sự ràng buộc kinh tế, ràng buộc tư tưởng, ràng buộc văn hóa - xã hội, nhưng tất cả chỉ là phương tiện nhằm cái đích nô dịch chính trị. Chính trị là cái nút thắt, cũng là nơi để chiếc chìa khóa mở ra. Nếu hiểu lý thuyết rằng văn hóa hoặc kinh tế là nền móng rồi dồn sức vào các lĩnh vực mênh mông là văn hóa hoặc kinh tế thì chỉ luẩn quẩn mãi trong rừng rậm không có lối ra, có khi gây tác dụng ngược, cuối cùng vẫn bị yếu tố chính trị thắt lại, vì chính trị nhanh tay hơn, ma mãnh hơn văn hóa và kinh tế rất nhiều.

Thật vậy, về văn hóa, ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc đối với Việt Nam tuy có những điều bất lợi nhưng nhìn tổng thể cũng là điều bình thường xưa nay, trong đó có xấu có tốt, có thể điều chỉnh, có yếu tố đã trở thành sức mạnh của Việt Nam. Thế giới có khoảng 200 quốc gia nhưng con số những nền văn hóa lớn thì ít hơn rất nhiều, mỗi nền văn hóa lớn thường tỏa rộng ảnh hưởng ra các quốc gia xung quanh, tạo nên những vùng "địa văn hóa", "cụm văn hóa" gồm nhiều quốc gia lân cận. Quan hệ quốc tế hiện nay làm cho ranh giới "địa văn hóa" mờ dần đi, ngày càng thâm nhập vào nhau một cách đa phương nên muốn dùng độc quyền văn hóa làm công cụ nô dịch cũng không dễ dàng như trước. Trái lại những giá trị văn hóa dù hình thành ở đâu cũng là thành quả chung của loài người để dùng chung như ta dùng lửa, dùng điện, dùng Internet vậy. Không có gì phải mặc cảm khi một quốc gia nằm trong cụm văn hóa Hy-La hay văn hóa Trung Hoa…

Mặt khác, vì xã hội luôn có hai thành phần tương sinh tương khắc là nhân dân và tầng lớp thống trị nên nền văn hóa nào cũng cấu thành bởi hai nhân tố xung khắc ấy, vừa có mặt nhân văn tích cực của nhân dân, lại có mặt phản dân chủ mà giới cầm quyền khéo dùng làm công cụ để nô dịch dân mình và nô dịch cả dân nước khác, đồng thời tất cả vẫn nằm trong dòng tiến hóa từ lạc hậu đến ngày một văn minh hơn. Khi du nhập những nét văn hóa tích cực luôn phải thanh lọc những yếu tố nô dịch tiêu cực hoặc không phù hợp với tập quán dân tộc mình. Điều này dân tộc Việt Nam đã làm, làm khá thành công nên sau 1000 năm Bắc thuộc mà vẫn không bị đồng hóa. Tóm lại, thái độ đối với văn hóa là sàng lọc, đồng hóa hoặc tẩy trừ từng phần chứ không nhất thiết phải xử lý trọn gói. Tấm gương biết sàng lọc văn hóa không ai bằng cụ Phan Châu Trinh, xuất thân Nho học, tiếp tận Âu Tây mà biết sàng lọc rất trúng, vừa chống "hủ Nho" vừa chống "hủ Âu" trở thành nhà dân chủ, nhà cách mạng đầu tiên của nước nhà [*]. Cụ chẳng vì chuộng Âu mà phải thoát Á, vì khi đã lệch về một phía thì dễ thiên vị, quên sàng lọc mà tôn sùng cả cái xấu của người ta.

Điều oái oăm với văn hóa Việt Nam là trong khi dòng chảy văn hóa đang từng bước tự hoàn thiện thì có sự du nhập "một nền văn hóa trọn gói" nặng tính ngoại lai và áp đặt, là "văn hóa vô sản" thực chất là "văn hóa cộng sản", "văn hóa đảng". Nói văn hóa Cộng sản có tính "trọn gói" vì nó tách biệt hẳn ra thành một khối, không kế thừa, dính vào đâu là nó hủy diệt các giá trị truyền thống ở đó, nên không có khả năng hòa đồng vào bất kỳ nền văn hóa nào. Vì bản chất là phi dân chủ nhưng lại nhân danh dân chủ nên văn hóa cộng sản cộng hưởng ngay với chất mị dân của chủ nghĩa thân dân phong kiến, mà thực chất là vương quyền áp đặt, tôn sùng minh quân, đồng thời làm mất gốc dân chủ và tương thân tương ái của văn hóa bản địa, thay bằng thứ tình yêu giai cấp vừa chật hẹp giữa con người lại vừa mở rộng phi lý vượt biên cương.

Chính nền chuyên chính độc đảng toàn trị Cộng sản đã làm cho quan hệ "quỳ lạy-xin cho" tiêu cực của văn hóa phong kiến trỗi dạy và làm tha hóa xã hội đến mức bệnh hoạn. Tôi hiểu đấy chính là lý do khiến nhà báo Lê Phú Khải phải kịch liệt phê phán thứ "văn hóa quỳ lạy" đang chế ngự xã hội. Một nét tiêu cực của văn hóa phong kiến như thế tưởng đã qua đi, nay gặp môi trường mới thích hợp lại nảy nở thành một tệ nạn, chứ đạo Nho chỉ khuyên người ta đứng thẳng, không khuất phục trước uy vũ (uy vũ bất năng khuất) và con người phải biết tự trọng thì người khác mới trọng mình (nhân tự trọng nhi hậu nhân trọng chi, nhân tự khinh nhi hậu nhân khinh chi), Khổng giáo không khuyên người ta quỳ lạy.

Văn hóa Khổng Mạnh vừa sinh ra Phan Châu Trinh rất dân chủ, vừa sinh ra tên vua Khải Định thích dân quỳ lạy. Cho nên Cụ Phan viết thư hạch tội vua Khải Định 7 điều, trong đó tội thứ nhất là quá tôn quân quyền, cậy quyền thế mà ép dân, tội thứ nhì là không công bằng và tội thứ ba chính là "Chuộng sự quỳ lạy"!

Ngày nay một lực lượng vũ trang ăn lương của dân mà coi dân như cỏ rác, ngang nhiên thách thức "chỉ biết còn Đảng còn mình", tất nhiên nịnh trên mà nạt dưới, thì chắc chắn người đưa ra khẩu hiệu rất "quỳ lạy" đó không hề đọc sách Khổng Mạnh mà chỉ nhiễm "văn hóa Đảng" thôi.

Nhiều người dân vào đồn công an bị đánh đến phải quỳ lạy, nơi "quỳ lạy" ấy không hề có đạo Khổng, chỉ có "6 điều Bác dạy" (mặc dù lời dạy cũng có câu "với dân phải kính trọng, lễ phép").

Thuở nước nhà sơ khai, các trí thức chịu ảnh hưởng đạo Nho và văn hóa Trung Hoa rất nhiều, nhưng những Giang Văn Minh, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trãi, Lý Thường Kiệt đã dùng chính chữ Nho làm vũ khí chống lại Tàu, sức mạnh Nho giáo đã thành sức mạnh dân tộc. Trong khi Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc lại dùng chữ Nho để theo Tàu phản bội Tổ quốc, còn khối kẻ hàng Tàu bây giờ đâu có biết một chữ Nho bẻ làm đôi? Vậy hèn mạt hay anh hùng ít khi do nền văn hóa, chủ yếu do nhu cầu chính trị, vì chính trị gắn với quyền lợi và nhu cầu sinh tồn.

Ngay chuyện bây giờ, khi ta nói sở dĩ Đảng Cộng sản Việt Nam phải lệ thuộc Tàu là do Ý thức hệ cộng sản thì cũng chỉ đúng một phần. Đâu có phải cứ hai nước cùng chung Ý thức hệ Cộng sản thì thôn tính nhau? Vấn đề là nước Cộng sản nhỏ muốn tiến hành chiến tranh, rồi lại muốn chống xu thế dân chủ để tiếp tục nắm quyền độc trị thì phải dựa vào nước Cộng sản lớn giúp đỡ, nước lớn vốn rắp tâm xâm lược nên sử dụng sự giúp đỡ làm cái bẫy để bắt Đảng Cộng sản nhỏ bán dần chủ quyền, mặc dù đến nay cả hai bên chẳng ai xây dựng chủ nghĩa Cộng sản gì hết, chẳng ai còn tin vào cái bánh vẽ "thế giới đại đồng". Vậy bản chất sự lệ thuộc Tàu là do ràng buộc chính trị trong môi trường Cộng sản, như một hệ quả đau đớn của việc chọn con đường Cộng sản, chứ không phải do sự thấm nhuần Ý thức hệ. Ý thức hệ chỉ là yếu tố bắt nguồn lúc đầu. Những kẻ theo Tàu hiện nay là do nhu cầu chính trị, do quyền lợi chứ chẳng vì lý tưởng giai cấp vô sản gì hết.

Lại so sánh chế độ miền Bắc và chế độ miền Nam trước đây về hai mặt Thoát Trung và Khổng học. Miền Nam còn giữ Khổng học rất nhiều, từ sách vở đạo đức, đến quan hệ xã hội nhưng họ dứt khoát Thoát Trung, biểu hiện ở việc chống Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa năm 1974, và quy định một số nghề người Hoa không được làm để phòng người Tàu chi phối kinh tế và quốc phòng.

Trong khi miền Bắc khi đó bài trừ Khổng học, coi Khổng học là phong kiến phản động nên phá hết văn chỉ, đem câu đối làm cầu ao, chuồng lợn, đấu tố Nho học, thì lại ôm chân Tàu rất rõ, dập khuôn Tàu, phụ thuộc Tàu đến nỗi sinh ra nguy cơ Bắc thuộc hiện nay. Vậy không phải chống Khổng học thì Thoát Trung mà có khi ngược lại, vì nhiều nét của Khổng học đã được người Việt đồng hóa để thành vốn liếng văn hóa của chính người Việt.

Cuối cùng, xin cảm ơn việc khơi ra cuộc thảo luận Thoát Trung, đã huy động được sự đóng góp từ nhiều phía, làm cho một vấn đề rất hệ trọng được sáng ra, lần đầu tiên được đề cập một cách hệ thống, thiết tưởng là một sáng kiến đóng góp rất hữu ích cho công cuộc Thoát Trung hiện nay.

7. Nghĩ về mấy ngụy biện trong việc chống Tàu xâm lược

Ngụy biện về đoàn kết và phân ly:

Như quy luật của muôn đời, sự đấu tranh để dân chủ hóa luôn luôn là cuộc đấu tranh giữa giới cai trị và giới bị trị, giữa chủ và thợ, nước nào cũng có, ở những mức độ khác nhau. Nhưng Đảng Cộng sản muốn phủ định, coi như cuộc đấu tranh ấy không có trong xã hội ưu việt này, nên dùng khẩu hiệu "ý Đảng lòng dân" để đúc hai khối "cai trị và bị cai trị" thành một khối đồng nhất (nhưng đầy mâu thuẫn bên trong). Dân mà "có ý kiến khác" tức tách khỏi khối đúc ấy thì không phải là dân, Đảng coi là kẻ xấu hay là địch đấy!

- Nay trước tình trạng bị nước Cộng sản lớn xâm lược đang xuất hiện ngụy biện: "Bây giờ phải tập trung chống xâm lược, cả nước phải một lòng, đứng dưới sự lãnh đạo mà chống giặc, trong nước mà còn đấu tranh với nhau là mắc mưu chia rẽ của phản động đấy!". Lời hô hào nghe cảm động ghê, đoàn kết cả với kẻ nội xâm, nội gián sẵn sàng "mở cửa thành" cho giặc hả?

- Lập trường đúng đắn của Đảng ta là làm bạn với tất cả mọi người, không liên minh với nước này để chống lại nước kia!Nghe sao đạo đức quá, thế sao trước đây lại dựa hẳn vào Liên Xô - Trung Quốc để đánh "Mỹ-Ngụy", sao bây giờ chỉ liên kết chiến lược toàn diện, thiết lập cả đường dây nóng với quân xâm lược, để đề phòng nhân dân ư?...

Ngụy biện này là để giải thích vì sao Việt Nam không liên minh chiến lược với Hoa Kỳ, nhưng nội bộ Đảng giải thích với nhau nếu liên minh với Hoa Kỳ thì mất Đảng! Vẫn biết nếu liên minh với Hoa Kỳ thì sẽ không mất nước, nhưng thà mất nước còn hơn là mất Đảng! Thế là rõ!

- Nhiều nhà nghiên cứu, bình luận cứ phát hiện "con đường cho Việt Nam", "lối thoát cho Việt Nam", "giải pháp tối ưu cho Việt Nam" mà không biết rằng bây giờ làm gì có "Việt Nam" như một khối thống nhất. Như ông Lê Hồng Hà nhận xét "Đảng bây giờ chỉ còn mỗi chức năng là cản trở sự phát triển của dân tộc", vậy thì bài toán cho chính quyền Việt Nam và bài toán cho nhân dân Việt Nam là hai bài toán đáp số ngược nhau, đáp số tối ưu cho bên này sẽ là tai họa cho bên kia, làm gì còn khái niệm "Việt Nam" chung chung?

* Ngụy biện về cương và nhu

Bất đắc dĩ phải tuyên bố công khai mâu thuẫn với Trung Quốc (về lãnh hải thôi, còn những mâu thuẫn khác vẫn giấu biệt), nhưng không cho dân bộc lộ sự phẫn nộ, mà khuyên "phải bình tĩnh, chuyện lâu dài không nóng vội, mâu thuẫn như anh em trong nhà, mình phải chung sống lâu dài với nước bạn, bát nước đổ đi khó bốc lại, ta cần mềm dẻo giữ hòa bình để phát triển kinh tế…".

Ai cũng biết cương quá hay nhu quá đều không tốt, nhưng lúc cần nhu lại cương, lúc cần cương lại nhu thì thật quái đản.

Có một danh ngôn "kẻ nào chấp nhận nhục nhã để tránh chiến tranh cuối cùng sẽ lãnh đủ cả hai thứ đó". Có cứng rắn, không sợ chiến tranh mới tránh được chiến tranh. Chính sự hèn nhát là thủ phạm rước chiến tranh vào nhà! Còn tình nghĩa anh em ư, nó đập vào mặt, nó nhục mạ cả dân tộc, nó xâm lăng rành rành, nó tè vào cái bát nước hữu nghị, còn anh em nữa ư?

Ngụy biện về lòng thương dân

Người ta đang giải thích phải chịu nhún nhường Tàu Cộng hết cỡ vì sợ đánh nhau thì nhân dân khổ! Chỉ thương dân thôi!

Ôi chao, cảm ơn! (Giá nói 50 năm trước đây thì hơn).

Sao một bảng thống kê về điều tra, chỉ xếp nhân dân Việt Nam thuộc loại hạnh phúc thứ nhì thế giới thôi nhỉ, chắc vì lúc ấy cơ quan điều tra chưa được "quán triệt" chủ trương rất cảm động này.

H. S. P. (2-7-2014)

Tác giả gửi BVN.

[*] "Nhân vật Phan Châu Trinh và những bài học cho hôm nay/ Sàng lọc và kết hợp văn hóa Đông Tây":http://www.hasiphu.com/baivietmoi_12.html

Bùi Tín : Một cuốn sách rất cần tìm đọc: "Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối"

Nguồn VOA

02.07.2014

Cuốn Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối của Tri Vũ Phan Ngọc Khuê, một nhà báo sống Pháp được Tổ hợp Xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ phát hành hơn 1 tháng nay. Sách in đẹp, dày 428 trang, gồm16 phần, thêm phụ lục.

Tôi đã đọc cuốn sách này một mạch trong 2 ngày. Rồi đọc lại 1 lần nữa, để rồi suốt 1 tuần lễ ngẫm nghĩ về nội dung của nó.

Trần Đức Thảo (1917 – 1993), con một nhà tư sản Phố Cổ đất Hà Thành, là một trí thức được đào tạo tại Pháp và cũng là một triết gia trẻ uyên bác khá nổi tiếng, từng tranh luận tay đôi với nhà triết học Jean Paul Sartre.

Năm 1951, khi 34 tuổi, Trần Đức Thảo tự nguyện về nước qua con đường Moscow với thiện chí "mang hiểu biết của mình về góp phần xây dựng đất nước". Nhưng tai họa đã sớm đến với ông. Lãnh đạo VN, từ Hồ Chí Minh đến Trường Chinh (Tổng Bí thư Đảng lúc bấy giờ) đều tỏ ý không cần đến "một anh trí thức mọt sách do đế quốc đào tạo", còn coi ông là một kẻ reo rắc tư tưởng phản động nguy hiểm. Ông suýt chết 2 lần, một lần khi tham gia đội cải cách ruộng đất ở Chiêm Hóa đã nói lên nhận xét là tòa án nhân dân trong xét xử địa chủ là không ổn, mang tính cưỡng bức phi pháp, làm cho cố vấn Trung Quốc phật lòng và ông suýt toi mạng về chuyện này; hai là khi Hà Nội được giải phóng, ông tham gia bằng 2 bài viết trên báo Nhân Văn cùng Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Nguyễn Hữu Đang, bị coi là "tên đầu sỏ nguy hiểm". Từ đó ông bị giám sát, bỏ rơi trong cuộc sống, mất việc, mất vợ, sống lay lắt, lập dị, đi đôi guốc mộc, nói, khóc và cười một mình, cưỡi chiếc xe đạp trẻ con mang nhãn hiệu nước Nga giữa phố phường Hà Nội.

Đến nay, khi cuốn sách ra rồi, mọi bí ẩn, đồn đoán nhiều khi sai lạc về con người ông mới được giải mã khá là đầy đủ.

Thì ra sau khi bị đe dọa, trù úm, cô lập, đầy ải về cả tinh thần và vật chất, triết gia sinh bất phùng thời này quyết sống một cuộc sống 2 mặt, một mình mình biết một mình mình hay, cảnh giác cao, và nhiều khi phải đóng kịch với mọi người để tồn tại. Cái con người mà thiên hạ cho là lẩn thẩn, có khi như mất trí ấy thật ra vẫn cực kỳ minh mẫn, ghi nhớ, nghiền ngẫm, suy tư, với chủ tâm sẽ có ngày được phơi bày mọi sự ra ánh sáng, khi bản thân được tự do.

Và cái ngày tự do ấy đã đến, khi người ta muốn đuổi ông già 74 tuổi vô tích sự - và có thể là vô hại cho họ - ấy đi xa cho khỏi vướng víu. Tháng 3 năm 1991, ông được cấp một vé máy bay một đi không trở lại để sống nốt những ngày cuối đời trên đất Pháp.

Năm đầu trên đất Pháp, ông sống trong cơ sở của sứ quán đầy công an, an ninh, mật vụ CS, nên vẫn phải mang "mặt nạ", cả khi họ cho phép ông nói chuyện về triết học, về phép biện chứng duy vật, về chủ nghĩa Mác. Để giữ mạng sống, ông vẫn phải đóng kịch, như một anh trí thức sơ cấp mụ mị, dở hơi, làm cho những anh chị em trí thức chờ đợi ở ông những phản biện sâu sắc đều ngỡ ngàng thất vọng, trong đó có chính người viết bài này (vào tháng 6/1992).

Một điều may mắn là anh Tri Vũ Phan Ngọc Khuê, một người Hà Nội du học ở Pháp, vốn có cảm tình với triết gia Trần Đức Thảo, đã cùng giáo sư toán học Bùi Doãn Khanh thăm dò được mong muốn thầm kín của ông, và được ông cho biết ý định viết một cuốn sách trong vòng 6 tháng nhằm trình bày tất cả những suy nghĩ chân thực của ông suốt 40 năm qua để cống hiến cho nhân dân VN đau khổ, lầm than. Khi ông đột ngột qua đời ngày 23 tháng 4 năm 1993 trong nhà khách sứ quán CS, cuốn sách tâm huyết ông chưa viết xong, mới chỉ là những ghi chép, phác thảo, dàn bài, ý vụt đến… đã bị an ninh sứ quán thu lượm sạch. Nhưng họ đã bỏ sót một kho tư liệu quan trọng: những cuốn băng ghi âm của ông Thảo.

Suốt trong gần 6 tháng, cứ đến cuối tuần, khi an ninh và viên chức sứ quán lo vui gia đình, hai ông Tri Vũ và Bùi Doãn Khanh lại lặng lẽ đón ông Thảo đến một quán cà phê kín đáo, đặt ra những câu hỏi và ghi âm những câu trả lời của ông. Ngay sau khi ông Thảo đột ngột từ trần - một cái chết vẫn còn nhiều nghi vấn – hai ông Tri Vũ và Bùi Doãn Khanh đã bỏ công ghi lại thành 16 đoạn trên máy điện toán, rồi biên soạn lại thành cuốn sách Trần Đức Thảo - Những lời trăng trối.

Cuốn sách đã giải mã đầy đủ con người và nhân cách Trần Đức Thảo. Cho đến khi gần vĩnh biệt chúng ta ông đã dùng tư duy bén nhạy của một học giả và triết gia để soi sáng một đoạn hệ trọng của lịch sử dân tộc, thay thế cho những trang lịch sử chính thống trong đó con người và sự kiện đã bị xuyên tạc, bóp méo.

Trong sách, Trần Đức Thảo có nhắc đến ông Hồ vài chục lần, kể từ cuộc gặp ở Pháp, đến cuộc gặp ở chiến khu Việt Bắc, khi quy định phải đứng xa Bác 3 mét, khi được hỏi mới được nói, phải gọi ông Hồ là Bác và nhiều lần gặp sau ở Hà Nội, khi ông chỉ còn là một bóng người vật vờ, tồn tại mà như không tồn tại.

Xin mời bạn đọc thưởng thức vài đoạn ngắn trong cuốn sách nói đến "ông Cụ", để thấy nhà triết học vẫn minh mẫn sâu sắc tinh anh đến mức nào.

… " Đáng chú ý là từ khi tự đổi tên là Tất Thành(1911) (với khát vọng khiêm tốn là sẽ là kẻ thành đạt…) rồi cho đến sau này bỏ hẳn họ Nguyễn, lấy lại họ gốc là họ Hồ, và chọn cái tên cực kỳ kiêu sa, coi mình là bậc CHÍ MINH (1945)… Nói chung tên giả thường là rất tiêu biểu

tâm thức như thế đã phản ánh chân thực những bước chuyển biến trong đầu óc của 'ông Cụ'. Mỗi lần thay tên đổi họ là một bước có ý nghĩa trong hành trình vươn lên, đi tới để trở thành lãnh tụ. Đây là quá trình diễn biến của sự hình thành một cuồng vọng. Phải phân tích cặn kẽ từng cái biệt danh ấy như là một dấu hiệu tâm lý chính trị, từ lúc chi mong có cơ hội thành đạt, cho tới lúc quyết tâm, bằng mọi giá, mọi cách để đạt tới tột đỉnh của quyền lực như là một ông vua (Vương), là một người yêu nước chân chính ('Ái Quốc'), là một lãnh tụ thông minh bậc nhất trong thiên hạ (CHÍ MINH)! Một nhà túc nho, một người trí thức có đầu óc tỉnh táo, có liêm sỷ, một bộ não minh triết không bao giờ tự ý xưng mình là 'Vương', là 'Ái Quốc', là 'CHÍ MINH' như thế…".

Và đây là một đọan trích nữa nhận định tổng hợp về "ông Cụ" của triết gia họ Trần:

"Cụ Hồ là một nhân vật vô cùng phức tạp, vô cùng thông minh, rất mưu trí, một con người sắt đá đến mức vô cảm, vô tình, sẵn sàng chụp bắt mọi cơ hội để thành đạt. Một ý chí thành đạt không gì lay chuyển. Đấy là một Tào Tháo muôn mặt của muôn đời, một con người không có tình bạn, không có tình yêu gia đình, tình yêu con cái, một bộ óc nung đúc một cuồng vọng, với một ưu tư duy nhất là phải leo lên đến tột đỉnh quyền lực đê đạt tới mục tiêu của mình… Vì thế ông Cụ không chấp nhận một ai trong đám chung quanh là ngang mình. Vì thế mà không cần trợ lý, cố vấn, vì thế không lắng nghe một ai. Bởi lãnh tụ chỉ chăm chú tìm chiến thắng vinh quang, của giấc mơ thế giới đại đồng, chứ không cảm nhận được nỗi đau đầy máu và nước mắt của dân trong thực tại. Một con người chỉ nghĩ và sống với khát vọng chiến thắng, chứ không muốn sống bình thường như mọi người. Riêng đối với tôi, cái nhìn đầu tiên của lãnh tụ là để đánh giá tôi trong tương quan chiến thắng ấy, và cách đánh giá ấy là một bản án không nơi kháng cáo. Vì thế tôi đã suy nghĩ nhiều về nhân vật lịch sử này! Bởi Người là một cái bóng ma quyền lực đã đè nặng lên thân phận tôi.

"Những điều tôi nói đây không phải để oán trách 'ông Cụ', bởi tôi biết đây là một nhân vật bi thảm, luôn bị chi phối bởi nhiều thế lực trong và ngoài. Nào là cuồng vọng của một lãnh tụ chính trị, nào là sức ép của Mao, nào là những ý đồ phức tạp trong Bộ Chính trị với nhiều phe phái kình chống nhau. Những sức ép ấy đã tiêu diệt hết tình cảm của con người bình thường nơi 'ông Cụ' và 'ông Cụ' bị đưa vào thế phải chấp nhận sống cô đơn, phải thủ vai ông thánh, ông thần, giữa bao thế lực quỷ quái, quá khích, lúc tả khuynh, lúc hữu khuynh… để đạt tới, để nắm vững đỉnh cao quyền lực…".

Còn có rất nhiều đoạn lý thú độc đáo khác nói về "Hà Nội giải phóng" năm 1955 và "Miền Nam giải phóng" năm 1975, về những buổi dự "hát cô đầu" cùng nhà văn Nguyễn Tuân, nhận xét về lực lượng Công an là bạn dân ra sao dưới một chế độ CS cảnh sát trị.Trong đọan kết, triết gia Trần Đức Thảo bộc bạch rằng vào lúc cuối đời ông đã nhận rõ chủ nghĩa Mác là một học thuyết sai lầm từ gốc, chứ không phải là nó đúng nhưng đã bị vận dụng sai, và nó sai cả về vũ trụ quan lẫn nhân sinh quan do cổ vũ đấu tranh giai cấp, bạo lực, chiến tranh, sai cả về phương pháp luận lô gích biện chứng duy vật - hiện tượng học. Theo ông, Liên Xô, Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam, Cuba, Bắc Triều Tiên đều là nạn nhân bi thảm của chủ nghĩa Mác. Rất tiếc là ông đang say mê lý giải thì tai họa ập đến. Người ta thoáng biết ý định thâm sâu của ông cùng bè bạn thân thiết, và ông đã bị họ bịt mồm khi đang thổ lộ tâm tình thầm kín nhất. Dù sao ông đã mãn nguyện phần lớn khi đã trút gần hết bầu tâm sự giữ kín 40 năm ròng.

Chính do những lẽ ấy mà cuốn Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối là cuốn sách quý, rất nên tìm đọc, phổ biến rộng và bàn luận để tăng thêm hiểu biết về lịch sử và những nhân vật nước ta. Tuy tác phẩm này đã ra đời chậm hơn 20 năm, nhưng dù sao nó vẫn là một cuốn sách rất có giá trị với thời cuộc hiện tại.

Nguyễn Lương Hải Khôi : Việt Nam, Nhật, và giàn khoan 981*

Nguồn viet-studies 

Đây là bài phỏng vấn Nguyễn Lương Hải Khôi (Quỹ Nghiên cứu Biển Dông)
do Đỗ Thiện của báo Pháp luật TP HCM thực hiện.
Tuy nhiên, cho đến ngày 2-7-2014 thì bài vẫn chưa được đăng
và người được phỏng vấn vẫn chưa nhận được quyết định nào của tờ báo. 
Do đó, Nguyễn Lương Hải Khôi nhờ viet-studies phổ biến đến bạn đọc.

 

Câu 1: Thưa ông, ông đánh giá thế nào về vai trò của Nhật đối với Việt Nam trong đấu tranh ngoại giao với Trung Quốc xung quanh vấn đề giàn khoan 981 trái phép trên quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, nhất là khi Nhật là một đồng minh của Mỹ?

Trả lời:

Về vai trò của Nhật đối với Việt Nam trong đấu tranh ngoại giao với Trung Quốc, không khó để mỗi chúng ta có câu trả lời. Chúng ta chỉ cần tưởng tượng chuyện gì sẽ xảy ra ở Châu Á thế kỷ 21 này, nếu chỉ có một cường quốc duy nhất là Trung Quốc, không tồn tại một cường quốc có bề dày lịch sử là Nhật Bản hoặc Nhật Bản chỉ là một quốc gia đang phát triển như Việt Nam. 

Sự tồn tại của Nhật Bản như hiện nay đã là một ích lợi lớn cho Việt Nam và các nước đang phát triển trong khu vực – một quốc gia với vai trò gìn giữ vai trò hòa bình, là đối trọng để kiềm chế các động thái hung hăng gây hấn của Trung Quốc, là động lực kinh tế, và là một nền dân chủ trưởng thành nhất trong cả khu vực.

Điều quan trọng không phải đánh giá vai trò của Nhật đối với Việt Nam trong một sự việc cụ thể là vấn đề giàn khoan Haiyang Shiyou 981 mà là nhận thức được vai trò của Nhật Bản đối với Việt Nam trong cuộc đấu trí tuệ có tính sinh tử trước chiến lược bành trướng tính bằng nhiều thế kỷ của Trung Quốc, không phải chỉ từ bây giờ.

Câu 2: Hiện nay, chính phủ Nhật đã và đang thể hiện quan điểm như thế nào về vấn đề 981? Ông đánh giá thế nào về các động thái đó của Nhật?

Trả lời:

Chính phủ Nhật đã công khai ủng hộ Việt Nam, phê pháp mạnh mẽ hành động sai trái của Trung Quốc ở các diễn đàn quốc tế, ở Hội nghị thượng đỉnh an ninh Châu Á (Đối thoại Shangri – La), ở Hội nghị G7 – nơi Việt Nam không có điều kiện tham gia, cử tàu Kunisaki thăm Việt Nam. Việc giúp đỡ về khí tài vật chất đang được xem xét, tuy nhiên còn vướng mắc ở các vấn đề pháp lý của Hiến pháp Nhật Bản.

Tuy vậy, điều chúng ta cần nhận thức là: chúng ta cần Nhật Bản không chỉ cho sự vụ "nhỏ nhặt" là cái dàn khoan này. Nếu chúng ta nghĩ rằng chúng ta chỉ cần sự trợ giúp của Nhật để giải quyết cho "êm xuôi" cái vụ "lình xình ngắn hạn" này, chúng ta sẽ không nhận được gì cả, không chỉ từ Nhật mà còn từ các cường quốc khác. Chúng ta cần Nhật Bản cho một cuộc đấu về mặt trí tuệ trường kỳ và bài bản để trưởng thành và sinh tồn trong một thời đại mới.

Câu 3: Đâu là lĩnh vực mà Việt-Nhật nên tăng cường hợp tác để xây dựng sức mạnh trong thế đối trọng với Trung Quốc?

Trả lời:

Không có Việt Nam, Nhật Bản vẫn dư sức để tự vệ. Không có Nhật Bản và thế giới các cường quốc dân chủ khác, Việt Nam không thể tồn tại được trước Trung Quốc. Hợp tác với các nước này để tự lực tự cường, trước hết, đó là nhu cầu nội tại của Việt Nam.

Chúng ta không cần thiết phải hỏi "lĩnh vực" cụ thể để ưu tiên. Nhật Bản là quốc gia duy nhất đã hỗ trợ Việt Nam toàn diện ở hầu hết các lĩnh vực quan trọng: viện trợ kinh tế, kỹ thuật, giáo dục, tư vấn chiến lược phát triển một cách trường kỳ và bài bản. Nhưng, các loại viện trợ này mang lại lợi ích cho Việt Nam hay không, mang lại lợi ích đến mức độ nào, thì hoàn toàn nằm ở phía người nhận. Nếu chỉ nhờ nhận viện trợ mà "hóa rồng" thì cả thế giới này đâu còn quá nhiều "giun dế" đến thế. Cái chúng ta cần băn khoăn, xin nhắc lại, không phải là "lĩnh vực" mà là "cách thức". "Cách thức" của chúng ta hình thành từ một thể chế lành mạnh, trong sạch, muốn đi vào phát triển thực chứ không phải là nâng cao các con số.

Câu 4: VN nên có động thái gì nếu muốn "nhận 1 phiếu ủng hộ" từ Nhật một cách rõ rệt, mạnh mẽ?

Trả lời:

Nếu nói về một "động thái" cần thiết, có lẽ đó nên là một động thái cho thế giới thấy chúng ta đang đi về phía thế giới văn minh, tự do, dân chủ.

Tuy vậy, cái chúng ta cần không chỉ là một động thái, một "chiến thuật" có tính mưu mẹo để "giải quyết" cho "êm xuôi" một tình huống khó khăn (là chuyện giàn khoan 981).

Nếu Trung Quốc ngay lập tức rút giàn khoan vào ngày mai? Rất có thể. Nhưng mối nguy đối với sự tồn vong của dân tộc chúng ta trước trước chiến lược bành trướng của Trung Quốc thì có giảm không? Không.

Trung Quốc sẽ rút giàn khoan thôi. Giống như đã đưa quân pháo vào chốt một vị trí trên bàn cờ để dễ bề bố trí đội hình ở phía khác, khi xong việc rồi thì quân pháo sẽ được rút về vị trí an toàn. Nhưng khi đó, một thế trận mới đã hình thành và thường thì kẻ chơi cờ yếu tay hoặc thiếu thông tin để xử lý sẽ chẳng thể thấy gì.

Giàn khoan này không có vẻ có mục đích kinh tế là khai thác dầu. Và, nếu để khai thác dầu, không ai làm những việc khiến cả thế giới phẫn nộ như thế. Tôi nghĩ đây là hành vi nhắm đến một mục đích chính trị. Mục đích gì? Không phải để gây hấn với Mỹ, làm cho Nhật Bản phải căng mình lên đề phòng. Trên bàn cờ, đây chỉ là mục tiêu phụ. Mục tiêu chính phải nằm ở đâu đó, mà vấn đề lãnh hải, chủ quyền, dầu khí chỉ là cái phông nền của màn kịch "Sơn Đông mãi võ". Trung Quốc là xứ từ thời Xuân Thu Chiến Quốc đến nay, đời nào cũng để lại sách vở dạy dỗ về "quyền mưu" trong chính trị, kinh tế, đối nhân xử thế… Chúng ta cần hiểu điều này để không bị cuốn vào các màn diễn võ rổn rảng trên phố.

Câu 5: Theo ông, dự báo sắp tới quan hệ Việt - Nhật sẽ ra sao khi quan ngại giàn khoan 981 sẽ là tiền lệ xấu không chỉ cho VN, mà còn cho Nhật?

Trả lời:

Câu chuyện giàn khoan kiểu này rất khó xảy ra trên lãnh hải Nhật. Trung Quốc cho công bố kế hoạch này từ tháng 3 năm 2014. Họ còn cần thời gian để kéo giàn khoan này tới đường biên lãnh hải Việt Nam, rồi từ đường biên lãnh hải ấy di chuyển tới vị trí hiện tại. Suốt thời gian đó, Việt Nam đã làm gì? Tôi không được biết thông tin nào về hành động của chúng ta trong giai đoạn này cả. Dường như chỉ đến khi dàn khoan dừng lại và Trung Quốc bố trí xong đội hình tàu chiến bảo vệ thì chúng ta mới lên tiếng.

 

Nếu là Nhật Bản, tôi nghĩ họ sẽ không làm thế. Nhật Bản sẽ phản đối, hoặc cảnh cáo, ngay khi Trung Quốc mới công bố kế hoạch, sẽ đón tiếp "khách quý" ngay từ đường biên chứ không để khách vào sâu cách đường cơ sở chỉ 120 hải lý như vậy. Cho nên chúng ta không cần phải quan ngại rằng chuyện giàn khoan này có thể lặp lại với Nhật.

 

Nhật và nhiều cường quốc khác dù không có chủ quyền nhưng có quyền lợi trên Biển Đông. Họ không thể để Trung Quốc nuốt trọn vùng biển này. Nhưng, Việt Nam không nên dựa vào thực tế đó để mong đợi rằng vấn đề Biển Đông "tự nó" sẽ "được giải quyết" bởi ai đó, còn Việt Nam thì chỉ cần "tọa sơn quan hổ đấu" và "được lòng tất cả các bên".

 

Còn dự báo quan hệ Việt - Nhật thì rất khó. Những gì Nhật giúp Việt Nam thực ra đã vượt quá khả năng tiêu hóa của Việt Nam rồi. Một ví dụ: Nhật sẵn sàng giúp Việt Nam phát triển "công nghệ cao" nhưng đây không phải là cái mà Nhật "cho" thì Việt Nam "nhận" được. Đó không phải là khẩu súng kíp thời Cao Thắng để bắt chước. Quan hệ Việt Nhật chỉ thực sự giúp Việt Nam phát triển lên một đẳng cấp mới khi Việt Nam tái cấu trúc tiến trình ra quyết định ở cấp chiến lược, xây dựng xã hội dân sự lành mạnh, và một thể chế sạch sẽ khỏi tham nhũng.

 

*Tựa do viet-studies đặt.

 

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 2-7-14

Thứ Tư, 2 tháng 7, 2014

Huỳnh Ngọc Chênh : TỪ TÂN PHÚ QUA DI LINH ĐẾN ĐÀ LẠT

Nguồn huynhngocchenh


Đi Di Linh là để thăm tù nhân lương tâm Đỗ Thị Minh Hạnh, nhà đấu tranh công đoàn nổi tiếng vừa ra khỏi nhà tù, đi Đà Lạt là để thăm viếng những nhà phản biện lão thành Hà Sĩ Phu, Mai Thái Lĩnh, Bùi Minh Quốc, Bảo Cự, Huỳnh Nhật Tấn, Huỳnh Nhật Tân là những kẻ sĩ mà nhiều người ngưỡng mộ, thế tại sao có Tân Phú vào đây? Tân Phú là địa danh nào?
Tân Phú là quận Tân Phú của Sài Gòn, quận mới thành lập từ cái sự tách ra từ quận Tân Bình. Chuyến du hành của tôi bắt đầu từ quận Tân Phú nầy vào trưa ngày 28.6.2014, khi được mời dự đám cưới của hai bạn trẻ trong nhóm No- U Sài Gòn.
Cô dâu, chú rễ và các bạn trẻ trong các nhóm dân sự
Châu Văn Thi là công nhân dàn khoan, anh làm việc ngoài khơi cho công ty dầu khí, vì tham gia vào nhóm No U Sài gòn và tham gia các cuộc biểu tình chống Tàu cộng xâm lược nên bị buộc thôi việc. Không vì thế mà anh nhụt lòng yêu nước, anh tiếp tục đi theo con đường mình đã chọn, tiếp tục tham gia vào các hoạt động yêu nước và đấu tranh cho nhân quyền. Trong bước đường dấn thân, Châu Văn Thi gặp người con gái đồng chí hướng đó là cô gái xinh đẹp Nguyễn Thảo Chi cũng là một người trẻ kiên cường trong nhóm No U. Thảo Chi chính là em gái của Nguyễn Hoàng Vi. Thảo Chi không lẫy lừng như chị Hoàng Vi, nhưng em cùng mẹ là hậu phương vững chắc là chỗ dựa vững vàng cho người chị đấu tranh.

Một đám cưới đẹp như vậy thì không thể nào không đi dự dù tôi chỉ nhận được lời mời qua một tin nhắn trên mạng. Sau nầy, khi đến dự đám cưới thì mới hay rằng phần lớn khách mời đều nhận thiệp qua tin nhắn như tôi vì lý do muốn tránh né sự quậy phá của bọn giả danh côn đồ. Đất nước sao mà cùng khổ, đến hạnh phúc chính đáng của đôi trẻ cũng phải che dấu...Mà che dấu cũng phải vì tại tiệc cưới tôi đã gặp rất nhiều anh chị em trẻ thường xuất hiện trong các cuộc biểu tình chống Tàu cộng, nhiều anh chị em trong nhóm No U, nhóm Nhặt Rác, nhóm Cà Phê Nhân Quyền, nhóm Con Đường Việt Nam, một số cựu tù nhân lương tâm như Nguyễn Hữu Cầu, Phạm Minh Hoàng, Phạm Bá Hải, Đinh Nhật Uy, Nguyễn Phương Uyên, Nguyễn Trung Nam...và cả phụ huynh của các tù nhân lương tâm trẻ như mẹ Kim Liên của Uy- Kha, mẹ Nhung của Nguyễn Phương Uyên...Mọi người có dịp gặp nhau đông đủ nên rất vui trong ngày vui của Châu Văn Thi - Nguyễn Thảo Chi, lại càng vui hơn khi nghe tin Đỗ Thị Minh Hạnh được trả tự do đã về gần đến nhà tại Di Linh. Nhưng rồi nỗi buồn lâu dài về sự hèn nhục của đất nước trước hành vi côn đồ của bọn xâm lược dần dần át đi niềm vui nhất thời. Những bài hát yêu nước lại vang lên trong tiệc cưới thay cho những bài chúc tụng chung chung...Ai đó đã cất vang bài hát Việt Nam Tôi Đâu của Việt Khang và mọi người cùng hát theo...
Tuyến Xích Lô, người đàn ông không bán nước cũng có mặt trong tiệc cưới, đứng giữa nhà báo Trương Minh Đức và anh...

Sắp tàn tiệc, thấy một nhóm anh em trẻ vẫn còn đang xúm lại bàn chuyện, tôi hỏi, có gì mới không? Ngày mai đi Di Linh thăm Minh Hạnh, anh có tham gia không?  Sao lại không?
Thế là sáng sớm ngày 29.6.2014 tôi có mặt trên chuyến xe đò Sài Gòn- Di Linh cùng với mọi người đi thăm Minh Hạnh.
Nhóm chúng tôi gồm nhà báo Trương Minh Đức, ông Hoàng là cha của tù nhân lương tâm Nguyễn Hoàng Quốc Hùng (bị tù cùng vụ án với Đoàn Huy Chương và Đỗ Thị Minh Hạnh), cựu TNLT Phạm Bá Hải, cựu TNLT Phan Thanh Hải, Lê Quốc Quyết (em trai TNLT Lê Quốc Quân), Huỳnh Công Thuận và tôi. Khi lên xe đi chúng tôi mới hay tin từ tối qua, nhóm các bạn trẻ Hoàng Dũng, Peter Lâm Bùi, Miu Mạnh Mẽ, Gió Lang Thang đã đón xe đi từ trước và hiện đang có mặt tại nhà Minh Hạnh.
Mãi đến hơn 2 giờ chiếu chúng tôi mới đến được Di Linh, Lâm Đồng. Thị trấn cao nguyên mưa lất phất, nhà Minh Hạnh không xa trung tâm bao nhiêu nhưng chúng tôi phải đi taxi vì ướt, lạnh. Xe đỗ trước cổng nhà, một cô gái tròn trỉnh, tươi tắn chạy ào ra chào đón chúng tôi. Đó là Đỗ Thị Minh Hạnh.
Minh Hạnh không cao lắm, lại đột ngột tăng cân một cách khó hiểu từ hai tháng trước ngày được tự do nên trông  khá mập tròn, không còn hình dáng thon mãnh như trong các bức ảnh chụp trước đây khi chưa vào tù. Tuy vậy, khuôn mặt rạng ngời, nụ cười tươi tắn và ánh nhìn tự tin đã cuốn hút sự tin tưởng của mọi người ngay từ giây phút đầu tiên mới tiếp xúc.
Trước những câu hỏi vồ vập của mọi người, Minh Hạnh chậm rãi, từ tốn và rất mạch lạc kể lại câu chuyện trong tù cho mọi người nghe. Hạnh đưa cảm xúc của mình vào từng mạch chuyện, khi vui, khi buồn, lúc căm giận, lúc khinh bỉ...nhưng luôn biết kìm nén để không sa quá đà vào sự bi lụy thái quá trước cảnh thương tâm của bạn tù hoặc sự căm phẫn đến tột cùng trước những hành vi tàn ác đê tiện. Hạnh kể chuyện bị hành hạ tinh thần và vật chất trong tù, chuyện gian khó đấu tranh với lực lượng cai tù, chuyện đấu tranh và khuất phục với đám đông thường phạm bị cai tù giật dây uy hiếp và hành hung Hạnh, chuyện chuyển trại, chuyện gặp gỡ bạn bè đồng chí trong tù, chuyện tiếp xúc với phái đoàn nhân quyền nước ngoài vào thăm. Trong các câu chuyện, Hạnh thường xuyên nhắc đến các bạn tù đồng cảnh ngộ và toát lên mối quan tâm lo lắng đến hoàn cảnh của từng người.
Ánh mắt Hạnh rạng rỡ, giọng Hạnh lộ ra sự tin yêu tự hào khi nói về Tạ Phong Tần. Hạnh kể: Chị Tạ Phong Tần chuyển đến trại Xuân Lộc với Hạnh được vài ngày thì Hạnh phải chuyển ra Hà Nội. Nhưng chỉ vài ngày mà chị Tần đã truyền cho Hạnh một nguồn cảm hứng và một niềm tin mãnh liệt vào tương lai tươi sáng. Những giờ tập trung chung, hai chị em đã bắt lên những bài hát đấu tranh để các bạn tù khác cùng hát theo, đó là những bài hát hừng hực khí thế đấu tranh đã có từ trước hoặc những bài do Hạnh mới sáng tác trong tù. Hạnh kể, chị Tần là một phụ nữ mạnh mẽ, kiên cường, luôn đứng lên đấu tranh trực diện với các giám thị về mọi sự sai trái và bất công trong lao tù. Hạnh nói đầy vẽ tự hào và tin yêu: "Mỗi lần chị Tần nói lý lẽ, các giám thị chỉ còn nước cúi đầu im lặng lắng nghe, không cãi lại được một lời. Và chính vì vậy mà chị Tần còn phải bị hành hạ lâu dài. Nhưng không sao. Những chuyện ấy không ăn thua gì với chị"
Một người, dưới mắt chúng tôi, đầy tự tin, rất kiên cường và mạnh mẽ như Minh Hạnh mà mến phục Tạ Phong Tần đến như vậy thì ắt hẳn Tạ Phong Tần phải là người như thế nào. Qua những gì biết về tính cách của Tạ Phong Tần, chúng tôi hoàn toàn tin vào những gì Minh Hạnh kể, để từ đó vững tin rằng, ngay trong chốn lao tù khắc nghiệt, các tù nhân lương tâm vẫn kiên cường tiếp tục tiến hành cuộc đấu tranh khốc liệt cho công lý và lẽ phải.
Hạnh nhiều lần cố nén nước mắt khi kể về hoàn cảnh của tù nhân lương tâm Mai Thị Dung. Chị Dung là tín đồ Phật giáo Hòa Hảo theo phái chân truyền bị kết án 11 năm tù giam vì không chịu khuất phục và nhận tội theo qui chụp của cơ quan chức năng. Hạnh kể, sức khỏe chị Dung ngày càng suy kiệt, chị mang đủ thứ bệnh trong người sau khi vào tù, chị nằm liệt giường, vệ sinh tại chỗ, không tự đi lại được. Hạnh luôn tìm mọi cơ hội để giúp đỡ và chắm sóc chị. Hạnh phải thường xuyên vào bưng bô đi đỗ và giúp chị Dung làm vệ sinh. Hạnh không chống lại việc lao động, nhưng vì chị Dung, Hạnh tuyên bố với trại tù Thanh Xuân: Nhà nước bắt tôi ở tù thì phải lo cho tôi ăn chứ không phải tôi phải tự lo ăn bằng lao động của mình. Tôi dứt khoát không đi lao động. Hạnh đấu tranh như vậy để được ở nhà chăm sóc cho chị Dung. Trước đây một tháng, khi Hạnh được thông báo sẽ được trả tự do, Hạnh nêu lên ý kiến: Tại sao lại trả tự do cho tôi trong khi chị Dung đang bệnh tật nặng nề cần phải ra ngoài chữa trị lại không trả tự do cho chị? Hạnh nhiều lần đòi hỏi trả tự do cho chị Dung về chữa bệnh. Hạnh nói, Hạnh vừa vui nhưng vừa đau buồn khi cầm tờ quyết định ra tù vì Hạnh lo lắng Hạnh ra rồi không còn ai chăm sóc cho chị Dung. "Bỏ chị ấy ở lại một mình, lòng Hạnh đau như cắt, nhưng không biết làm sao. Hạnh nguyện với lòng, khi ra tù sẽ dành thời gian đấu tranh cho chị Dung"
Chỉ gặp được Minh Hạnh trong vài tiếng đồng hồ, trong không khí tấp nập người ra kẻ vào thăm viếng chào hỏi làm Hạnh không có nhiều thời giờ để chuyện trò, chưa kể liên tục có những cuộc điện thoại từ nước ngoài xin phỏng vấn, nhưng những điều tôi muốn viết về cô gái kiên cường nầy thì phải cần rất nhiều trang giấy. Tuy nhiên xin dừng tại đây, hãy để sự cảm nhận chân thực về Minh Hạnh qua một số video clip mà các bạn ghi được dưới đây.




Vài hình ảnh về Minh Hạnh sau khi được trở về nhà
Rất nhiều bạn bè đến thăm khi Minh Hạnh vừa về đến nhà

Những lẵng hoa và các món quà từ các nơi gởi đến chúc mừng Minh Hạnh



Hai người cha: Bác Ty, cha của Minh hạnh và bác Hoàng, cha của Quốc Hùng
(còn tiếp)

TỪ TÂN PHÚ QUA DI LINH ĐẾN ĐÀ LẠT (tiếp theo)

(Video clip do blogger Huỳnh Công Thuận ghi)
Khi đang ở nhà Minh Hạnh thì có cuộc gọi viber từ Châu Âu về. Đó là chị Ngọc Minh, người mẹ anh hùng vĩ đại của Minh Hạnh, gọi về từ kinh đô Viên. Chị đã đi khắp thế gian để đòi hỏi công lý cho đứa con gái bé bỏng của mình, nay đứa con gái ấy đã về đến nhà mà chị vẫn còn lưu lạc xứ người. Chị nói chuyện và cám ơn tất cả mọi người đang có mặt tại nhà chị để chung niềm vui to lớn có được từ kết quả của cuộc đấu tranh trường kỳ không mệt mỏi của chị. Tôi không quen biết chị trước đây, nhưng biết có tôi tại nhà chị, chị vui mừng nói chuyện với tôi. Chị bất ngờ vì sự có mặt của tôi và tỏ lời cảm ơn nồng nhiệt. Tôi nói với chị: Chúng tôi phải cảm ơn chị mới đúng. Cám ơn chị đã sinh ra một người con Đỗ Thị Minh Hạnh, cám ơn về cuộc chiến đấu của chị để đem lại công lý cho Minh Hạnh.

Chị Ngọc Minh điều trần trước QH Hoa Kỳ
Mỗi người dấn thân vào cuộc chiến đấu luôn có một hậu phương âm thầm phía sau. Người dấn thân bị bắt vào tù, hậu phương chuyển ngay ra tiền tuyến. Minh Hạnh vào tù, mẹ Ngọc Minh xuất hiện, xả thân còn gấp 10 lần con gái, nếu mẹ Ngọc Minh bị bắt, bố Ty- chồng Ngọc Minh- sẽ tiến ra tuyến lửa. Giết chết một ông Trịnh Ngọc Tùng, xuất hiện ngay một Trịnh Kim Tiến và nhiều Trịnh Kim Tiến dự trữ khác. Giam cầm ông Huỳnh Ngọc Tuấn, xuất hiện ngay hàng loạt Huỳnh Ngọc Tuấn khác trẻ trung mãnh liệt hơn, đó là Huỳnh Thục Vy, Huỳnh Trọng Hiếu, Huỳnh Khánh Vy, Huỳnh Phương Ngọc, Trầm Tử...Nhốt Nguyễn Phương Uyên, xuất hiện ngay chị Nhung mẹ Phương Uyên. Bắt giam Đinh Nguyên Kha, xuất hiện ngay anh trai Đinh Nhật uy, bắt giam Đinh Nhật Uy, có ngay mẹ Kim Liên và chị Thạch Thảo tiến lên tuyến đầu, đấu tranh tuy mềm dẻo nhưng kiên trì hơn. Đưa Điếu Cày vào tù, có ngay chị Dương Thị Tân tuy đã ly hôn cũng quay trở lại bước ra tuyến đầu cùng con trai đấu tranh quyết liệt. Sau lưng Tạ Phong Tần có mẹ Kim Liêng bước ra tự thiêu, có các em trai, gái tiến lên tiếp nối. Sau lưng Cù Huy Hà Vũ có vợ Dương Hà, bên cạnh luật sư Lê Quốc Quân, có em trai Lê Quốc Quyết, bên cạnh Lê Thị Phương Anh có chồng Lê Anh Hùng, sau lưng Trần Huỳnh Duy Thức có cha Trần Văn Huỳnh, bên cạnh Mai Thị Dung có chồng Võ Văn Bửu, sau lưng Bùi Hằng có con trai Bùi Trung và Bùi Nhân- được biết con trai Bùi Trung đang có mặt tại Mỹ để đấu tranh cho mẹ mình ...Chưa kể đàng sau tất cả những người dấn thân đó là một lực lượng các hội đoàn xã hội đang càng ngày càng phát triển lớn mạnh, sẵn sàng hỗ trợ bằng mọi cách.
Nhà cầm quyền không nên mơ một giấc mơ rằng có thể dùng bạo lực chuyên chính tiêu diệt hết những người dấn thân vì một xã hội văn minh, một đất nước tiên tiến giàu mạnh; bắt giam được hết những người dân oan; làm run sợ những người yêu nước...

Nhà thơ Bùi Minh Quốc truyền lửa cho chàng trai trẻ Gió Lang Thang


Chiều tối, rời khỏi nhà Minh Hạnh, thay vì trở lại Sài Gòn, các bạn trẻ đề nghị đón xe đi Đà Lạt. Các bạn nói: Đã lên đến đây mà không ghé đến chào hỏi các bậc danh sĩ lão thành Đà Lạt mà lâu nay chúng mình mến mộ là một sự thiếu sót lớn. Các danh sĩ đó là tiến sĩ Hà Sỹ Phu, người đã làm rúng động hệ thống lý luận của đảng CSVN bắng bài viết "Dắt tay nhau đi dưới bảng chỉ đường của trí tuệ", là nhà phản biện kiên trì Mai Thái Lĩnh, là nhà thơ lẫy lừng Bùi Minh Quốc, là nhà tranh đấu Tiêu Dao Bảo Cự, là anh em Huỳnh Nhật Tấn và Huỳnh Nhật Tân, cán bộ của đảng đã khẳng khái bỏ đảng, bỏ chức ngay những năm đầu sau 75.
Xe đến Đà Lạt khá trễ nên anh em chỉ đến được nhà của tiến sĩ Hà Sĩ Phu và gặp được cả bác Mai Thái Lĩnh tại đó. Bác Bùi Minh Quốc hẹn sáng mai mời đến nhà uống cà phê, còn hai bác họ Huỳnh và bác Bảo Cự thì rất tiếc đã đi xa chưa về.
Tại nhà bác Hà Sĩ Phu và hôm sau tại nhà bác Bùi Minh Quốc, hai thế hệ già trẻ gặp nhau, tuy mới lần đầu biết mặt nhưng cứ tưởng như đã quen biết nhau từ lâu. Thế giới mạng đã giúp cho các thế hệ giao tiếp, kết nối và hòa nhập với nhau trên nhiều lãnh vực. Những chuyện còn chưa rõ, những quan điểm còn khác biệt, được hai nhóm trao đổi với nhau từ tối ở nhà bác Hà Sĩ Phu tiếp nối qua sáng hôm sau tại nhà bác Bùi Minh Quốc. Các bác kể cho các bạn trẻ nghe về khoảng thời gian tăm tối bị đàn áp, bị cô lập chỉ vì mạnh dạn lên tiếng phản biện nhằm thúc đẩy tiến trình đổi mới và dân chủ hóa đất nước. Các bác nói: Nhiều lúc chúng tôi cứ ngỡ rằng thế hệ chúng tôi chết đi sẽ không còn ai biết tới, không còn ai tiếp tục đứng lên phản biện, đấu tranh với sự sai trái... nào ngờ ngày hôm nay có cả một thế hệ trẻ đông đảo tiếp nối. Các bạn đã công khai đến với chúng tôi mà không sợ thế lực nhà cầm quyền hù dọa.
Thật ra chúng tôi đã bị hù dọa ngay sau khi ra khỏi nhà bác Hà Sĩ Phu vào tối hôm đó. Vài cái đuôi đã bám theo chúng tôi về đến khách sạn. Tôi nói anh em gởi giấy tờ đúng thủ tục để tối khỏi bị làm khó dễ. Lê Quốc Quyết và Gió Lang Thang tinh nghịch, sau khi nhận phòng liền ra khỏi khách sạn, lang thang đi ăn chơi khắp mọi nơi cho đến 12 giờ mới về, làm cho mấy cái đuôi phải chia ra, một nửa canh gát trước khách sạn, một nửa lê lết bám theo hai chàng khá là cực nhọc.
Chờ cho hai chàng đi chơi về lại phòng, một lực lượng công an chìm nổi và dân phòng đông đảo ập vào kiểm tra các phòng. Chúng tôi, từng phòng một bị đập cửa gọi dậy để kiểm tra. Tôi và Huỳnh Công Thuận ở chung một phòng không cho kiểm tra vì đã đăng ký hợp pháp. Viên công an trưởng đoàn bịa ra cớ rằng vì khách sạn báo cáo số khách đến trú ít hơn so với thực tế nên phải đi kiểm tra (làm sao mà biết khách ít hơn) và nại lý do nhân viên tiếp tân cất giấy tờ chúng tôi vào tủ rồi khóa lại và mang chìa khóa về nhà nên không biết chúng tôi là ai do vậy cần phải hỏi tên tuổi chúng tôi. Tôi và Thuận sẵn sàng khai tên họ, nhưng khi viên trưởng đoàn hỏi chúng tôi đến đây lúc mấy giờ và dự định ở bao lâu thì tôi phản ứng ngay: Các anh có cần thiết phải xâm phạm vào quyền riêng tư của môt công dân hợp pháp như chúng tôi không?
Biết không hù dọa gì được chúng tôi, đoàn kiểm tra đông đảo lặng lẽ rút lui, lúc đó Hà Lan vừa đá thủng lưới Mexico bàn thứ hai.

Huỳnh Ngọc Chênh