Thứ Bảy, 2 tháng 8, 2014

Đoan Trang : Xã Hội Dân Sự ở Việt Nam: Đang nổi lên nhưng cần… gần dân hơn

Nguồn phamdoantrang

Friday, August 1, 2014

Một trong những câu nói ưa thích của rất nhiều người trong cuộc đấu tranh chống độc tài cộng sản, là: Đừng sợ những gì cộng sản làm, hãy làm những gì cộng sản sợ.

Phát biểu này được nhiều người coi như tư duy chiến lược, và tôi nghĩ nó cũng đúng ở một mức độ nào đó. Nhưng nếu có thể, tôi muốn sửa một chút câu chữ để nó trở thành:

Hãy làm những gì cộng sản không làm hoặc không làm được!

Và tôi tha thiết muốn nói điều ấy với những cá nhân và tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt là khối dân sự đang nổi lên, vươn ra ngoài vòng kiểm soát của chính quyền và bị chính quyền đánh phá quyết liệt.

Điều gì cộng sản không làm hoặc không làm được?

Với một nhà nước kém năng lực điều hành quốc gia như nhà nước công an trị ở Việt Nam, nói chung có rất nhiều điều họ không làm (hoặc không làm được). Nhưng có thể tóm gọn lại rằng, họ không làm những việc hướng tới người dân, tập trung vào phục vụ và bảo vệ quyền lợi của người dân.

Có thể thấy ngay rằng, tất cả các vị lãnh đạo, các cấp lãnh đạo ở Việt Nam, cũng như toàn bộ các chính sách của chính quyền Việt Nam, chỉ cần họ/chúng thực sự vì con người thôi thì đã khác hẳn. Có một ví dụ rất nhỏ mà tôi vẫn thường sử dụng mỗi khi trao đổi với ai về vấn đề "chính sách công và quyền con người": Tòa nhà bưu điện ở trung tâm thành phố Hà Nội. Từ năm 2003, tôi đã nghe một vận động viên Paragames của Việt Nam thổ lộ với chút tủi thân: "Nhà đẹp, nhìn ra hồ Gươm nhiều cây xanh, trên nóc nhà lại có cái đồng hồ to đẹp lắm. Nhưng mấy bậc thang cao quá, người tàn tật như chị cả đời chẳng mơ vào bên trong được".

Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội tọa lạc ngay cạnh đó. Chỉ cần một ông/bà quan chức biết nghĩ đến dân, đến quyền con người căn bản, thì thực trạng đã khác, và người phụ nữ tàn tật kia đã không phải nói câu "cả đời chẳng mơ vào bên trong được". Nhưng tất nhiên là chẳng ông/bà quan chức nào quan tâm tới chuyện đó. Họ không nghĩ ra được gì và càng không có sức ép phải nghĩ. Đằng nào dân chúng nói chung và người khuyết tật nói riêng cũng chẳng làm họ mất chức được.

Vào mùa hạ năm 2010, khi miền Bắc Việt Nam trải qua đợt nóng kỷ lục với nhiệt độ ngoài trời lên tới 45 độ C (ở Hà Nội), thì thủ đô Budapest của Hungary cũng chịu những ngày nắng nóng dữ dội: 37 độ C. Nhưng khác với Hà Nội và nhiều đô thị khác ở Việt Nam nơi điện và nước bị cắt luân phiên không một lời xin lỗi thì tại Hungary, Sở Nước Budapest đã tiến hành phát nước mát miễn phí cho người đi đường tại nhiều nơi ở thành phố. Nước được cung cấp từ các bình nhựa lớn, hoặc được đóng chai, phát trực tiếp cho khách (kể cả người đi xe đạp lẫn người đang lái ô tô)… Tại quảng trường Deák (trung tâm Budapest), nước mát được phát miễn phí từ 8 giờ sáng đến 6 giờ chiều. Các bình nước hoạt động theo cơ chế tự phục vụ, dân muốn uống bao nhiêu tùy thích.

Rồi cứ vào mỗi dịp lễ, khi nhu cầu ẩm thực trên thị trường gia tăng, các cơ quan chức năng lại tích cực truyền bá, phổ biến thông tin, kiến thức cho người dân về dùng loại thức ăn nào, như thế nào, cho đảm bảo dinh dưỡng, hợp vệ sinh, tốt cho sức khỏe. Cùng với việc cung cấp thông tin hướng dẫn, chính phủ các nước EU còn tiến hành kiểm tra, giám sát thực phẩm rất ngặt nghèo từ khâu chăn nuôi, giết mổ gia súc gia cầm trở đi. Ví dụ một đối tượng bị "theo dõi" triệt để là các lò mổ.

Chính quyền Việt Nam chẳng bao giờ làm gì để người dân cảm thấy mình đang được quan tâm. Không hẳn do thiếu nguồn lực, vì có nhiều việc thật ra không quá tốn kém; thậm chí chỉ cần họ nhìn ra và dự định làm thì chắc chắn sẽ có nguồn lực từ toàn xã hội đóng góp. Ví dụ, nói riêng về tuyên truyền: Chính quyền nuôi được hàng nghìn dư luận viên chống phản động trên mạng 24x24 giờ, lẽ nào không đủ tiền chi trả cho hoạt động phổ biến kiến thức về thực phẩm, dinh dưỡng?

Họ không làm, hoặc không làm được, do quá dốt nát mà lại không phải chịu sức ép thay đổi gì cả. Có vậy thôi.

Nhưng câu hỏi đặt ra cho chúng ta lúc này là: Đã đành nhà nước bất nhân, bất tài, bất lực, nhưng xã hội dân sự thì sao?

Hội Truyền bá chữ quốc ngữ (thành lập năm 1938) là một tổ chức XHDS. 
Sau này, phong trào bình dân học vụ cũng là một trong các biện pháp mà 
những người cộng sản dùng để lấy lòng dân.

Khối xã hội dân sự độc lập và những nhược điểm

Vài năm qua, số lượng các tổ chức dân sự độc lập, không chịu sự kiểm soát của nhà nước và (tất nhiên) không được nhà nước công nhận, ra đời ngày càng nhiều. Đặc điểm chung của họ là đều coi việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người căn bản là sứ mệnh, và họ công khai tiến hành các hoạt động nhân quyền của mình mà không cần xin phép nhà nước. Do đó, tất yếu dẫn đến việc họ đều mâu thuẫn với chính quyền Việt Nam – vốn là một chế độ công an trị, không coi con người ra gì và xem quyền con người chỉ là "chiêu bài" mà "thế lực thù địch" mượn để chống phá Đảng và Nhà nước. Và cũng do đó, họ đều bị công an đàn áp, sách nhiễu. Khó khăn về tài chính, nhân lực, tóm lại là sự eo hẹp về nguồn lực, cũng hạn chế họ đáng kể.

Trong hoàn cảnh ấy, không thể phủ nhận rằng các tổ chức dân sự độc lập vẫn làm được rất nhiều việc. Họ đã tiến hành những cuộc biểu tình chống Trung Quốc hừng hực khí thế, kết nối những người quan tâm đến vận mệnh đất nước lại thành phong trào. Họ giúp dân oan tổ chức tuần hành đòi đất, khiếu kiện trong các vụ oan sai. Họ làm thiện nguyện, giúp đỡ người nghèo, hỗ trợ gia đình các tù nhân lương tâm, thương phế binh VNCH, tưởng niệm các liệt sĩ trong chiến tranh biên giới và hải chiến Hoàng Sa, Trường Sa. Họ tích cực lên tiếng, làm truyền thông, tố cáo với dư luận trong nước và quốc tế về những vụ vi phạm nhân quyền của lực lượng công an và chính quyền các cấp. Chắc chắn là thông qua những gì làm được, khối xã hội dân sự độc lập đã góp phần tăng cường nhận thức của nhiều người dân về nhân quyền và dân chủ.

Tuy nhiên, thành thực mà xét thì các hình thức hoạt động của những tổ chức dân sự độc lập này nói chung chia sẻ một số nhược điểm: 1. Nghèo nàn, đơn điệu; 2. Không thực sự thúc đẩy những quyền lợi thiết thân, sát sườn của quảng đại quần chúng; 3. Vì hai nhược điểm trên, họ chưa thu hút được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng. Nói cách khác, có vẻ như họ cũng chưa lấy được lòng dân. Không tính đám dư luận viên và những cá nhân bị nhồi sọ quá nặng tới mức nhìn xã hội dân sự như kẻ thù, ngay cả trong những người ủng hộ dân chủ, vẫn có những ý kiến xa lánh, không tán thành và không tham gia các hoạt động của họ.

Nói "nghèo nàn, đơn điệu", là bởi vì cho tới nay, các hoạt động chủ yếu của khối dân sự độc lập mới chỉ dừng lại ở hơn 20 hình thức: viết bài, phổ biến trên mạng; lập website thông tin; in áo phông cổ động (ví dụ áo Trường Sa-Hoàng Sa, chống đường lưỡi bò, đòi trả tự do cho tù nhân lương tâm); in các ấn phẩm; ra các tuyên bố, kiến nghị, gửi thư ngỏ; tổ chức biểu tình; làm từ thiện; thả bóng bay và phát tài liệu về nhân quyền; đi thăm gia đình tù nhân lương tâm; đấu tranh đòi công an thả người, chấm dứt nạn bắt giữ tùy tiện; vận động quốc tế tại Liên Hợp Quốc, các đại sứ quán, các tổ chức quốc tế về nhân quyền, v.v.

Tôi có thống kê được khoảng 23 hình thức đấu tranh như vậy. Nghe thì có vẻ đa dạng, nhưng thật ra vẫn tạo cảm giác nghèo nàn, bởi vì chúng phạm vào nhược điểm thứ hai: Không thực sự thúc đẩy những quyền lợi thiết thân, sát sườn của số đông người dân. Hay nói cách khác, chúng không thuyết phục được quảng đại quần chúng rằng họ có liên quan, rằng những tổ chức dân sự đó đang đấu tranh vì quyền lợi của họ, vì một xã hội tốt đẹp chung cho tất cả mọi người (chứ không phải cho riêng một tôn giáo, một cộng đồng sắc tộc, một thiểu số cá nhân nào).

Điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là: Quyền con người căn bản của tất cả các cá nhân trong xã hội đều cần được bảo vệ và tôn trọng; nhưng trong bối cảnh hiện nay, các tổ chức dân sự hoạt động vì nhân quyền và dân chủ cần phải cho xã hội thấy được rằng mình đang đấu tranh vì những quyền lợi thiết thân, sát sườn, gần gũi và cụ thể, của số đông. (*)

Riêng về việc bảo vệ tù nhân lương tâm, đã có tới 3-4 tổ chức chuyên về hoạt động này. Về tự do ngôn luận, cũng có tới vài nhóm hội. Đó là một điều tốt, cần thúc đẩy "trăm hoa đua nở". Nhưng nhiều lĩnh vực khác gần gũi hơn lại chẳng có tổ chức nào.

Hàng trăm vụ đánh đập, làm nhục, hiếp, giết trẻ em mỗi năm. Hàng trăm trẻ em gặp vấn đề về tâm lý sau những vụ bạo hành, bạo lực gia đình, tai nạn mỗi năm. Chính quyền có chính sách gì, làm gì để thay đổi tình trạng đó và bù đắp cho phần đời còn lại của các em? Không gì cả. Vậy, đây có phải chính là một trong những vấn đề mà khối xã hội dân sự độc lập có thể tham gia cải thiện không?

Phần đời còn lại của những em bé này sẽ ra sao?
(Nguồn ảnh: Phụ nữ Today)

Môi trường Việt Nam đang ô nhiễm. Có nhiều nguồn gây ô nhiễm nhưng hai nguồn có thể thấy rõ nhất là chất thải xây dựng và rác sinh hoạt, trong đó, nguồn thứ hai (rác sinh hoạt) là nguồn mà khối dân sự có thể tham gia kiểm soát được, ít nhất là tại các đô thị, khu du lịch… Tôi biết vào ngày 25/5 vừa qua, một nhóm bạn trẻ ở Sài Gòn đã bị nhân viên an ninh phối hợp với bảo vệ công viên ngăn cản, không cho đi nhặt rác ở công viên. Nhưng tôi tin rằng, vẫn có những cách để các bạn trẻ làm được việc đó, và cách ấy là như thế nào thì tùy thuộc vào khả năng tổ chức, vào sự sáng tạo của khối dân sự độc lập và chính các bạn trẻ.

Nền giáo dục - đào tạo của Việt Nam đang kìm giữ năng lực, khả năng cạnh tranh của thanh niên Việt Nam thụt lùi tới hàng thế hệ so với khu vực và thế giới. Chính quyền không làm gì cả, vì vẫn còn "lấy Đảng làm trung tâm" thay vì lấy người học làm trung tâm. Vậy, đây có phải chính là một trong những vấn đề mà khối xã hội dân sự độc lập có thể tham gia cải thiện không? Thành lập các nhóm hội học tập, mở lớp "bình dân học vụ", xây dựng thư viện sách ở nông thôn, chẳng phải cũng đều là việc thiết thực hay sao?

Về vấn đề chống tra tấn, tìm cả nước, không có lấy một chuyên gia. Về kỹ năng xây dựng, vận hành, quản lý tổ chức dân sự, vận động quốc tế, không có lấy một khóa học.

Rồi bảo vệ người tiêu dùng, chống nạn thủy điện xả lũ vô trách nhiệm làm chết dân, nghiên cứu về tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông và quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, v.v. Đó đều là những việc mà cộng sản không làm (được) và khối xã hội dân sự có thể tham gia. 

Việt Nam nhỏ bé… nhưng vẫn có rất nhiều việc phải làm

Có thể sẽ có ý kiến phản bác rằng: Nhưng nếu thể chế chính trị không thay đổi, nếu chính quyền cộng sản vẫn tại vị, bất nhân, bất tài, bất lực như vậy, thì mọi hoạt động của các tổ chức dân sự, dù tốt đẹp đến mấy cũng chỉ như muối bỏ bể, không thể cải thiện tình hình. Chúng ta xây dựng bao nhiêu thư viện sách ở nông thôn thì đủ để nâng cao dân trí? Chúng ta nhặt rác bao nhiêu ngày chủ nhật thì đủ để làm sạch môi trường? Nói cách khác, xã hội dân sự là cần thiết, nhưng nó không thể tạo sự thay đổi một cách nhanh chóng và triệt để được, vì nó lâu lắm, chậm chạp lắm, chưa kể nó còn bị đàn áp, bị đối xử tàn tệ như trong hoàn cảnh Việt Nam. Các tổ chức xã hội dân sự chỉ có thể hoạt động hiệu quả trong một thể chế dân chủ mà thôi.

Nhưng tôi nghĩ khác: Trong một xã hội như ở Việt Nam lúc này mà các tổ chức dân sự không làm được gì nhiều, thì đừng mơ khi thể chế thay đổi, họ sẽ là một lực lượng tiến bộ, vận hành tốt, bảo vệ được nhân quyền và nền dân chủ non trẻ. Mọi sự tiến bộ trong tương lai đều cần được tạo nền móng ngay từ bây giờ.

Việt Nam là một đất nước nơi quyền con người bị vi phạm trên tất cả các lĩnh vực (quyền sống, quyền tự do thân thể, quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, quyền của người lao động, quyền trẻ em, quyền phụ nữ, quyền của người đồng tính v.v.) Nhưng chính bởi vậy mà luôn luôn có rất nhiều việc để chúng ta làm, vì một xã hội tốt đẹp hơn – tất nhiên, nếu chúng ta thực sự vì dân.

Blogger cầu nguyện cho blogger, nhà thờ Thái Hà, 27/7. Ảnh: Nguyễn Lân Thắng 

====

Bài viết là quan điểm cá nhân của tôi với mong muốn góp một ý kiến cho sự phát triển của các phong trào xã hội và tổ chức dân sự trong nước, ngoài ra không có dụng ý gì khác.

(*) Cho rằng các tổ chức xã hội dân sự độc lập ở Việt Nam hiện nay cần tăng cường đấu tranh "vì những quyền lợi thiết thân, sát sườn, gần gũi và cụ thể, của số đông", không có nghĩa là xã hội dân sự phải làm luôn cả những việc mà chắc chắn là thuộc nghĩa vụ của nhà nước và chỉ của nhà nước. Chẳng hạn, "thay nhà nước hành luật", như thành lập câu lạc bộ săn bắt cướp hay tổ đội chống trộm chó, là việc làm lẽ ra phải bị cấm, thay vì khuyến khích. Vai trò của xã hội dân sự ở đây là vận động, thúc ép, bắt buộc chính quyền phải xử lý nạn cướp giật và bắt trộm chó, chứ không phải là người dân đứng ra "tự xử".

GS Nguyễn Văn Tuấn : Phản ứng trước báo cáo nhân quyền của LHQ

Post lại từ basam

Posted by Admin on August 1st, 2014

GS Nguyễn Văn Tuấn

01-08-2014

Quan sát phản ứng của Chính phủ VN trước báo cáo về tôn giáo của đặc phái viên Liên hiệp quốc Heiner Bielefeldt cũng thú vị. Báo chí thì tự khen ngợi qua những cái tít như "Việt Nam nghiêm túc thực hiện cam kết quốc tế về nhân quyền", hay có phần khiêm tốn hơn như "Báo cáo viên LHQ đánh giá cao tiến triển của VN về tôn giáo". Nhưng tất cả hai cái tít tiêu biểu đó không nói lên sự thật khác là báo cáo chỉ ra rằng VN đã và đang vi phạm nghiêm trọng quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng của người dân!

Thật vậy, báo cáo của LHQ có đoạn viết: "những vi phạm nghiêm trọng đối với quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng là một thực tế đang diễn ra ở Việt Nam – nhất là ở các vùng nông thôn, tuy không phải chỉ có ở nông thôn." Đoạn báo cáo ngắn nhưng quan trọng này hầu như không được nhắc đến!

Nhưng quan sát phản ứng của Chính phủ VN trước những phàn nàn của đặc phái viên LHQ tôi chỉ biết lắc đầu. Đó là một loại phản ứng chối cãi. Trong buổi họp báo, ông Bielefeldt tường thuật rất rõ rằng: "Tôi nhận được những thông tin đáng tin cậy là một số cá nhân tôi muốn gặp đã bị đặt dưới sự theo dõi chặt chẽ, cảnh cáo, đe dọa, sách nhiễu hoặc bị công an ngăn cản việc đi lại. Ngay cả những người đã gặp được tôi cũng không tránh khỏi việc bị công an theo dõi hoặc chất vấn ở một mức độ nhất định."

Và ngay cả cá nhân ông cũng bị theo dõi và bị xâm phạm riêng tư:

"Ngoài ra, việc di chuyển của tôi cũng bị giám sát chặt bởi 'những cán bộ an ninh hoặc công an: mà chúng tôi không được thông báo rõ, đồng thời sự riêng tư và bảo mật của một số cuộc gặp gỡ cũng bị ảnh hưởng. Những việc này là sự vi phạm rõ ràng các điều khoản tham chiếu của bất kỳ chuyến thăm quốc gia nào'."

Vậy mà trong bản tin báo chí của Bộ Ngoại giao (2), trích lời của một người tên là Phạm Hải Anh, nói rằng: "Về một số vấn đề ông Beilefeldt nêu tại cuộc họp báo ngày 31/7, tôi cho rằng đã có sự hiểu lầm, chưa trao đổi hết thông tin. Theo nghị quyết 5/2 của Hội đồng Nhân quyền, nước chủ nhà có trách nhiệm đảm bảo an ninh, an toàn tuyệt đối cho Báo cáo viên đặc biệt trong suốt chuyến thăm. Luật pháp Việt Nam bảo đảm mọi người dân có quyền tự do tiếp xúc, gặp gỡ với bất cứ ai họ muốn. Thời gian qua, Năm Thủ tục đặc biệt của Hội đồng Nhân quyền đã thăm Việt Nam, tiếp xúc với rất nhiều cá nhân, tổ chức và thành công tốt đẹp."

Hình như cũng quan chức này phát biểu rằng "Và chúng tôi cam đoan rằng, tự do tôn giáo ở Việt Nam luôn được tôn trọng" (3), trong buổi họp báo của đặc phái viên LHQ.

Tôi không hiểu nỗi: hiểu lầm gì ở đây?! Ông ấy nói chuyến đi không thành là do chính quyền địa phương đe doạ, sách nhiễu, ngăn cản. Ngay cả cá nhân ông ấy cũng bị làm phiền. Người ta nói rõ như thế, mà gọi là hiểu lầm thì quả là khó hiểu? Vấn đề là có hay không có việc ngăn cản, sách nhiễu, đe doạ như ông ấy nói? Yes hay là No? Nếu có thì nói là có, và giải thích cho ông ấy hiểu; nếu không thì nói là không. Tôi nghĩ phản ứng "hiểu lầm" của phía VN là hơi lạc đề.

Nói chung, phản ứng của Chính phủ VN có phần trốn tránh vấn đề và thiếu tự tin.

Phản ứng của chính quyền VN rất khác với phản ứng của Chính phủ Úc. Năm ngoái, khi bản báo cáo về tình hình nhân quyền của Úc của LHQ được công bố, mà trong đó bản báo cáo liệt kê 150 vi phạm luật pháp quốc tế về người tị nạn mà Úc vi phạm. Mặc dù báo cáo có nhiều điểm tốt cho Úc, nhưng báo chí họ chỉ quan tâm đến những điểm xấu. Hệ thống truyền thông của Úc như vớ được vàng, họ làm ầm ĩ suốt cả tuần. Kể cả đài ABC và SBS là hai đài của Nhà nước cũng vớ lấy bản báo cáo và không tiếc lời phê phán Chính phủ Úc. Báo Sydney Morning Hereald (nhật báo có uy tín nhất của Úc) chạy cái tít "Australia violated refugees' human rights, UN says" (tạm dịch: Liên hiệp quốc nói Úc vi phạm nhân quyền của người tị nạn). Nhật báo này còn mỉa mai Úc là đạo đức giả: suốt ngày đi phê phán người khác về nhân quyền, trong bản thân mình thì đối xử tệ với người tị nạn!

Tôi nhớ có lần một báo cáo của LHQ phê phán Chính phủ Úc về tình trạng người thổ dân. Trong báo cáo phần lớn là khen Úc có chính sách tích cực với người thổ dân, nhưng có đoạn đặt vấn đề tuổi thọ của người thổ dân còn quá thấp. Tuổi thọ trung bình của người thổ dân hiện nay là 69 ở nam giới và 74 tuổi ở nữ giới (so sánh với Úc da trắng: 80 ở nam và 84 ở nữ). Tôi biết Chính phủ Úc chi rất rất nhiều tiền để lo cho người thổ dân, nhưng tình hình cải tiến rất chậm. Đối với LHQ, sự chênh lệch 10 năm về tuổi thọ giữa người da trắng và thổ dân là một vấn đề: vấn đề nhân quyền! Báo chí cũng được một phen làm lớn chuyện về vấn đề này.

Trước những công kích của LHQ và báo chí như thế, Chính phủ Úc phản ứng ra sao? Rất bình thản. Các bộ trưởng liên quan cũng lên đài và báo chí để trình bày quan điểm của Chính phủ. Trước hết, họ cám ơn và ghi nhận những phê phán của đặc phái viên LHQ. Họ đồng ý rằng một số vi phạm là có xảy ra, một số thì còn trong vòng điều tra, một số thì họ không đồng ý. Nhưng sở dĩ Chính phủ Úc bình thản là vì họ nói tất cả những điều gọi là "vi phạm" đó họ đều biết, mà không chỉ biết, họ ĐÃ có biện pháp khắc phục vấn đề. Úc có sẵn tất cả các thiết chế để đáp ứng bất cứ vấn đề nào. Do đó, tất cả những gì LHQ đề nghị không hề mới với Úc vì Chính phủ Úc đã làm. Nói cách khác, họ bình thản vì họ chủ động, chứ không để người ngoài vào chỉ họ phải làm gì.

Tôi nghĩ phản ứng của Chính phủ Úc là một phản ứng của người trưởng thành, của một Chính phủ đầy tự tin. Vì trưởng thành nên họ không dấu diếm, sẵn sàng đương đầu với sự thật. Sự tự tin làm cho họ bình thản đối phó với bất cứ phê phán nào.

Tôi nghĩ những gì ông đặc phái viên LHQ mô tả những khó khăn của ông trong khi công tác ở VN không làm ai ngạc nhiên. Công việc của ông và những người ông tiếp xác thuộc vào nhóm "tế nhị" đối với Nhà nước, nên họ dè dặt và nều cần cấm đoán. Các chuyên viên nước ngoài khi đến VN làm việc, thậm chí các nhóm làm từ thiện thuần tuý, đều bị theo dõi chặt chẽ. Có người chưa quen thì ngạc nhiên, nhưng những ai quá quen rồi thì họ chỉ mỉm cười [khinh bỉ]. Dĩ nhiên, những việc làm như thế của chính quyền chẳng giúp gì cho VN, mà còn làm cho hình ảnh VN xấu đi trên trường quốc tế. Mỗi khi nói đến sự kiểm soát mang tính Mao-Stalin người ta sẽ lấy VN ra làm ví dụ tiêu biểu để làm chuyện cười.

Việc theo dõi người nước ngoài có lẽ xuất phát từ một tâm trạng bất an và thiếu tin tưởng vào con người. Tôi nghĩ giới an ninh hay chính quyền VN nói chung thiếu khẳ năng tin vào con người; họ nhìn ai cũng đáng nghi ngờ hay có tiềm năng gây tác hại cho họ (chế độ), và từ đó họ thấy ai cũng đáng bị theo dõi. Ngay cả người dân trong nước cũng bị làm khó vì cách nhìn này. Có lẽ quan điểm này xuất phát từ tâm lí "suy bụng ta ra bụng người" (ngày xưa mình vậy, bây giờ chắc nó cũng vậy). Do đó, một người phương Tây đại diện cho LHQ (lại một tổ chức phương Tây), mà phương Tây có khi được xem là kẻ thù, nên việc làm và đi lại của ông đặc phái viên đều đặt dưới sự giám sát của an ninh. (Chỉ có điều sự giám sát đó quá lộ liễu đến nỗi ông ấy phải phàn nàn, và điều đó nói lên năng lực của phía VN. Tôi nghĩ nên tạo điều kiện cho giới công an và an ninh sống và làm việc ở các nước phương Tây một thời gian để họ làm quen với những văn hoá ngoài đó và có hành xử "văn minh" hơn).

Một lí do khác có lẽ là do tư duy địch – ta cũng làm cho nhà cầm quyền VN cảm thấy ngại với các đặc phái viên từ phương Tây. Trên thế giới chỉ còn có vài nước theo XHCN hay cộng sản (trên danh nghĩa), và họ cảm thấy cô độc. Từ cô độc đến nhìn người khác như là địch. Mà, địch là xấu, nên phải theo dõi. Với tư duy loại thời tiền sử này thì VN sẽ tự làm khổ mình về lâu dài. Theo tôi, không nên phân biệt dựa trên tiêu chuẩn địch ta nữa, mà nên đánh giá dựa trên tiêu chuẩn vì lợi ích quốc gia dân tộc.

Kể từ ngày VN "mở cửa" đến nay cũng đã gần 30 năm (nếu tính từ 1986). Trong 3 thập niên dài như thế mà cách ứng xử của VN đối với các đoàn công tác của nước ngoài hình như chẳng có gì thay đổi nhiều. Thoải mái hơn thì tôi nghĩ có, tự do hơn cũng có, nhưng nhìn chung thì vẫn còn rất hạn chế. Đến hôm nay mà sự giới hạn vẫn còn, qua lời kể của ông Heiner Bielefeldt, thì quả là một điều đáng tiếc. Còn cách đối phó với những báo cáo bất lợi, tôi nghĩ nên Chính phủ nên lịch sự cảm ơn họ, và thành thật nhìn nhận có vấn đề và chủ động giải quyết, thay vì nói người ta "hiểu lầm" hay phớt lờ những chỉ trích của người ta. Một Chính phủ tự tin và trưởng thành phải thừa bản lĩnh để hứng chịu — chứ không trốn tránh — những chỉ trích.

—-

(1) Thông cáo báo chí về tự do tôn giáo tại VN (bảng tiếng Anh):
http://www.ohchr.org/EN/NewsEvents/Pages/DisplayNews.aspx?NewsID=14914&LangID=E

(2) Phản ứng của Bộ Ngoại giao VN:
http://www.mofa.gov.vn/vi/nr040807104143/ns140731095455

(3) http://www.danluan.org/tin-tuc/20140731/truc-tiep-hop-bao-cong-khai-thong-bao-ket-qua-so-bo-chuyen-tham-cua-bao-cao-vien

Nguồn: FB Nguyen Tuan

Tiêu Dao Bảo Cự - Trách nhiệm của “những đảng viên cộng sản vì dân vì nước” đến đâu?

Nguồn diendan

Thứ Sáu, ngày 01 tháng 8 năm 2014


(qua Thư ngỏ ngày 28/7/2014 gởi Ban Chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.)

Nhiều người có thể nhìn thấy Thư ngỏ ngày 28/7/2014 gởi Ban Chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đây gọi tắt là Thư ngỏ)của 61 đảng viên là một bước ngoặt lớn trong nội bộ những người cộng sản. Tiếp theo việc một số người tuyên bố từ bỏ Đảng Cộng sản có tính lẻ tẻ, cá nhân và lời kêu gọi bỏ Đảng Cộng sản, thành lập đảng mới của Lê Hiếu Đằng chưa được đáp ứng thì việc xuất hiện Thư ngỏ này quả là một bước đột phá.

Những đảng viên ký Thư ngỏ là những đảng viên kỳ cựu, từ hơn 20 cho tới 70 tuổi đảng, đã từng giữ những chức vụ quan trọng trên nhiều lãnh vực hoặc là những trí thức ưu tú có uy tín trong xã hội, đã kinh qua chiến đấu và góp phần xây dựng Đảng. Đây là cuộc tập hợp chưa từng có trước đây.

Những vấn đề Thư ngỏ nêu lên thực ra không mới, người ta, nhất là phía "lề dân" và ngay cả một số đảng viên cộng sản đã nói nhiều, nhưng đây là lần đầu một tập thể khá đông đảng viên minh nhiên nói ra. Hai vấn đề cốt tử được nêu lên là chuyển đổi thể chế từ toàn trị sang dân chủ và "thoát Trung", bằng những lời xác quyết ngắn gọn, rành mạch. Thư ngỏ đã nhận định tình hình, phê phán và cảnh báo nghiêm khắc đối với đảng, đồng thời đưa ra những biện pháp cụ thể chứ không phải chỉ nói chung chung.

Những người ký Thư ngỏ đã không ngần ngại xác định, chỉ ra những sai lầm nghiêm trọng của Đảng Cộng sản và không né tránh trách nhiệm của chính mình. Đó là một thái độ trung thực, thẳng thắn và can đảm.

Cho đến nay, trên phạm vi toàn thế giới, nhiều quốc gia và người dân, ngay cả tại những nước từng theo chế độ cộng sản, đánh giá chủ nghĩa cộng sản, nhất các chế độ cộng sản, như một tội ác lớn chống lại loài người, đã giết vài chục triệu người và đày đọa hàng trăm triệu người khác trong cảnh khốn cùng, mất tự do. Tuy nhiên cũng đã có một thời kỳ, lý tưởng cộng sản được xem như khát vọng và lương tri của một nửa phần nhân loại. Không chỉ những công nhân dưới chế độ tư bản man dã, những người bị bóc lột, áp bức, nhân dân các nước bị nô lệ, mà cả những trí thức có lương tri cũng đã tán thành và đấu tranh cho lý tưởng cộng sản. Nhưng rồi thực tế lịch sử cho thấy khi những người cộng sản đã nắm được quyền lực, mọi sự đều đã quay ngược chiều cho đến khi sai lầm trở nên nghiêm trọng, tan rã toàn hệ thống và trở thành tội đồ của lịch sử. Đây là một bi kịch của chủ nghĩa cộng sản và cũng là bi kịch của nhân loại trong thế kỷ 20.

Ngay từ những ngày đầu thành lập và suốt lịch sử của mình, đảng cộng sản Việt Nam có không ít những người thực sự có lý tưởng cộng sản, chống áp bức bóc lột, vì độc lập dân tộc và đã hi sinh không ít máu xương cho cuộc chiến đấu của mình. Hiện nay trước tình hình suy thoái toàn diện của đảng, những người ký Thư ngỏ tự nhận là"những đảng viên ĐCSVN trung thành với tâm nguyện vì nước vì dân khi vào Đảng" đã lên tiếng.

Đọc Thư ngỏ, người dân có thể hỏi và cũng là vấn đề đương nhiên được đặt ra cho chính người trong cuộc, là nếu đảng không đáp ứng những yêu cầu của quý vị (mà xem ra tình hình sẽ như thế) thì quý vị sẽ làm gì? Có thể nghĩ đến hai cách:
- Tiếp tục cuộc vận động mạnh mẽ trong toàn đảng để lôi kéo những đảng viên còn "vì nước vì dân" làm một cuộc chuyển hóa mạnh mẽ trong Đảng. Đây là việc không hề dễ dàng với sức ỳ và sự cố kết của các thành phần bảo thủ đang nắm quyền lực và quyền lợi trong Đảng.

- Ra khỏi Đảng hay thành lập một đảng mới và đứng về phía nhân dân tiến hành một cuộc đấu tranh cho tổ quốc và dân quyền. Đây cũng là việc mà một số trong thành phần những người ký Thư ngỏ đã và đang làm.
Với sự xuất hiện của Thư ngỏ, một số người dân và đảng viên có thể có chút hi vọng vì sự chuyển hóa trong Đảng liên quan đến vận mệnh đất nước. Tuy nhiên đại đa số người dân có thể tán thành và hoan nghênh nhưng không thể trông chờ hoàn toàn về điều này mà vẫn phải luôn tiến hành cuộc đấu tranh của mình, trước hết thông qua những hoạt động và tổ chức xã hội dân sự đang dần khởi sắc để đạt đến mục tiêu dân chủ hóa, phát triển đất nước và thoát vòng nô lệ của Trung quốc.

Còn về phía những đảng viên ký Thư ngỏ, những người tự nhận là vì dân vì nước và không chối bỏ trách nhiệm của mình về những sai lầm của đảng, nếu không tiếp tục làm gì tích cực tiếp theo, thì cũng chỉ khác với những đảng viên đang cầm quyền là họ đã về hưu.

Đà Lạt 31/7/2014
TDBC

Thứ Sáu, 1 tháng 8, 2014

Phỏng vấn tiến sĩ Heiner Bielefeldt, báo cáo viên đặc biệt của LHQ về tự do tôn giáo

Nguồn RFA

Ỷ Lan, Phóng viên RFA, Paris 2014-07-31

Tiến sĩ Heiner Bielefeld, báo Cáo Viên LHQ gặp HT Thích Quảng Độ hôm 27.5.2014
Tiến sĩ Heiner Bielefeld, báo Cáo Viên LHQ gặp HT Thích Quảng Độ hôm 27.5.2014
 RFA

Tiến sĩ Heiner Bielefeldt, Báo cáo viên LHQ Đặc nhiệm Tự do Tôn giáo vừa kết thúc chuyến viếng thăm điều tra tình hình tôn giáo tại Việt Nam, từ ngày 21 đến ngày 31.7.2014

Trong cuộc Họp báo trưa ngày 31.7 tại Hà Nội, ông xác nhận "những vi phạm trầm trọng tự do tôn giáo tại Việt Nam" và ông đã bị "ngăn cấm gặp gỡ một số người cần gặp trong chuyến đi".

Liền sau cuộc họp báo của ông, từ Paris chúng tôi đã kết nối đường dây phỏng vấn ông khi ông đang ngồi trên xe ra phi trường rời Việt Nam về lại Âu châu. Xin mời quý thính giả theo dõi cuộc phỏng vấn :

Ỷ Lan : Xin chào Tiến sĩ Heiner Bielefeld. Xin ông vui lòng cho biết cảm tưởng sau khi kết thúc chuyến điều tra tình hình tôn giáo tại Việt Nam ?

Heiner Bielefeldt : Cảm tưởng thường rất phức tạp và lắm khi xung đột. Cho tôi rút ngắn rằng, cần phải biết đời sống tôn giáo đã phát triển tại Việt Nam như thế nào. Các thiết chế tôn giáo đa dạng đang có mặt, người ta thấy các kiến trúc tôn giáo, các tín đồ đi cúng lễ. Tuy nhiên, tất cả đó bị chính quyền kiểm soát chặt chẽ. Tín đồ tôn giáo bị thúc bách trong việc thực hành tín ngưỡng qua một số hình thái nào đó. Vì vậy, dù không gian cho sự thực hành này được mở rộng, nhưng nhìn từ viễn cảnh đặc thù nhân quyền và tự do tôn giáo, thì mọi sự tuỳ vào thiện chí của chính quyền. Chính quyền thi hành nhiều sự kiểm soát, nên tính hình tự do tôn giáo tại Việt Nam vẫn đặt ra nhiều vấn nạn.

Trong bản tuyên bố báo chí của tôi phổ biến tại cuộc Họp báo hôm nay, tôi nhận dạng những vi phạm trầm trọng trên đất nước này, đồng thời tôi cũng nhận biết một số thiện chí của chính quyền nhằm điều chỉnh tình hình, ví dụ như nắm lấy cơ hội cho việc sửa đổi pháp luật sắp tới để điều chỉnh cơ cấu hạ tầng.

Các thiết chế tôn giáo đa dạng đang có mặt, người ta thấy các kiến trúc tôn giáo, các tín đồ đi cúng lễ. Tuy nhiên, tất cả đó bị chính quyền kiểm soát chặt chẽ. Tín đồ tôn giáo bị thúc bách trong việc thực hành tín ngưỡng qua một số hình thái nào đó

Tiến sĩ Heiner Bielefeldt

Cuộc thăm viếng không phải lúc nào cũng trôi chảy. Đã có những sự cố khi những người muốn gặp tôi, bị sách nhiễu, hăm doạ, và ngăn cấm đến cuộc hẹn. Một vài cuộc gặp gỡ riêng tư bị theo dõi — chúng tôi nhận chân nhiều dấu hiệu theo dõi này. Kết quả là, cuộc thăm viếng phải bỏ dở. Do đó chúng tôi không thực hiện được nhiều phần quan trọng trong chương trình. Chúng tôi đã không thể giúp được họ vì muốn bảo vệ nguồn tin và đối tác của chúng tôi. Tôi đã nêu việc này với chính quyền Việt Nam, đồng thời phản ảnh qua bản tuyên bố báo chí của tôi.

Ỷ Lan : Ông có thể cho biết nhóm tôn giáo nào bị ngăn cản gặp ông ?

Heiner Bielefeldt : Một số rộng rãi các cộng đồng tôn giáo, các nhà hoạt động Xả hội dân sự — không riêng cho một nhóm tôn giáo nào, là điều xấu tệ hơn. Tôi không thể nói ai tạo ra các áp lực ấy, là điều tôi không thể nào biết được. Nhưng sự phá rối này rất trầm trọng, ảnh hưởng tới toàn bộ chuyến viếng thăm của tôi.

Tiến sĩ Heiner Bielefeld
Tiến sĩ Heiner Bielefeld

Ỷ Lan : Thưa ông, cuộc gặp gỡ song suốt của ông phải chăng là cuộc gặp gỡ Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ tại Thanh Minh Thiền Viện ở Saigon ? Xin ông cho biết đôi chút về cuộc gặp này ?

Heiner Bielefeldt : Vâng. Một trong những khía cạnh quan trọng trong chuyến đi của tôi là tìm hiểu tình hình các cộng đồng tôn giáo ngoài luồng của Nhà nước, kể cả các cộng đồng tôn giáo không được nhà nước công nhận. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) là một ví dụ của một cộng đồng tôn giáo bị đẩy ra ngoài lề xã hội một cách có chủ tâm. Họ đã bị phi pháp hoá, bị đối diện với những sách nhiễu, hăm doạ trầm trọng, kể cả hình thức quản chế và cầm tù. Trong cuộc gặp ngài Thích Quảng Độ, chúng tôi đã có cuộc trao đổi, qua đó ngài trình bày rõ ràng hiện tình của ngài và Giáo hội ngài.

Đã có những sự cố khi những người muốn gặp tôi, bị sách nhiễu, hăm doạ, và ngăn cấm đến cuộc hẹn. Một vài cuộc gặp gỡ riêng tư bị theo dõi — chúng tôi nhận chân nhiều dấu hiệu theo dõi này. Kết quả là, cuộc thăm viếng phải bỏ dở

Tiến sĩ Heiner Bielefeldt

Ỷ Lan : Nói chung, ông thấy những chướng ngại nào cho tự do tôn giáo tại Việt Nam ?

Heiner Bielefeldt : Như tôi đã nói qua cuộc Họp báo, hệ thống pháp lý rất hạn định. Bản Hiến pháp mới năm 2013 bảo đảm tự do tôn giáo hay tín ngưỡng, nhưng những hạn định lại bao trùm khắp nơi, cho phép nhà cầm quyền có nhiều uy quyền xâm phạm. Pháp lệnh về tôn giáo năm 2005 bắt buộc các tôn giáo phải đăng ký hoạt động và đệ trình chính phủ kế hoạch thường niên về mọi hoạt động. Bộ Luật Hình sự với những điều luật mơ hồ về "lợi dụng tự do dân chủ" được sử dụng rộng rãi để hạn chế tự do, kể cả tự do tôn giáo hay tín ngưỡng.

Tôi cũng chú ý tới não trạng thích viện dẫn những quyền lợi chính thống cho số đông, và thải hồi những đời hỏi của các nhóm tôn giáo "không được thừa nhận" bị coi như quyền lợi tư kỷ. Mọi cầu viện pháp lý không được vận hành. Chúng tôi gặp một số thành viên tư pháp, họ chẳng hề biết một trường hợp nào bị vi phạm quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng được đưa ra trước toà án. Như thế là đã có cấu trúc, thiết chế, và loại tâm thần gắn kết với các vấn nạn — thật là một gói vấn đề ! Nhưng đồng thời, tôi luôn nhìn tới những điểm tích cực và nhìn xem các ý chí của chính quyền trong việc thay đổi nền pháp lý sắp tới cùng các cơ hội cho cuộc thảo luận thực thi tương lai.

Hãy thực sự nắm bắt quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng, hãy tuyên cao quyền ấy cho chính bạn, tôn trọng nó, và hãy biết rằng quyền này là quyền của mọi người, mà chẳng cần có sự chẩn thuận của chính quyền

Tiến sĩ Heiner Bielefeldt

Ỷ Lan : Ông có nghĩ rằng cuộc viếng thăm vừa qua sẽ đóng góp cho sự thực thi tôn trọng tự do tôn giáo tại Việt Nam không ?

Heiner Bielefeldt : Tôi luôn luôn hy vọng như thế. Chúng ta phải luôn luôn mang trong đầu ý nghĩ, rằng mọi cuộc thay đổi quan trọng phải đến từ lòng xã hội. Là Báo cáo viên đặc biệt và đại diện LHQ về nhân quyền quốc tế, tôi luôn có thể phụ giúp cách làm thế nào cấu tạo những không gian mới cho tự do tôn giáo, làm thế nào cho chính quyền chấp nhận đối thoại, vân vân. Đây là hoạt động thăng tiến, nhưng trong sâu thẳm, mọi cuộc đổi thay phải đến từ lòng xã hội. Điều này chưa có tại Việt Nam. Tôi luôn hy vọng điều ấy xẩy ra. Tại Việt Nam, tôi gặp một số người thực sự muốn thấy sự thay đổi, khiến tôi càng thêm hy vọng.

Ỷ Lan : Xin ông Báo cáo viên LHQ một câu hỏi chót. Cuộc phỏng vấn này sẽ được phát thanh về Việt Nam, và có thể một số người không được gặp ông cũng sẽ được nghe. Nếu có thông điệp gì nhắn gửi nhân dân Việt Nam, ông sẽ phát biểu như thế nào ?

Heiner Bielefeldt : Ô, ô… đây quả là một câu tra vấn ! Tôi không phải là hạng người thích "khẩu hiệu". Nhưng nếu là thông điệp thì sẽ phải là : Hãy thực sự nắm bắt quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng, hãy tuyên cao quyền ấy cho chính bạn, tôn trọng nó, và hãy biết rằng quyền này là quyền của mọi người, mà chẳng cần có sự chẩn thuận của chính quyền. Nhân phẩm đã có địa vị. Là điều mà ai cũng dễ hiểu. Nếu họ nhận chân họ được phú cho các quyền ấy, mà chẳng cần sự chuẩn thuẩn của chính phủ hay nhà cầm quyền, thì trong tinh thần ấy, mọi cuộc thay đổi sẽ hoàn thành.

Ỷ Lan : Xin cám ơn Tiến sĩ Heiner Bielefeldt cho cuộc phỏng vấn mà ông phải nhọc nhằn hồi đáp trên chuyến xe ra phi trường rời Việt Nam sau 11 ngày thăm viếng.

Ỷ Lan, Phóng viên Đài Á Châu Tự do tại Paris

(Trường Sơn - VNTB) - “Nhà báo cơ cấu” đang làm gì?

Nguồn ijavn

Trường Sơn

25%


(VNTB) Trong một cuộc hội thảo gần đây, những quan chức về hưu như Nguyên Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Đỗ Quý Doãn lần đầu tiên đã tiết lộ: năm 2013 cả nước bổ nhiệm 169 lãnh đạo cơ quan báo chí, trong số này chỉ có 43 người được điều từ ngành khác về, không có nghiệp vụ báo chí.

Tỷ lệ "nhà báo cơ cấu" như vậy chiếm đến 25% - một con số tuy chưa phản ánh hết thực tồn lãnh đạo và chỉ đạo ấu trĩ cùng một chiều của "một bộ phận không nhỏ" báo chí nhà nước, nhưng cũng cho thấy một mâu thuẫn rất lớn đã khuếch tán ghê gớm trong hệ thống báo chí quốc doanh: đa phần giới phóng viên và biên tập viên với trình độ nghề nghiệp hơn hẳn giới lãnh đạo, lại bị siết cương bởi những người hầu như chẳng biết làm báo là gì.

Ca sỹ Lệ rơi đang được các nhà báo Việt nam lăng xê


Còn nhớ vào thời chấp chính lãnh đạo báo chí, ông Đỗ Quý Doãn luôn bị giới phóng viên có tư tưởng tự do xem là "máy chém nhà báo". Nhưng sự đổi khác về cách nhìn của những người như ông sau khi về vườn lại cho thấy chính họ cũng là nạn nhân của một cơ chế giáo điều, đóng kịch, ru ngủ và lừa mị lẫn nhau.

Bất chấp số liệu luôn được tung hứng với hơn 800 tờ báo quốc doanh cùng 18.000 thẻ nhà báo, năng lực thông tin sự thật của báo chí nhà nước vẫn bị chính những viên chức quản lý nhà nước xem là "thua kém khủng khiếp" so với giới truyền thông xã hội - bao gồm các trang mạng bị nhà nước coi là "lề trái".

Hầu như chiếm giữ nguồn thông tin độc quyền do được tiếp cận các cơ quan nhà nước, nhưng báo chí quốc doanh đã chỉ khai thác những thông tin này trên bề mặt của chúng. Rất nhiều vụ việc tham nhũng và bất công xã hội đã bị Ban Tuyên giáo trung ương và Bộ Thông tin và Truyền thông chủ ý ngăn chặn bằng cơ chế kiểm soát từ mềm đến cứng. Một số ít tờ báo có thái độ "vượt rào" đã phải trả giá: ban biên tập phải chịu kiểm điểm, còn cộng tác viên bị cắt cộng tác bài, phóng viên thậm chí bị đuổi việc.

Nhiều bài báo tâm huyết và nói lên sự thật cũng bởi thế đã không thể lên nổi mặt báo. Với tư  cách "chính trị viên" của báo, nhiều tổng biên tập đã chỉ chuyên chú việc "giữ vững đường lối chính trị của đảng" và theo đó giữ ghế, thay cho việc phản ánh tiếng nói của người dân và xã hội để đối thoại với nhà chức trách.


"Lũ chúng ta nằm trong giường chiếu hẹp…"

Hệ quả tiếp liền của thực tế trên là nhiều năm trôi qua, báo chí nhà nước luôn giữ thái độ im lặng đến mức thành khẩn trước rào cản của cơ quan tuyên giáo đối với quá nhiều sự thật nhớp nhúa liên quan đến các nhóm lợi ích kinh tế và nhóm lợi ích chính sách. Ngay cả vụ việc 15 nhà máy thủy điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đồng loạt xả lũ mà đã "giết sống" hơn năm chục mạng dân nghèo vùng rốn lũ ở các tỉnh miền Trung vào cuối năm 2013, báo chí cũng không lên trang nổi một cái tên quan chức phải chịu tránh nhiệm, càng không có bất kỳ "đày tớ" nào phải ra trước vành móng ngựa.

Sự xa cách giữa thực tiễn và mặt báo là quá lớn, cũng như hố phân cách giữa giới phóng viên và khá nhiều tổng biên tập là quá sâu cay. Rất nhiều phóng viên, nhà báo tâm huyết đã phải bỏ nghề hoặc chấp nhận "viết giải trí".

Tuy vẫn còn đó những tờ báo theo đuổi phong cách phản biện như Đất Việt, Thanh Niên, Pháp Luật TP.HCM, Người Lao Động, Vietnamnet…, nhưng chừng đó là quá ít so vơi hàng ngàn báo in và điện tử trên toàn quốc. Lại càng không thấm vào đâu trước thực tế ngồn ngộn những bất công khủng khiếp trong xã hội.

Bởi đại đa số báo chí nhà nước hiện thời vẫn hiện hữu nguyên vẹn trong tâm thế "Lũ chúng ta nằm trong giường chiếu hẹp…", bất chấp cái hiện thực đời sống dân chúng đang sa vào vòng khốn quẫn đến thế nào…

Tuyên bố báo chí về chuyến thăm Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Báo cáo viên Đặc biệt của Liên Hợp Quốc về tự do tôn giáo hay tín ngưỡng

Post lại từ basam


United Nation Human Rights

Heiner Bielefeldt

StatementVietnameseVersion31July2014-page-001StatementVietnameseVersion31July2014-page-002StatementVietnameseVersion31July2014-page-003Page 4P5P6P7P8P9p10P11P12P13

Nguồn: StatementVietnameseVersion31July2014

Từ Quốc Hoài : Tháo bỏ ách tắc để giữ lấy độc lập và chấn hưng đất nước (kỳ 1)

Nguồn boxitvn

Hưởng ứng Thư Ngỏ gửi Ban Chấp hành Trung ương và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam

Từ Quốc Hoài

Tác giả có thân sinh là đảng viên cộng sản từ năm 1930. Bản thân là đảng viên đã nhận huy hiệu 30 tuổi Đảng. Từng qua thử thách chiến trường B, từng là Bí thư chi bộ khu phố, được bình chọn là đảng viên xuất sắc tiêu biểu. Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, đoạt nhiều giải thưởng văn học, trong đó có Giải thưởng Thơ 2010 của Hội Nhà Văn Việt Nam.

Bauxite Việt Nam

Đất nước ta đang đối mặt với hiểm họa khôn lường. Trung Quốc lộ mặt chủ nghĩa bành trướng, quyết liệt thôn tính lãnh thổ Việt Nam. Trong nước ngổn ngang những thách thức: kinh tế suy thoái nghiêm trọng; dân mất lòng tin; xã hội bất an, tội phạm tăng; Đảng và Nhà nước bị ràng buộc bởi những tính toán tư lợi, bế tắc về mặt chiến lược, loay hoay với các giải pháp tình thế.

Để thoát khỏi hiểm họa đang làm chao đảo vận mệnh đất nước, chúng ta cần can đảm, quyết liệt tháo bỏ ách tắc, mà lâu nay vẫn được gọi là lỗi hệ thống.

Đảng Cộng sản Việt Nam theo chủ thuyết Marx - Lenin, đổi tên từ Đảng Lao Động Việt Nam, từng lãnh đạo dân tộc ta giành thắng lợi qua hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Chuyện đó ai cũng biết. Điều ít ai nói tới một cách khách quan, rành rẽ là tại sao Đảng Lao Động Việt Nam thành công vẻ vang trong lãnh đạo chiến tranh trước đây, nhưng khi đổi tên thành Đảng Cộng sản lại thất bại thê thảm trong thời bình, vô hình trung tạo điều kiện cho Trung Quốc thực thi chủ nghĩa bành trướng. Chắc chắn là chủ nghĩa Marx - Lenin có vấn đề. Cái mà nhiều người vẫn gọi là lỗi hệ thống, chính là mặt trái của chủ nghĩa Marx - Lenin, khi Đảng cầm quyền mới bộc lộ, phát tác độc hại, trở thành đại họa. Nếu không nhìn ra mặt trái của chủ nghĩa Marx - Lenin để xử lý nó một cách quyết liệt, thì dân tộc Việt Nam sẽ đối mặt với nguy biến khôn lường. Cũng cần phải xem lại bản chất Tư tưởng Hồ Chí Minh là gì? Liệu còn có ích cho dân tộc Việt Nam hay không?

Phần I

Mặt trái của chủ nghĩa Marx - Lenin

Ông tổ của chủ nghĩa Cộng sản là Platon (427-347 trước công nguyên) ra đời trước K. Marx 2245 năm. Trong tác phẩm Cộng hòa, lần đầu tiên Platon đưa ra chủ thuyết về xã hội Cộng sản, một xã hội mà bản thể tư hữu của con người hoàn toàn bị xóa bỏ, mọi tài sản kể cả vợ chồng con cái đều thuộc về sở hữu công cộng. Chủ thuyết của Platon được cụ thể hóa trong cuốn tiểu thuyết giả tưởng Utopia của nhà văn Thomas More (1478 – 1535 ). Chủ nghĩa Cộng sản của Platon mang tính cực đoan và ảo tưởng vì con người không bao giờ chịu từ bỏ cái bản thể tư hữu của mình, một hành vi đồng nghĩa với sự diệt vong.

K. Marx (1818 – 1883) tiếp thu ý tưởng về Chủ nghĩa Cộng sản của Platon, nhưng chỉ giới hạn ở việc xóa bỏ sự tư hữu về tư liệu sản xuất vì cho rằng đấy là khâu then chốt đưa tới cảnh người bóc lột người. Marx chủ trương giai cấp bị bóc lột dùng bạo lực cách mạng lật đổ trật tự xã hội tư bản hiện hành, quốc hữu hóa toàn bộ tài sản của giai cấp tư bản bao gồm tư liệu sản xuất và các tài sản do bóc lột lao động tạo ra, thiết lập Nhà nước chuyên chính vô sản… Chủ nghĩa Marx mang lại cho nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức hào quang của một thiên đường. Đó là xã hội cộng sản chủ nghĩa không có người bóc lột người, nền kinh tế phát triển tột bậc, con người được tôn trọng, phát triển mọi mặt, làm tùy sức hưởng theo nhu cầu. Không còn áp bức, chiến tranh... loài người chung sống trong một thế giới đại đồng. Tác giả của Tuyên ngôn Đảng Cộng sản khẳng định: Trong cuộc cách mạng ấy, những người vô sản chẳng mất gì ngoài những xích xiềng trói buộc họ. Họ sẽ giành được cả thế giới.

Tuyên ngôn Đảng Cộng sản có tầm ảnh hưởng lớn đối với tiến trình phát triển của lịch sử loài người.

Dù sao thì xã hội Cộng sản do Chủ nghĩa Marx vẽ ra vẫn còn là một thế giới ảo. Nó là một giấc mơ đẹp, nhưng cần được minh định bằng một đời sống thực, con người có thể nhìn thấy được, chạm tay vào được.

V. Lênin (1870 -1924): người sáng lập Quốc tế Cộng sản 3, lãnh đạo Đảng Bônsêvích Nga giành thắng lợi trong cuộc cách mạng vô sản đầu tiên của loài người với tham vọng biến giấc mơ của Marx thành hiện thực. Sự ra đời của Liên bang Xô viết rộng lớn, trải dài từ Âu sang Á, đã tạo ngã rẽ quan trọng của lịch sử loài người. Hơn 20 năm sau ngày ra đời, Liên bang Xô viết trở thành một quốc gia hùng mạnh, cùng với các nước đồng minh đánh bại Phát xít Đức, giải phóng châu Âu. Lá cờ búa liềm – biểu tượng của chủ nghĩa cộng sản – ngự trị trên hàng loạt các nước Đông Âu. Năm 1949, bốn năm sau ngày chiến thắng Phát xít Đức, Đảng Cộng sản Trung Quốc giành thắng lợi trong cuộc nội chiến, giải phóng lục địa Trung Hoa. Sự ra đời của nước Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa với gần một tỷ dân thực sự đã chia thế giới làm hai phe: phe Cộng sản và phe Tư bản.

Một sự kiện đầy khích lệ diễn ra vào đầu những năm 80 của thế kỷ 20, đó là việc Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô L. Brezhnev tuyên bố Liên bang Xô viết hoàn thành công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, và đang ở vào thời kỳ đầu của xã hội Cộng sản chủ nghĩa. Liên Xô trở thành miền đất hứa để loài người kỳ vọng. Những người lạc quan đã nghĩ tới ngày ngọn cờ đỏ búa liềm của Đảng Cộng sản sẽ ngự trị trên toàn thế giới, xóa bỏ chủ nghĩa tư bản thối nát, giãy chết.

Nhưng chỉ 10 năm sau, cái thành trì của phe Cộng sản đã sụp đổ. Giới cầm quyền tại Liên Xô đối đầu với nhau bằng họng súng đại bác. Liên bang Xô viết tan rã. Đảng Cộng sản Liên Xô chịu chung số phận. Kéo theo sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô là sự sụp đổ, tan rã của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Các nước Cộng sản châu Á như Trung Quốc, Việt Nam… mỗi nước mỗi cách nhưng đều buộc phải bước ra khỏi lằn ranh của chủ nghĩa xã hội, khoác lên mình bộ trang phục mới của nền kinh tế thị trường để tồn tại.

Mặt trái của Chủ nghĩa Cộng sản

Sự sụp đổ của Liên bang Xô viết và hệ thống xã hội chủ nghĩa làm cho những ai quan tâm tới thời cuộc không thể không nghiêm túc đặt câu hỏi: Phải chăng sự sụp đổ mang tầm thế giới kia có nguyên nhân sâu xa từ mặt trái của chủ thuyết Marx-Lênin, vẫn được gọi là lỗi hệ thống?

Loài người từ khi xuất hiện trên trái đất luôn phải đối mặt với hai vấn đề: sinh tồn và bảo tồn nòi giống. Đấy là hai thành tố tạo nên bản thể tư hữu ở con người. Loại bỏ cái bản thể tư hữu ở con người cũng đồng nghĩa loại bỏ sự tồn tại của bản thân con người. Nhưng chính cái bản thể tư hữu lại làm cho xã hội loài người luôn bất an. Quá trình con người lao động để sinh tồn luôn xảy ra sự phân cực. Một bộ phận thành đạt vượt trội, trở thành những ông chủ quyền thế. Một bộ phận khác chịu số phận ngược lại, bần cùng, cuộc sống bị lệ thuộc vào những ông chủ quyền thế. Sự phân cực ngày càng nghiệt ngã, sự đối kháng càng gay gắt.

Yếu tố nhân đạo và cách mạng hướng về người lao động bị bóc lột trong Chủ nghĩa Marx có sức quyến rũ, lôi cuốn hàng tỷ người khắp thế giới tiến bước dưới ngọn cờ đỏ búa liềm của Đảng Cộng sản.

Nhưng đấy chỉ mới là một nửa chủ nghĩa Marx. Một nửa còn lại khó nhận biết ngay, đó là sự ảo tưởng về một xã hội công bằng và hiểm họa độc tài. Nhân danh công lý, Marx - Lenin chủ trương xóa bỏ của tư hữu bằng cách quốc hữu hóa tài sản của giai cấp tư bản cùng lúc với việc cướp chính quyền. Nhưng liệu đó có phải giải pháp công bằng? Thực chất của việc quốc hữu hóa là tước đoạt tài sản của giai cấp tư bản, một hành vi dẫn tới sự bất công mới. Giai cấp tư bản trả lương rẻ mạt cho công nhân, tạo ra sự chênh lệch giữa đồng lương người công nhân đáng được hưởng so với đồng lương rẻ mạt mà họ buộc phải nhận. Nhưng sự chênh lệch đó không thể lớn bằng toàn bộ tài sản của giai cấp tư bản tích tụ hàng trăm năm, bị chính quyền Cộng sản tước đoạt. Ngay từ điểm xuất phát, cuộc tính sổ nhân danh giai cấp vô sản bị áp bức, đã diễn ra trong bạo lực đẫm máu, không sòng phẳng, là vết đenin lên cuộc cách mạng nhân danh công lý.

Khối tài sản khổng lồ: nhà máy, hầm mỏ, ngân hàng… tước đoạt của giai cấp tư sản, và những xí nghiệp, tổng công ty, tập đoàn kinh tế được mọc lên từ tiền thuế đẫm mồ hôi của người dân… được chính quyền Cộng sản giao cho các đại diện ưu tú của giai cấp vô sản quản lý. Những người này ban đầu có thể là những người lương thiện. Nhưng khi có quyền lực trong tay, sự quyến rũ của đồng tiền đánh thức bản thể tư hữu trong họ, dần dà biến họ thành những tội đồ. Thánh Đường công hữu, mở ra vô số cánh cửa từ phường xã tới trung ương, càng lên cao các cánh cửa mở càng rộng, thậm chí vô giới hạn, dành cho các quan tham nhũng. Lênin gọi đám quan vô lại này là "những ngôi sao trong nghề ăn cắp của công". Nhưng chính Lênin cũng bất lực.

Chủ nghĩa Cộng sản bạo liệt xóa kiểu tư hữu này, nhưng lại tạo ra kiểu tư hữu khác, không chính danh, phát tác độc hại khủng khiếp. Các đảng viên cộng sản tràn đầy hy vọng khi hát bài Quốc tế ca, trong đó có câu "Bao nhiêu lợi quyền ắt qua tay mình". Rốt cục "bao nhiêu lợi quyền" về tay các đảng viên, hay chỉ về tay những ai có chức có quyền, những nhóm lợi ích, lợi lộc bẩn thỉu tỷ lệ thuận với quyền chức. Nền chuyên chính vô sản khoác chiếc áochính quyền của nhân dân, giữ độc quyền chân lý, không chấp nhận sự phản biện, đối lập. Ai phê phán các sai trái của quan chức trong bộ máy công quyền, hoặc đường lối không phù hợp với lợi ích đất nước… bị khép vào tội lợi dụng quyền tự do dân chủ bôi xấu lãnh đạo, hoặc chống lại chính quyền của nhân dân. Không cho phép tồn tại các cơ quan lập pháp, tư pháp độc lập, không cho phép có đảng đối lập, không được tự do báo chí, không có những quyền tự do được ghi trong hiến pháp… quyết liệt chống lại mọi cơ chế kiểm soát quyền lực, Đảng Cộng sản và Nhà nước chuyên chính độc quyền thử nghiệm số phận của hàng tỷ con người. Cuộc thử nghiệm tai hại này đã thất bại trên phạm vi toàn thế giới.

Những sự việc xảy ra tại Liên bang xô viết, một đất nước xã hội chủ nghĩa điển hình, chứng minh sự sụp đổ của Nhà nước cộng sản là tất yếu. Từ 1921-1953 có 4.060.306 người dân bị kết tội chống Chính quyền Xô viết, trong đó có 2.634.397 người bị cầm tù, gần 800.000 người bị xử bắn. Chỉ riêng trong hai năm 1937-1938 là những năm có cuộc đấu tranh quyết liệt về đường lối chính trị, số người bị bắn là 681.692 người. Bản thân N. Khrushev người lớn tiếng qui tội Stalin độc tài, khi còn là Bí thư Matxcơva đã xin bắn 8.500 người. Việc xử bắn nhiều khi là theo chỉ tiêu, không ghi danh tính người bị tử hình. Khi chỉ tiêu được thông qua, bắn ai là do thủ lĩnh các địa phương quyết định. Những con số trên đây là kết quả điều tra từ số liệu tại các kho lưu trữ của Đảng và Nhà nước Xô viết do một nhóm công tác đặc biệt đứng đầu là tiến sĩ sử học Viktor Nikolaevich Zemskov tiến hành.

Trong cuộc thăm dò không lâu trước khi Liên Xô sụp đổ, với câu hỏi Đảng Cộng sản Liên Xô và Nhà nước Xô viết đại diện cho ai, 85% người được hỏi trả lời: Chế độ Xô viết chỉ đại diện cho lợi ích các quan chức của Đảng và Nhà nước, 11% đại diện cho các đảng viên cộng sản, 4% đại diện cho giai cấp công nhân. Sau khi Liên Xô sụp đổ, con số thống kê cho thấy số người giàu của nước Nga chiếm trên 90% là các quan chức của chế độ cộng sản. Nhà tài phiệt Khodorkovsky, ông chủ tập đoàn dầu hỏa Yukos, một trong những người giàu nhất nước Nga với tài sản khoảng 15 tỷ USD, bắt đầu sự nghiệp từ một đảng viên cộng sản. Khi Tổng Bí thư Đảng Liên Xô Brezhnev tuyên bố Liên bang Xô viết đang bước vào thời kỳ đầu của chủ nghĩa Cộng sản, cả con gái lẫn con rể là những đại gia bị cáo buộc tham nhũng. Cái bóng quyền lực của Tổng Bí thư Brezhnev đã đè lên luật pháp. Vụ án chìm xuồng.

Tại Việt Nam, sau gần 100 năm bị nô dịch bởi các thế lực thực dân, phát xít, nền độc lập đã được tạo dựng từ cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, sau đó là chiến thắng vang đội trong cuộc kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ đã đưa uy tín của Đảng Lao động Việt Nam lên tột đỉnh vinh quang.

Lẽ ra sau ngày toàn thắng, Tổ quốc được độc lập thống nhất, Việt Nam bắt tay vào việc chấn hưng đất nước với một thể chế dân chủ đã được Hồ Chí Minh đặt nền móng từ năm 1945, thể hiện trong Tuyên ngôn Độc lập, trongChính phủ Đoàn kết dân tộc và Hiến pháp dân chủ 1946. Nếu đi theo hướng đó, Việt Nam hôm nay đã là một đất nước cường thịnh, Trung Quốc dẫu muốn bành trướng cũng khó bề bắt nạt. Vào thời khắc mang tính quyết định đối với vận mệnh của đất nước, Nhà cầm quyền đã vội vã làm cuộc chia tay với Dân tộc để đi vào cuộc phiêu lưu với rất nhiều hiểm họa đang chờ. Đó là đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam, đổi tên Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Cuộc phiêu lưu thể chế đã làm xáo trộn đến tận nơi sâu thẳm của tinh thần dân tộc. Nhà cầm quyền nhân danh chủ nghĩa Cộng sản đã lấy đi lòng tin, niềm kiêu hãnh của những người dân từng viết nên những trang sử oanh liệt của Dân tộc, đẩy họ trở lại thân phận của những con người bị đè nén, bị điều khiển, tạo dựng một cuộc sống đầy tai ách, một tương lai không phải dành cho mình mà cho người khác. Trong cuộc sống đó Tham nhũng là gương mặt quen thuộc, bắt gặp hầu như ở mọi cơ quan công quyền. Đảng độc quyền cùng với chủ nghĩa xã hội là cơ chế sản sinh ra các quan tham nhũng.

Với việc giao quyền quyết định sở hữu nhà đất cho quận huyện, nhà cầm quyền Cộng sản đã tạo những nhóm lợi ích bẩn từ phường xã lên tới Trung ương. Đất đai trở thành mỏ vàng cho các quan tham đục khoét. Vô số kho báukhác của đất nước được trao chìa khóa cho các quan chức, hoặc đám con ông cháu cha. Hệ thống lập pháp và tư pháp hoạt động theo lệnh của Đảng trở thành hậu phương an toàn của các quan tham. Những đại án phải ra trước vành móng ngựa là do phạm pháp quá lộ liễu hoặc mâu thuẫn giữa các nhóm lợi ích bẩn. Bức tranh kinh tế ảm đạm, đen tối với dư nợ hàng triệu tỷ đồng, nợ xấu hàng trăm nghìn tỷ, tham nhũng chục hàng nghìn tỷ, hàng trăm nghìn công ty, tổng công ty phá sản… tạo sức ép ngộp thở lên đời sống người dân, khung đạo đức của xã hội bị xô lệch, lòng tin ở Đảng, Nhà nước chỉ còn được tô vẽ trên các khẩu hiệu…

Trách nhiệm thuộc về ai?

Đảng Cộng sản tự nhận mình là người lãnh đạo, tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Hiển nhiên việc đẩy nền kinh tế của đất nước tới hiểm họa, tội phạm lộng hành, xã hội đảo điên… thuộc về trách nhiệm của Đảng. Cụ thể là thuộc về Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Tổng Bí thư Đảng, là địa chỉ xuất phát và nơi toàn quyền quyền điều hành đường lối, chính sách của Đảng. Sự nhận lãnh trách nhiệm của các ông chủ Nhà đỏ, cụ thể là Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương, được coi là thiếu tự trọng: không án phạt, không một hình thức kỷ luật, không một lời xin lỗi dân, phủi tay trước sự đảo điên của đời sống đất nước do chính họ gây ra.

Với cái nhìn thật khách quan, tất sẽ nhận ra sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa cũng như những độc tố đang khuynh đảo vận mệnh của Đất Nước có gốc rễ từ lỗi hệ thống, là những mảng tối nằm trong mặt trái của chủ nghĩa Marx - Lenin.

Không thể xóa bỏ bản thể tư hữu, cái thuộc tính đem lại sự tồn tại của chính con người. Nhưng nó cần có cơ chếkiểm soát.

Một cây làm chẳng nên non!

Đấy là triết học của cha ông, chân lý tạo nên sức mạnh để dân tộc ta tồn tại và phát triển qua hàng ngàn năm. Các nhà lãnh đạo đất nước hôm nay cần nghiêm khắc nhớ tới chân lý này. Không có sức mạnh của hàng triệu quần chúng yêu nước, không có các nước Đồng minh hy sinh hàng chục triệu sinh mạng để chiến thắng chủ nghĩa Phát xít, một mình Đảng Cộng sản liệu có làm nên cuộc Tổng khởi nghĩa năm 1945, giành độc lập cho dân tộc? Trong cuộc trường kỳ kháng chiến suốt 30 năm, đánh Pháp rồi đánh Mỹ, nếu không có sự hy sinh xương máu của hàng triệu đồng bào, chiến sĩ, sự viện trợ, ủng hộ lớn lao loài người tiến bộ, liệu sự nghiệp giành độc lập cho Tổ quốc có kết thúc thắng lợi vào năm 1975?

Một chân lý nữa cũng cần được làm sáng tỏ:

Ba cây chụm lại thành hòn núi cao.

Muốn bảo đảm sự bền vững và phát triển thì phải cần tới chân lý "ba cây chụm lại thành hòn núi cao". Đây là di sản quí báu về triết học và tư tưởng của dân tộc ta, là chân lý mang tính phổ quát, có thể suy rộng ra để áp dụng trong đời sống của đất nước. Nó là tính đa nguyên mà dân tộc ta đã đúc kết qua hàng ngàn năm. Nhưng Đảng Cộng sản đã quyết liệt chống lại, coi đa nguyên là luận diệu của các thế lực thù địch… Một Đảng tự nhận mình đại diện cho lợi ích của dân tộc nhưng hằn học chống lại những giá trị tư tưởng, văn hóa… của dân tộc thì cần nghiêm túc đặt câu hỏi: Thực chất Đảng Cộng sản hiện nay đại diện cho ai?

Hiện nay sức mạnh mà cuộc đấu tranh giành độc lập tạo ra đã thay đổi. Liên Xô sụp đổ. Sự ủng hộ của nhân dân thế giới cũng thay đổi. Trung Quốc được coi là một trong những nước viện trợ lớn nhất cho ta đánh Pháp và đánh Mỹ, tự lột mặt nạ hiện nguyên hình chủ nghĩa bá quyền Đại Hán, coi Việt Nam là phên dậu của họ. Vào ngày 28.4.1975, khi quân Giải phóng sắp tiến vào Sài Gòn, nhà cầm quyền Trung Quốc đã thông qua tướng tình báo Pháp Francois Vanussème nói thẳng với Dương Văn Minh là Trung Quốc sẵn sàng can thiệp quân sự, chỉ cần Tổng thống Việt Nam Cộng hòa yêu cầu. Dương Văn Minh từ chối bằng câu trả lời dứt khoát: "Ngày xưa đã bán đất cho Mỹ, nay lại còn bán đất cho Trung Cộng nữa à?" (xem bài Sài Gòn từng nhìn cuộc xâm chiếm Hoàng Sa thế nào?).

Những sự việc nhỡn tiền diễn ra ở biên giới Tây Nam sau 1975, ở biên giới phía Bắc 1979, ở Biển Đông từ 1956 đến nay hết xua quân chiếm các đảo của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tới việc ngang nhiên hạ đặt trái phép giàn khoan HD. 981 trên thềm lục địa Việt Nam… càng phơi bày dã tâm bành trướng của Trung Quốc. Nhà cầm quyền Trung Quốc đã từ bỏ chủ thuyết Marx - Lenin với lời tuyên bố của Đặng Tiểu Bình: "Mèo trắng mèo đen đều tốt miễn là bắt được chuột". Đảng Cộng sản Trung Quốc đang đi theo Chủ nghĩa dân tộc bành trướng Đại Hán. Họ giữ lại hai chữ Cộng sản là để nắm sự độc quyền. Phương thức sản xuất của Trung Quốc pha trộn giữa chủ nghĩa tư bản man khai và chủ nghĩa tư bản hiện đại. Sự độc quyền đã tước mất của dân tộc Trung Hoa nền dân chủ và tạo nên vô số phe nhóm lợi ích bẩn. Nhưng tập đoàn cầm quyền Trung Quốc có tham vọng bá chủ thế giới. Đó là động lực đen, thúc đẩy Trung Quốc phát triển.

Đảng Cộng sản Việt Nam với những chính sách sai lầm về kinh tế, cách hành xử chuyên quyền, và nhu nhược trước sự bành trướng của Trung Quốc đang ngày một bị đẩy xa dân. Cùng tên gọi là Đảng Cộng sản nhưng giữa hai Đảng cầm quyền Trung Quốc và Việt Nam không thể gọi là chung ý thức hệ. Có chăng chỉ giống nhau ở sự độc tài. Khác hẳn với Đảng cầm quyền Trung Quốc, nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay ngoài những toan tính tư lợi không hề có khát vọng vì dân, vì nền độc lập của Đất Nước, trở thành một cường quốc ở Đông Nam Á hoặc châu Á. Nếu có đã không xảy ra thực trạng đau lòng đang phơi bày.

Đi với dân để có sức mạnh của dân tộc thì phải thực thi một chế độ dân chủ thật sự, chế độ đó ngoài việc bảo đảm cho mỗi người dân quyền bình đẳng được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc, còn phải có cơ chế kiểm soát yền lực, đó là các quyền tự do báo chí, ngôn luận, tổ chức hội đoàn, đảng phái cùngvới cơ chế Tam quyền phân lập đang được áp dụng có hiệu quả tại các xã hội văn minh trên thế giới.

Dân chủ sẽ thực sự là thứ quyền lực trói chân trói tay các quan tham. Còn nếu cứ thực thi mô hình dân chủ hình thức, giả hiệu, nói một đằng làm một nẻo như hiện nay, khoác lên Đảng Cộng sản và Nhà nước những chiếc áo đẹp mã: "Đảng không có quyền lợi nào ngoài việc phụng sự tổ quốc, phục vụ nhân dân", "Nhà nước của dân, do dân, vì dân", thì dân vẫn ngoảnh mặt, trò ảo thuật đã bị lộ sáng, và vận mệnh cả Dân tộc tiếp tục bị chao đảo, nguy biến.

Để kết thúc phần nói về mặt trái của chủ nghĩa Marx - Lenin, chúng tôi xin lấy lại lời của F. Engels, người đồng chí của K. Marx, và là đồng tác giả của Tuyên ngôn Đảng Cộng sản (ra đời 1848). Như một di chúc, ba tháng trước khi từ trần, ngày 6.3.1895, trong lời nói đầu của cuốn Đấu tranh giai cấp ở Pháp, F. Engels viết: "Lịch sử chứng tỏ chúng ta từng mắc sai lầm. Quan điểm của chúng tôi hồi đó là ảo tưởng. Phương pháp đấu tranh năm 1848 nay đã lỗi thời về mọi mặt...".

Những điều chúng tôi trình bày trên đây là sự thật.

Sức mạnh của người cách mạng là dám nhìn thẳng vào sự thật.

T. Q. H.

Tác giả gửi BVN.