Thứ Hai, 10 tháng 11, 2014

Nguyễn Thị Từ Huy : Con đường của IDS

Nguồn rfablog
Sun, 11/09/2014 - 16:40 — nguyenthituhuy

 

Thật thú vị khi thấy bài « Nghịch lý nhân sự » của tôi nhận được sự quan tâm đặc biệt của độc giả C. Nguyễn, khiến ông/bà viết bài trao đổi dưới nhan đề « Vài ý kiến về bài viết "Nghịch lý nhân sự" của Nguyễn Thị Từ Huy ».

Ông/bà C. Nguyễn, trong bài viết của mình, đưa ra một cách nhìn khác với cách nhìn của tôi, và đứng từ một góc nhìn khác với góc nhìn của tôi. Các độc giả, với góc nhìn và sự hiểu biết riêng của mình, tự họ sẽ có cách đánh giá riêng, cách lĩnh hội riêng đối với từng bài viết. Cá nhân tôi luôn tin tưởng ở sự công tâm của công chúng nói chung, và công chúng trên internet nói riêng.

Ở đây, tôi đề cập đến một điểm trong bài của ông/bà C. Nguyễn, điểm làm cho tôi phải suy nghĩ. Đó là lời khuyên mà ông/bà C. Nguyễn dành cho tôi ở cuối bài. Trích nguyên văn :

« Xin cô hãy đừng theo vết chân của nhóm IDS của Hoàng Tụy, Nguyễn Quang A, Tương Lai, Nguyễn Đăng Doanh... »

Lời khuyên này, đối với tôi thực sự rất đáng lưu ý.

Bỏ qua một bên cái động cơ khiến ông/bà C. Nguyễn cho tôi lời khuyên này, đối với tôi, trong trường hợp cụ thể này, động cơ, mục đích của lời khuyên không quan trọng. Điều quan trọng là lời khuyên ấy có chí lí không, có cần phải làm theo lời khuyên ấy không, nếu cần làm theo thì vì sao, và nếu không nên làm theo thì vì sao ? Cái học vị tiến sĩ mà nước Pháp cấp cho tôi có ý nghĩa ở điểm này : các kiến thức và kỹ năng học được góp phần tạo nên một thói quen, đó là trước khi nghe theo, tin theo một điều gì, trước khi thực hiện một điều gì, cần tìm cho mình những cơ sở đủ sức thuyết phục, để hành động của mình không tạo ra những hậu quả tai hại cho người khác, để hành động của mình có thể mang lại ích lợi cho cộng đồng chung trong đó mình tồn tại.

Ông/bà C. Nguyễn không đưa ra lý do vì sao lại khuyên tôi như thế, vì vậy, để đi tới quyết định có thực hiện theo lời khuyên của ông/bà hay không, tôi đã phải bỏ thời gian tìm hiểu hai điều : những việc mà nhóm IDS đã và đang làm là gì, những việc đó có phù hợp với thế giới tiến bộ không, có gây hại cho lợi ích chung không ? Từ đó để xác định nên đi theo vết chân của họ không, hay nên tránh xa.

Sau khi tìm hiểu những việc mà nhóm IDS đã làm, đặt trong bối cảnh chung của toàn thế giới và bối cảnh chung của khối cộng sản cũ Đông Âu, trước đây từng là cùng một hệ thống với Việt Nam, tôi đi tới nhận xét ngắn gọn (xin giải thích thêm, các bài viết trên blog thường thiên về việc đưa ra các ý tưởng mang tính gợi ý, chứ không phải là các nghiên cứu sâu với tất cả các thao tác khoa học cần thiết, vì thế độc giả không nên đòi hỏi bài trên blog phải giống như bài trên các tạp chí khoa học), nhưng hy vọng là tương đối bao quát, sau đây : nhóm IDS và các cá nhân vừa nêu trên trên đây chủ yếu tiến hành hai hình thức hoạt động chính : 1) thực hiện công việc truyền bá tri thức, và những tri thức này cơ bản thuộc hai dạng : tri thức tinh hoa của nhân loại, và những tri thức thời sự, thực tiễn, mà bộ máy truyền thông và giáo dục chính thống đã bỏ qua, do không nhận thấy được tầm quan trọng của chúng. 2) Loại hoạt động thứ hai mà nhóm này thực hiện, đó là hoạt động mang tính phản biện đối với một số chủ trương, chính sách của nhà nước.

Xét trên kinh nghiệm chung mà nhân loại đã đúc kết, hai hoạt động này đều thiết yếu nếu ta muốn xây dựng một xã hội văn minh và một nhà nước mạnh. Lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng minh : nhà nước càng mạnh khi nó để cho các hoạt động phản biện xã hội phát triển một cách mạnh mẽ. Bởi nhà nước sẽ hoàn thiện sức mạnh của mình, cùng với việc khắc phục các yếu kém và các nhược điểm của mình, nhờ có các hoạt động phản biện này.

Do vậy, kết luận của tôi là : nhà nước Việt Nam muốn mạnh thì cần khuyến khích và tạo hành lang pháp lý cho việc thành lập các tổ chức phản biện xã hội hoạt động có hiệu quả. Nhà nước của các quốc gia mà trong bài của mình ông/bà C. Nguyễn gọi là « các nước tân tiến như Anh, Mỹ, Úc, Pháp…  » (trích nguyên văn), nơi mà, theo chính ông/bà cho biết, các quan chức và người dân Việt Nam hiện nay đang gửi con cái du học, đều tạo lập sức mạnh của mình theo cách này. Nguyện vọng của các thành viên IDS là muốn Việt Nam trở thành nước tân tiến như Anh, Mỹ, Úc, Pháp, vì thế họ thực hiện nhiệm vụ và sứ mệnh mà trí thức của các nước này đã thực hiện.

Thế thì, không có gì do gì để không đi theo vết chân của nhóm IDS. Trái lại, cần hiểu rõ rằng, con đường của họ chính là con đường mà nhân loại tiến bộ đã và đang đi. Nếu ông/bà C. Nguyễn chịu khó tìm hiểu lịch sử thế giới, và lịch sử của khối cộng sản cũ ở Đông Âu, thì sẽ thấy rằng rút cuộc, nhân dân tiến bộ ở khu vực này đã tìm đến và hòa nhập vào con đường chung đó của toàn nhân loại : con đường của tri thức, của sự giải phóng các năng lượng cá nhân và năng lượng xã hội để từ các năng lượng đó tạo ra sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần cho xã hội, nhờ vào cơ chế dân chủ và tôn trọng con người, tôn trọng quyền con người.

Điều đáng tiếc chính là ở chỗ : không có nhiều người đi theo vết chân của nhóm IDS. Mặt khác, đối với nhóm này, có lẽ điều mà người dân chờ đợi ở họ là họ có thể làm nhiều hơn những gì họ đã làm, họ có thể thành công hơn, hiệu quả hơn, có thể phát động để tạo thành một phong trào mạnh mẽ chứ không chỉ dừng lại trong phạm vi một nhóm nhỏ giữa họ với nhau. Điều mà nhóm IDS chưa làm được, đó là : họ chưa thuyết phục được những người như ông/bà C. Nguyễn hiểu ý nghĩa và giá trị của công việc mà họ đang làm, họ chưa có được sự ủng hộ của ông/bà C. Nguyễn, nghĩa là chưa có được sự ủng hộ của đa số người dân trong xã hội. Điều đó cũng có nghĩa là tri thức, sự hiểu biết, khoa học, tinh thần phản biện, chưa được đánh giá đúng như giá trị mà chúng vốn có đối với sự phát triển của xã hội người, và của mỗi cá nhân.

Bao giờ mà những người như ông/bà C. Nguyễn mong muốn sự thành công của các tổ chức xã hội như IDS, bao giờ mà những người như ông/bà C. Nguyễn có các hành động thiết thực để ủng hộ họ, thì lúc đó có thể hy vọng Việt Nam giải quyết được những vấn nạn căn bản của mình.

Với một cách nhìn như vậy, tôi xin bày tỏ ở đây hai mong muốn : mong rằng IDS có thể tái lập để đi tiếp con đường của mình và có thể đi sâu vào lòng dân chúng với các hoạt động chung, mong rằng ông/bà C. Nguyễn và những người Việt Nam khác cùng sát cánh bên IDS để đưa dân tộc và đất nước đi vào không gian chung của sự tự do và phát triển.

Xin cảm ơn ông/bà C. Nguyễn đã cho tôi cơ hội tìm hiểu kỹ hơn những sự kiện, hiện tượng rất đáng tìm hiểu, và cho tôi cơ hội để nói thêm về một số điều cần được nói thêm. Dĩ nhiên, hành trình nhận thức của cá nhân tôi, cũng như của tất cả chúng ta, còn rất dài, nếu chúng ta muốn thực sự hiểu, để từ sự hiểu biết mà có các hoạt động hiệu quả, đáp ứng lợi ích chung.

Để kết thúc, tôi xin gửi tặng ông/bà C. Nguyễn câu này, trích trong cuốn « Giai cấp mới », của Milovan Djilas, người từng là Phó tổng thống Nam Tư, từng ngồi tù nhiều lần vì đã đấu tranh cho tự do của người Nam Tư nói riêng, và của nhân loại nói chung :

« Dù sao mặc lòng, thế giới sẽ tiếp tục thay đổi, sẽ đi theo con đường mà nó đã chọn, con đường mà nó đã bước chân lên, con đường dẫn đến sự hợp nhất, tiến bộ và tự do. Sức mạnh của hiện thực, sức mạnh của cuộc đời đã luôn luôn và sẽ mãi mãi mạnh hơn mọi áp bức, hiện thực hơn tất cả mọi lí thuyết. »

Djilas viết câu này trong tù, năm 1957 ; và từ năm 1991, Cộng hòa liên bang xã hội chủ nghĩa Nam Tư bắt đầu tan rã, các nước thành viên dần dần ly khai khỏi nó để tham gia vào thế giới chung của « sự hợp nhất, tiến bộ và tự do » như Djilas từng dự đoán.

Những việc làm của nhóm IDS chính là để một ngày nào đó Việt Nam có thể hội nhập vào cái thế giới chung này của nhân loại tự do và tiến bộ. Ông/bà C. Nguyễn và tôi, và tất cả mọi người, chúng ta nên ủng hộ họ, phải vậy không ?

Paris, ngày 9/11/2014

Nguyễn Thị Từ Huy

Chủ Nhật, 9 tháng 11, 2014

Luật sư Kiến nghị đổi người giam cùng buồng với nghi can Nguyễn Hữu Vinh

Post lại từ basam

November 7th, 2014

31-10-2014

Ông Nguyễn Hữu Vinh cho biết, ông đã bị giam chung với một bị can có tiền án và tiền sự về tội giết người và người này hiện đang bị khởi tố về một tội đặc biệt nghiêm trọng. Ông Vinh nói rằng việc giam giữ ông chung với một bị can như thế làm cho ông cảm thấy không an toàn và điều này gây ảnh hưởng đến tinh thần của ông. Thông qua luật sư Hà Huy Sơn, ông Nguyễn Hữu Vinh đề nghị được đổi người giam cùng phòng với ông.

HH2

HH2

Nguồn: FB Trịnh Hữu Long

—–

Về việc không trích xuất bị can để luật sư thực hiện công việc của người bào chữa

05-11-2014

HH2

HH2

Nguồn: FB LS Hà Huy Sơn

Thứ Ba, 4 tháng 11, 2014

Nguyễn Ngọc Như Quỳnh : Lại được "mời" giữa đường

Nguồn danlambao

Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Danlambao) - Lẽ ra giờ này tôi đang ở Hà Nội, theo lời mời của đại sứ quán Canada và Na Uy để tham dự buổi trao đổi về các quyền hợp pháp và quy trình thủ tục pháp lý trong bối cảnh Kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) đối với Việt Nam vào lúc 10 giờ sáng thứ Ba, ngày 4/11/2014. 

Tuy nhiên một lần nữa tôi lại bị bắt cóc giữa đường vào lúc 17:30 tại khu vực sông Lô, đường đi sân bay Cam Ranh - nơi khá hoang vắng vì ít người qua lại.

Lần trước là vào ngày 29/7/2014, trên đường đi dự hội thảo truyền thông của ĐSQ Úc, họ cũng đã chặn xe và lôi tôi về đồn CA tỉnh Khánh Hòa. 

Tôi không phải là người Việt Nam duy nhất được đại sứ quán mời, do đó không có gì là ngạc nhiên khi an ninh biết chuyện tôi sẽ đi Hà Nội để trao đổi với các đại sứ quán nhằm góp phần giúp đất nước Việt Nam cải thiện nhân quyền như chính nhà nước Việt Nam đã hứa hẹn và cam kết sau khi trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền Quốc tế. 

Sau khi dẫn độ tôi từ khu vực sông Lô về phòng làm việc, đội An ninh Điều tra (PA 92), Công an tỉnh Khánh Hòa đã lục soát hành lý cá nhân của tôi. Và khi không tìm thấy máy ghi âm hay thư từ gì thì họ cứ ngồi đó im lặng. 

Theo nhận xét của tôi, họ chỉ cần tôi ngồi đó để qua giờ khởi hành chuyến bay của tôi. 

Mãi lúc sau, một nhân viên an ninh mới hỏi tôi rằng được biết ngày mai công an có gửi giấy mời tôi lên làm việc tiếp nhưng giờ tôi lại đi sân bay, liệu tôi có thể cho biết tôi đi đâu và tại sao không chấp hành giấy mời không? 

Tôi đã trả lời rất rõ ràng với người an ninh hỏi tôi sau khi đã cưỡng chế tôi: 

- Lúc chiều khi làm việc, tôi đã nói rõ quan điểm về việc tạm giữ đồ đạc của mình, và tôi không đồng ý với kiểu sử dụng thủ thuật câu giờ của công an nên tôi không làm nữa. 

Cứ thế, tôi ngồi đó không làm việc thêm nội dung nào cho đến 21h thì điều tra viên Đỗ Bảo Liêm xuất hiện, thông báo công an sẽ tạm giữ giấy phép lái xe của tôi và yêu cầu tôi đến làm việc vào 8h sáng ngày mai (4/11/2014) thì họ sẽ trả lại giấy tờ tùy thân đồ đạc cho tôi. 

Tôi đã không đồng ý, ngồi yên tại chỗ và đề nghị lập biên bản tạm giữ giấy phép lái xe của tôi. 

Sau gần 20 phút hội ý về chuyện biên bản, ông Liêm lại xuất hiện, lúc này có thêm 4 công an nam trẻ hơn mặc quân phục nữa yêu cầu tôi ra khỏi phòng làm việc vì hết giờ. 

Tôi vẫn ngồi im, không trả lời. 

Và kết quả là họ đã xúm lại, khiêng tôi ra khỏi đồn công an. Những CA nữ đã khiêng tôi với sự trợ giúp của các CA nam. Khi ra đến gần cổng, tôi có nghe ai đó nhắc rằng chỉ để nữ lôi tôi ra, những người mặc sắc phục không nên chạm vào tôi nữa. Tôi bị vứt ra khỏi trụ sở công an tỉnh, sau đó tiếp tục bị khênh vào xe taxi chở thẳng về nhà. 

Quay trở lại chuyện làm việc lúc 2h chiều nay ở công an tỉnh theo giấy mời được gửi lúc 11h trưa.


Lý do để có buổi làm việc này là vì trước đó vào ngày 21/10/2014, tôi đã gửi đơn đến giám đốc Công an tỉnh Khánh Hòa yêu cầu làm rõ việc tịch thu, tạm giữ trái phép giấy tờ tùy thân cùng đồ đạc của tôi. Tôi cũng tuyên bố rõ là đúng 1 tháng sau ngày gửi đơn tôi sẽ tuyệt thực trước công an tỉnh 1 tuần. 

Tuy nhiên chiều nay trong buổi làm việc với tôi, điều tra viên Đỗ Bảo Liêm thông báo rằng việc công an tạm giữ đồ của tôi là do các bài viết trên blog, facebook cá nhân của tôi đã đăng tải thông tin xấu, sai sự thật từ năm 2009 cho đến nay nên việc tạm giữ đồ của tôi để phục vụ công tác điều tra là đúng quy định pháp luật. 

Tôi không cãi, chỉ nói thẳng: Nếu tiếp tục tạm giữ đồ thì bây giờ tôi về, không làm việc tiếp nữa. 

Sau đó công an kêu tôi đợi chừng 30p thì thông báo là "cơ quan quyết định trả đồ cho chị". Tôi ngồi im lặng, xem an ninh lập biên bản trao trả đồ vật mất hơn 30p nữa, khi phát hiện họ cố tình câu giờ và chỉ trả chứng minh nhân dân cho tôi thì tôi đứng lên và đi về. 

Họ cũng yêu cầu tôi không dịch đơn yêu cầu đã gửi cho ông giám đốc công an tỉnh ra tiếng Anh để gửi cho đại sứ quán Úc, cùng không được tuyệt thực trước trụ sở cơ quan công an vì như thế sẽ bị ghép vào tội gây rối trật tự công cộng do làm ảnh hưởng đến công việc của họ. 

Trong chuyện này, từ đầu đến cuối, tôi biết rõ rằng công an hoàn toàn không có thiện chí giải quyết đơn yêu cầu của tôi. Việc cử đúng người tịch thu đồ của mình là điều tra viên Đỗ Bảo Liêm ra lập biên bản lời khai với tôi chiều nay thể hiện rõ đây không phải một buổi làm việc giải quyết khiếu nại của công dân. Bên cạnh đó việc gửi giấy mời lúc 11h và yêu cầu tôi đến làm việc vào lúc 2h cùng ngày, rồi tiếp tục gửi tiếp giấy mời yêu cầu tôi làm việc vào 8h sáng hôm sau bất chấp việc tôi không đồng ý với cách giải quyết khiếu nại của công an cho thấy rõ họ quyết tâm ngăn cản tôi. đi khỏi Nha Trang.

Đặc biệt họ còn chuẩn bị sẵn ba chồng hồ sơ khá dày để yêu cầu tôi xác nhận là các bài viết của tôi được in ra từ blog và facebook. Phải chẳng đây là một thông điệp gián tiếp gửi cho tôi về trường hợp của blogger Trương Duy Nhất, Anhbasam Nguyễn Hữu Vinh và sợi dây thòng lọng của điều 258? 

Quan điểm làm việc của tôi với cơ quan điều tra trước sau rất rõ ràng: anh tịch thu đồ đạc của tôi để cầm chân tôi không cho tham dự hội thảo thì hãy giải quyết việc đó rõ ràng. 

Chuyện làm việc về các nội dung viết trên blog và Facebook là quan điểm cá nhân và là quyền bày tỏ thái độ của tôi, nếu có nội dung "xấu" và "không đúng sự thật" thì hãy sử dụng nghiệp vụ và tách rõ nó ra trong một nội dung làm việc cụ thể chứ đừng nhập nhằng chuyện tạm giữ tài sản công dân để yêu cầu tôi làm việc theo ý của cơ quan ANĐT. 

Hôm nay, tôi bị tịch thu giấy phép lái xe mà không có biên bản tạm giữ với lời nhắn "sẽ trả đồ và giấy tờ cho tôi nếu tôi đến làm việc vào 8h sáng ngày mai"

Một lần nữa, tôi bị tước quyền công dân trước khi có bất kỳ phán quyết nào của tòa.

Và tôi vẫn sẽ giữ nguyên ý định tuyệt thực trước trụ sở công an tỉnh cho đến khi nào các tài sản bị tạm giữ trái phép của tôi được trao trả vô điều kiện.


Lê Phú Khải : NHỮNG DỰ ÁN HUỶ DIỆT ĐẤT NƯỚC

Nguồn boxitvn

04/11/2014


Dư luận cả nước đang xôn xao về dự án sân bay Long Thành với chi phí xây dựng gần hai chục tỷ đô la Mỹ với một nền kinh tế quốc dân đang chới với công nợ, của một đất nước đang nghèo xác xơ như nước ta. Truyền hình quốc gia vừa đưa hình ảnh đồng bào miền núi phải qua suối rộng bằng cáp treo để vận chuyển hàng hoá và đã có chết người vì phương tiện giao thông hoang dã tự chế này.

Xem trên truyền hình thấy các ông nghị trong Quốc hội phát biểu tán đồng dự án sân bay Long Thành, người ta không thể không liên tưởng đến dự án làm đường xe lửa cao tốc cách đây mấy năm. Lúc đó ông Nguyễn Sinh Hùng đã tuyên bố trên chủ tịch đoàn: Phải làm tàu cao tốc!

Sau đó Quốc hội đã bỏ phiếu bác bỏ dự án khủng khiếp này.

Thoát được cái dự án khủng khiếp làm tàu cao tốc một phần là nhờ Tiến sĩ Tô Văn Trường, một trí thức tâm huyết và thẳng thắn. Anh Tô Văn Trường từng là chuyên gia nhiều năm cho các tổ chức khoa học trên thế giới, anh đi rất nhiều nước, quen biết nhiều nhà khoa học hàng đầu trên thế giới, vì thế, anh biết rõ mười mươi là tàu cao tốc ở các nước đang thất bại. Nếu cần nhanh thì người ta đi máy bay, không đi tàu cao tốc. Các hãng làm tàu cao tốc đang ế ẩm, đang muốn xuất khẩu kỹ nghệ này và đưa các kỹ sư, công nhân làm tàu cao tốc đang thất nghiệp của mình đi kiếm ăn ở các nước lạc hậu.

Anh Trường đã viết hàng chục bài, chứng minh có số liệu, có căn cứ khoa học về sự thảm hại của tàu cao tốc ở các nước. Và anh đã dồn dập gởi các bài viết của anh qua thư điện tử đến hàng chục đại biểu quốc hội trước ngày thông qua dự án tàu cao tốc. Vì thế, đã góp phần chặn đứng thảm họa tàu cao tốc ở một nước nghèo nàn lạc hậu như nước ta.

Nay lại đến dự án khủng sân bay Long Thành. Cũng may là có người biết rõ mười mươi những sự quái đản ở ngành hàng không Việt Nam, đặc biệt là những quái chiêu về các sân bay ở Việt Nam do các đại gia, các nhóm lợi ích đỏ trong quân đội thao túng. Người đó là nhà báo Nguyễn Đình Ấm, người đã làm việc cả đời trong ngành hàng không Việt Nam. Khi còn làm việc ở tạp chí của ngành hàng không Việt Nam, anh đã tố cáo trước dư luận nhiều chuyện tiêu cực, tham nhũng trong ngành theo lời kêu gọi của tổng bí thư Nguyễn Văn Linh về "Những việc cần làm ngay" một thời.

Vì ngay thẳng, nhà báo Nguyễn Đình Ấm đã bị bầm dập nhiều năm. Anh bị đình chỉ viết báo và phải đi bán báo của ngành hàng không nhiều năm. Do đi lang thang bán báo khắp cả nước, khắp ngành hàng không nên anh càng nắm được nhiều thông tin về các sân bay. Anh đã lên tiếng kịp thời về sân bay Long Thành trong bài viết "Sân golf đuổi sân bay".

Khi bị kỷ luật thôi không được viết ở tờ tạp chí của ngành, anh Ấm còn "may mắn" được đi theo các chuyến bay quốc tế để làm các công việc lặt vặt. Với lòng yêu nghề, thiết tha với lợi ích của ngành hàng không quốc gia, với nghiệp vụ của một phóng viên, nhà báo Nguyễn Đình Ấm đã điều tra được các số liệu quan trọng ở các sân bay quốc tế các nước. Anh đã công bố các số liệu này trong bài viết "Sân golf đuổi sân bay", đã vạch rõ những nhận định hoang đường về số lượng khách sẽ có ở sân bay Long Thành trong… 40 năm sau!

Về con người am tường các sân bay Việt Nam và quốc tế Nguyễn Đình Ấm, tôi có một kỷ niệm thật khó quên. Cách đây vừa tròn 20 năm, tôi bỗng nhận được một lá thư viết tay đề ngày 15/10/94 của Nguyễn Đình Ấm, một người tôi chưa từng quen biết. Lá thư gửi qua tay phi công Mai Trọng Tuấn, một người rất nổi tiếng trong ngành hàng không Việt Nam. Trong thư anh Ấm tâm sự với tôi về những lần anh đã "… can ngăn, đòi ông Nhị (tổng cục trưởng – LPK) phải ngăn chặn các vụ việc tiêu cực, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi, cục bộ địa phương bè cánh của các tay chân và bản thân ông…" "dùng tiền bạc, lợi ích của nhà nước một cách vô tội vạ", v.v.

Viết thư cho tôi, anh Ấm hy vọng những nhà báo lâu niên như tôi và các đồng nghiệp của tôi ở TP HCM – nơi báo chí sôi động – có thể hiểu và giúp đỡ anh về dư luận trong công cuộc đấu tranh chống tiêu cực ở ngành hàng không Việt Nam mà anh cho rằng "mặc dù khó khăn, gian khổ và nguy hiểm nhưng tôi vẫn quyết tâm giữ lấy phẩm giá của mình".

16 năm sau, trong một lần ra Hà Nội tôi mới có dịp gặp Nguyễn Đình Ấm, người viết cho tôi lá thư đề ngày 15/10/94 mà trước đó tôi chưa một lần quen biết. Lá thư ấy tôi vẫn còn giữ đến hôm nay.

clip_image002

Vì thế, tôi không hề ngạc nhiên khi Nguyễn Đình Ấm xuất hiện trong bài viết "Sân golf đuổi sân bay" đầy sức thuyết phục, đầy tâm huyết, khi người ta định đưa ra Quốc hội để thông qua dự án sân bay Long Thành đầy hiểm hoạ cho đất nước.

Viết đến đây tôi lại nhớ những lời tiên tri của bác Nguyễn Khắc Viện. Đại hội VI (1986) vừa xong, bác vỗ vai tôi nói ngay: Đổi mới kinh tế mà không đổi mới chính trị thì bọn tư bản nó sướng lắm! Nó sẽ được đầu tư vào một nước mà ở đó xí nghiệp, nhà máy của nó không phải bảo vệ môi trường, không có công đoàn độc lập để bảo vệ người lao động, không có báo chí tự do để tố cáo tội ác của các ông chủ tư bản, nhất là ông chủ tư bản ở các nước tư bản châu Á mới ngoi lên. Nó tha hồ vơ vét. Mà đã là tư bản thì càng lời càng tốt, càng vơ vét nhiều càng tốt. Đút lót các quan tham ở nước sở tại là xong hết. Thiên nhiên ở nước ta sẽ bị tàn phá tối đa. Các công trình rất "hoành tráng" (tàu cao tốc, sân bay khủng – LPK), các resort cao cấp sẽ mọc lên, bãi biển đẹp sẽ được cho thuê, tất cả chỉ để phục vụ bọn giàu có và man rợ, dân chúng thì càng ngày càng nghèo đói và bị đuổi đi để chúng chiếm đất… Tư bản ở chính nước nó thì nó không làm được những điều đó, vì có thiết chế dân chủ kìm chân…

Những lời bác Viện văng vẳng bên tai tôi… Hình ảnh đồng bào qua suối bằng cáp treo tự chế hiện ra trước mắt tôi…

Liệu các đại biểu của dân có thông qua dự án khủng sân bay Long Thành không? Hãy chờ xem!!!

L.P.K

Tác giả gửi BVN

Thứ Bảy, 1 tháng 11, 2014

Thomas A. Bass – Rừng Sát: Về việc bị kiểm duyệt ở Việt Nam (1)

Nguồn procontra

Tháng 11 1, 2014

Phạm Nguyên Trường dịch

Bài liên quan:
Phạm Thị Hoài – Cuốn sách về một điệp viên không hoàn hảo

Đó là những ngày đen tối ở Việt Nam, khi các nhà văn, nhà báo, các blogger, và tất cả những người dám chỉ trích nhà cầm quyền đều bị tuyên án tù nhiều năm. Thời nở rộ ngắn ngủi của văn học Việt Nam, sau khi Bức tường Berlin sụp đổ năm 1989 – giai đoạn được gọi là Đổi mới – đã qua từ lâu. Sau hai mươi năm bút đỏ và nhà tù, các nhà kiểm duyệt đã xóa sổ cả một thế hệ nhà văn Việt Nam, đẩy họ vào cõi im lặng hay chốn lưu vong.

Chính tôi đã phải chiến đấu suốt năm năm qua với các nhà kiểm duyệt Việt Nam, vì họ đã tìm cách cắt xén, viết lại, và sau đó ngăn chặn việc xuất bản bản dịch tiếng Việt cuốn The Spy Who Loved Us(2009), một trong những tác phẩm của tôi. Như bài báo trên New Yorker xuất bản năm 2005 đã nói, cuốn sách kể về Phạm Xuân Ẩn, một nhà báo của miền Nam Việt Nam, và là một điệp viên cộng sản hoạt động rất hiệu quả trong một thời gian dài – từ những năm 1940 cho đến khi ông qua đời năm 2006 – khiến ông trở thành một trong những điệp viên vĩ đại nhất của thế kỷ XX. Học ngành báo chí ở Mĩ và dùng nghề viết báo làm vỏ bọc, ông trở thành phóng viên của tờ Time trong suốt cuộc Chiến tranh Việt Nam và đã từng giữ chức trưởng văn phòng đại diện của tờ báo này ở Sài Gòn một thời gian ngắn. Được giao nhiệm vụ vẽ bản đồ chiến trường, đi theo các cuộc hành quân, và phân tích tin tức chính trị và quân sự, ông đã chuyển cho quân đội Bắc Việt những thông tin cực kì quí giá.

Sau chiến tranh, những người cộng sản chiến thắng đã phong ông là Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân và đưa ông vào hàng tướng lĩnh. Ông trở thành đề tài cho các nhà viết tiểu sử, và sự thực là, sáu cuốn tiểu sử đã được xuất bản, trong đó có một cuốn viết bằng tiếng Anh, của nhà sử học Larry Berman ở Georgia State University. Cuốn sách nhan đề Perfect Spy (2007) miêu tả Phạm Xuân Ẩn là một người yêu nước, một nhà phân tích chiến lược, người đã quan sát cuộc chiến tranh từ xa, cho đến khi ông nghỉ hưu và dành thời giờ tiếp đón những nhân vật nổi danh, từ Morley Safer đến Daniel Ellsberg.

Tác phẩm của tôi về cuộc đời của Phạm Xuân Ẩn thì phiền hà hơn. Tôi đã đi đến kết luận rằng người đàm đạo tuyệt vời này đã tạo ra một vỏ bọcthứ hai là điệp viên. Tự xưng là một người bạn của phương Tây, một người đàn ông trung thực, không bao giờ nói dối (mặc dù cả cuộc đời ông là một sự lừa gạt), Phạm Xuân Ẩn đã làm việc cho ngành tình báo quân sự Việt Nam, không chỉ trong Chiến tranh Việt Nam, mà còn kéo dài suốt ba mươi năm sau chiến tranh. Đồng thời, những kẻ môi giới quyền lực của miền Bắc cũng không tin ông, một người cực kì thông thái xuất thân từ miền Nam, vì ông đã thẳng thắn tấn công vào sự tham nhũng và thiếu năng lực của chính quyền cộng sản Việt Nam. Ông bị đố kị, chậm thăng chức trong quân đội và nhiều năm trời bị cảnh sát theo dõi. Ban đầu, có thể chính phủ Việt Nam đã hài lòng trước triển vọng xuất bản không chỉ một mà hai cuốn sách do các tác giả Mỹ viết về người "điệp viên hoàn hảo" của họ, nhưng càng đọc cách diễn giải của tôi về cuộc đời của Phạm Xuân Ẩn thì các nhà kiểm duyệt càng lo lắng, và cuốn sách càng phải bị cắt bỏ và viết lại, nếu muốn có giấy phép xuất bản.

Sau nhiều lần từ chối những đề nghị của một số nhà xuất bản về việc dịch cuốn sách của tôi, trong đó có Nhà Xuất bản Công an Nhân dân (một cơ quan của Bộ Công an Việt Nam) và Nhà Xuất bản của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (một trong những cơ quan kiểm duyệt lớn nhất cả nước), tháng 7 năm 2009 tôi đã ký hợp đồng với Nhã Nam, một nhà xuất bản có uy tín; Jack Kerouac và Annie Proulx, Umberto Eco và Haruki Murakami nằm trong danh sách các tác giả đã được nhà xuất bản này dịch. Nhã Nam là một nhà xuất bản độc lập, một trong số ít nhà xuất bản tại Việt Nam không liên kết với các bộ hoặc cơ quan kiểm duyệt nhà nước nào. Nhã Nam đôi khi bị phạt vì xuất bản những cuốn sách "nhạy cảm", và sách của họ có lúc bị thu hồi và đem cán thành giấy vụn. Sau này tôi mới biết rằng danh nghĩa độc lập của Nhã Nam không đảm bảo được cho sự độc lập của nó, nhưng phải ghi nhận là công ty này đã thông báo cho tôi về mọi hành động kiểm duyệt tác phẩm The Spy Who Loved Us trong suốt năm năm qua.

Nhiều tác giả không để ý đến những bản dịch tác phẩm của họ. Họ ủy cho những người đại diện bán quyền xuất bản và sau đó hầu như không buồn liếc qua khi bản dịch xuất hiện trong tiếng Đức hay tiếng Trung. Tôi có một kế hoạch khác đối với bản dịch tiếng Việt tác phẩm của mình. Tôi ngờ rằng nó sẽ bị kiểm duyệt và muốn theo dõi quá trình này. Tôi đã đề nghị đại diện của tôi đưa vào hợp đồng điều khoản nói rằng nếu chưa được tôi đồng ý thì cuốn sách sẽ không được xuất bản và phải thảo luận với tôi về những thay đổi đối với nội dung tác phẩm. Những điều khoản khác khiến cuốn sách này thành một cái gì đó tương tự như một cái máy đo địa chấn văn học. Tôi muốn nó ghi lại công việc của các nhà kiểm duyệt, ghi lại những ưu tư và lo lắng của họ, để cuối cùng tôi sẽ biết chính phủ Việt Nam lo ngại và muốn ngăn chặn điều gì.

Quá trình dịch tác phẩm của tôi sang tiếng Việt bắt đầu vào tháng 3 năm 2010, đấy là hôm tôi nhận được một email nói rằng: "Tôi là Nguyễn Việt Long của Công ty Nhã Nam, hiện đang hiệu đính bản dịch tác phẩmThe Spy Who Loved Us. Tôi muốn trao đổi với ông về bản dịch."

Ông Long bắt đầu bằng cách hỏi tôi có biết dấu chính xác ở tên người ông của Phạm Xuân Ẩn không. Tiếng Anh không có dấu, nhưng trong tiếng Việt thì dấu rất quan trọng, và tôi đánh giá cao sự quan tâm đến từng chi tiết của ông ta. Đáng tiếc là, phần còn lại của email lại có giọng điệu gây gổ hơn. "Ông có một số sai lầm," ông ta viết, trước khi sửa chữa một loạt sai sót. Nhiều sai sót mà ông ta đưa ra thực ra không phải là sai sót, mà là cách lí giải hoặc đánh giá, hay là những vấn đề còn gây tranh cãi trong các tài liệu lịch sử. Đại loại cũng tương đương với kiểu "bình luận bóng chày chuyên sâu", với những chi tiết rối mù, cốt để các học giả chỉ xoay quanh tiểu tiết mà quên đi điểm chính.

Ví dụ, Jean Baptiste Ngô Đình Diệm (vị Tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng hòa) có trở thành quan đầu tỉnh ở tuổi 25 hay không? Điều này phụ thuộc vào ngày sinh của ông ấy, và là câu hỏi không dễ trả lời. Người Việt có thói quen giấu ngày tháng năm sinh của mình, đây cũng là cách để tránh tà ma, cải thiện lá số và thu hút bạn tình trẻ. Một tình tiết mơ hồ đối với một tác giả người Mỹ hóa ra lại là vấn đề lớn đối với người Việt. Nếu giả định rằng Ngô Đình Diệm là một con rối của Mỹ, một con chó chỉ đường cho những tên đế quốc xâm lược, thì việc cuối cùng mà người ta muốn là ghi nhận những thành tích của ông ta khi ông ta còn trẻ. Vì vậy mà người ta phủ nhận sự kiện ông là quan đầu tỉnh trẻ nhất trong lịch sử Việt Nam, và phức tạp hóa vấn đề đến mức tác giả thà bỏ luôn lời khẳng định đó còn hơn là tiếp tục tranh cãi.

Trả lời câu hỏi của người đại diện về văn học của tôi, ngày 15 tháng 3, ông Long cho biết: "Sẽ bị kiểm duyệt (chắc chắn), cuốn sách khá nhạy cảm. Nhưng xin đừng lo lắng. Chúng tôi sẽ tiếp tục nói chuyện với tác giả và sẽ làm hết sức mình để bảo vệ được càng nhiều càng tốt sự nguyên vẹn của tác phẩm."

Ông Long tìm cách cho in vào dịp 30 tháng Tư – một ngày tốt, vì nó đánh dấu sự cáo chung của Chiến tranh Việt Nam. Sau khi đại diện của tôi nhắc  rằng theo hợp đồng thì ông ta phải gửi cho tôi xem bản dịch trước khi in, ông Long đã lỡ hẹn gửi bản dịch lần thứ nhất. Sau đó ông còn lỡ hẹn nhiều lần nữa, và cuối cùng, sáu tháng sau, tháng 9 năm 2010, tôi nhận được một bản bông. Điều đầu tiên tôi nhận thấy là có quá nhiều chú thích, trong một cuốn sách mà ban đầu không có một chú thích nào. Tôi đã tập hợp được một nhóm bạn bè – các học giả, dịch giả, một cựu nhân viên CIA và một nhà ngoại giao Mỹ với vợ là người Việt – để soát bản dịch. Những hồi âm của họ khiến tôi phải tỉnh ngộ. Hình như, rất nhiều các chú thích bắt đầu bằng: "Tác giả nhầm" ("The author is wrong."). Sau đó, người ta sửa "những sai lầm" của tôi.

Rõ ràng là, tôi đã hiểu sai chức năng của các biên tập viên Việt Nam. Ngay cả trước khi đến tay các nhà kiểm duyệt – những người ban phát giấy phép xuất bản ở Việt Nam – cuốn sách của tôi đã phải được người trong nhà nhào nặn lại. Ông Long sẽ cho nó cú đấm thôi sơn đầu tiên, và càng cắt gọt hữu hiệu thì ông ta càng được các quan chức nhà nước đánh giá cao, để những người này có thể đậy nắp chiếc bút đỏ của họ lại và chuyển sang kiểm duyệt những tác phẩm quan trọng hơn.

GIÁP LÁ CÀ TẠI HÀNG RÀO VĂN CHƯƠNG

Tôi viết thư cho ông Long, yêu cầu ông ta bỏ các chú thích. Anh chàng tội nghiệp này bây giờ chẳng khác gì một con chuột bị kẹt giữa một tác giả khó tính và các nhà kiểm duyệt khắt khe không kém. Khi chúng tôi thả bước vào những điểm tinh tế của lịch sử và địa lý Việt Nam, người biên tập viên của tôi và tôi viết cho nhau những bức thư rất dài. Bản chất của cuộc trao đổi thư tín này được minh họa bằng Rừng Sát (Swamp of Assassins), cũng là tình tiết đầu tiên được Long chú thích.

Nằm ở Đông Nam Sài Gòn, tiếp giáp công đường vận chuyển chính của thành phố ra biển, Rừng Sát là rừng ngập mặn vùng triều và nhiều năm trời đã là nơi trú ẩn của những toán cướp Bình Xuyên. Người Pháp đã sử dụng những toán cướp trên sông này nhằm trợ giúp những chiến dịch xâm lược của họ tại Việt Nam. Bảy Viễn, người cầm đầu những toán cướp này, đã được phong cấp tướng và được giao quản lí Sài Gòn như một thái ấp riêng. Ông ta là chủ của Xóm Bình Khang, một nhà thổ lớn nhất châu Á, với 1.200 nhân viên. Ông ta quản lí sòng bạc Đại Thế giới (Grande Monde) ở Chợ Lớn và sòng bạc Kim Chung (Cloche d'Or) ở Sài Gòn. Một viên trung úy của Bảy Viễn được cử làm đô trưởng cảnh sát cho một khu vực 60 dặm từ Sài Gòn đến Vũng Tàu (Cap Saint Jacques). Hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận cho Bảy Viễn – một phần được chia cho chính phủ Pháp – là buôn bán thuốc phiện, với thị trường trải dài từ Lào đến tận Marseille. Trong Chiến tranh Việt Nam, Rừng Sát trở thành khu vực tập kết của cộng sản, và những tên cướp sông đó đã đóng vai cộng sản trong một thời gian ngắn, trước khi trở cờ chạy sang phía bên kia.

Trước khi lui về sống ở Paris, nơi người ta có thể thấy ông dắt con hổ cổ tròng dây xích của mình tản bộ dọc đại lộ Champs Elysees, Bảy Viễn thường lánh về Rừng Sát mỗi khi không khí chính trị ở Sài Gòn trở nên quá nóng. Đấy là năm 1955, khi điệp viên huyền thoại Edward Lansdale tới thành phố này. Để hất cẳng Pháp khỏi thuộc địa này và thay thế bằng một chính phủ trung thành với Mỹ, Lansdale tung ra một chiến dịch quân sự chống Bình Xuyên. Để kiểm soát Sài Gòn, các đơn vị quân đội Việt Nam đã chiến đấu nhằm giành giật từng ngôi nhà của bọn cướp. Số binh sĩ tham gia vào trận chiến kéo dài một tuần này còn nhiều hơn trong trận Mậu Thân nổi tiếng năm 1968. Năm trăm người thiệt mạng, hai ngàn người bị thương, và 20.000 người mất hết nhà cửa. Trận đánh ủy nhiệm giữa Pháp và Mỹ này đánh dấu bước chuyển từ Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất sang Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai.

Phạm Xuân Ẩn nói rằng tất cả những gì ông biết về nghề gián điệp đều nhờ học từ Edward Lansdale. Lansdale là người bảo trợ ông, khi ông bắt đầu sự nghiệp tình báo quân sự, chính Lansdale đã đề nghị ông sang Mĩ học nghề báo. Do tầm quan trọng của Rừng Sát đối với cả thực dân, cộng sản cũng như những tên cướp và các nhà tình báo cho nên tôi đã lục rất nhiều tài liệu lưu trữ để kiểm tra lại vị trí của nó trong lịch sử Việt Nam. Đó là lý do vì sao tôi đặc biệt khó chịu khi thấy một chú thích nói rằng: "Tác giả nhầm".

Không được gọi là Rừng Sát mà phải là Rừng Sác, ông Long nói, và bằng cách đó ông ta đã biến Rừng của những Sát thủ (Swamp of Assassins) thành Rừng cây bụi ven biển (Forest of Seacoast Shrubs). (Rừng có nghĩa là forest, nhưng khi nói về rừng ngập mặn thì người ta có thể gọi là swampđầmSát là kết hợp từ Hán Việt có nghĩa là giết, như trongám sát.) Chính phủ đã đổi tên khu đầm này, vì tên chính xác của nó từ xưa đến nay không phải như thế. Tại sao? Bởi lẽ người miền Nam đã bóp lệch ngôn ngữ của đất nước và vô tình cho thấy sự thiếu hiểu biết của họ kéo dài nhiều thế kỷ. Người miền Nam phát âm những từ có đuôi "t" thành "k" hoặc "c". Như vậy là, do nhầm lẫn mà Rừng Sác đã trở thành Rừng Sát vì người miền Nam không thể phát âm chính xác và thường lẫn lộn khi có hai từ nghe giống nhau. Chắc chắn là, đằng sau việc đổi tên này, các quan chức cộng sản còn tỏ ra thận trọng về việc đã sử dụng Rừng Sát làm bàn đạp trong cuộc chiến tranh chống Mỹ. Họ không muốn bị người ta nhầm, coi họ cũng là những sát thủ sống ở đầm lầy.

Vấn đề có thể đã được giải quyết bằng cách nói rằng khu vực này thường được gọi là và bây giờ được gọi là y. Nhưng các nhà kiểm duyệt Việt Nam không làm việc theo cách đó. Họ có một cái nhìn toàn cục về lịch sử. Họ quay lại quá khứ nhằm sửa chữa những sai lầm theo lối hồi tố. Thậm chí trong bài diễn văn được trích dẫn, Bảy Viễn và Lansdale sẽ buộc phải nói về rừng cây bụi ở ven biển. Dễ hình dung là khi những thác ngộ niên đại và thuật ngữ cộng sản được chèn vào các tài liệu lịch sử thì sẽ sinh ra kiểu văn chương thiếu tự nhiên như thế nào. Vậy là tôi không có lựa chọn nào khác, ngoài tiến hành một chiến dịch chứng minh rằng: "Biên tập viên nhầm" ("The editor is wrong.").

Tôi gửi cho ông Long một loạt bản đồ của Pháp và Việt Nam, trong đó có bản đồ năm 1955 của Việt Nam, thể hiện những hoạt động quân sự chống những toán cướp Bình Xuyên. Tôi gửi cả những bản đồ lấy từ các đơn vị hải quân Mỹ hoạt động trong khu vực này, một bản sao đoạn văn của Tổng thống Richard Nixon gửi Nhóm Tuần tra Đặc khu Rừng Sát, và bản báo cáo năm 1974 về Rừng Sát của Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ. Tôi gửi một bản đồ vệ tinh của Google năm 2010, với khu vực được đánh dấu là Rừng Sát, và tôi thậm chí còn gửi một bức ảnh chụp một chiếc xe buýt đang rời khỏi thành phố Hồ Chí Minh, với điểm đến dự kiến ​​của nó được đánh dấu rõ ràng là Rừng Sát.

Ông Long phúc đáp bằng những "bằng chứng" riêng của mình, trong đó có web site của Resort và Restaurant Rừng Sác, và mấy tờ quảng cáo những dự án về nhà ở đã được tài trợ, tôi đoán là, bởi những người lãnh đạo Đảng ở địa phương. Tôi khẳng định luận cứ bằng cách gửi thêm nhiều email hơn, cho đến khi ông Long viết: "Tôi đồng ý loại bỏ hoàn toàn chú thích về Rừng Sát". Khi thảo luận về các chú thích còn lại, ông Long và tôi  lại trở về với cuộc chiến giáp lá cà tại hàng rào của văn chương. Mỗi cuộc trao đổi email đều biến thành một tái bản của Rừng Sát, cho đến khi ông Long đề nghị "bỏ những chú thích sai hoặc những chú thích liên quan đến sai lầm của ông", tôi vui lòng chấp nhận đề nghị đó.

Sau đó chúng tôi chuyển sang thảo luận về nhan đề cuốn sách. The Spy Who Loved Us có thể được dịch là The Spy Who Loved America (Điệp viên yêu nước Mỹ), hoặc, trữ tình hơn, là America's Best Enemy (Kẻ thù tốt nhất của nước Mỹ), trừ khi các nhà kiểm duyệt không chấp nhận những nhan đề này. Ông Long giải thích: "Kẻ thù tốt nhất của nước Mỹ" là nhan đề tốt, nhưng có phần nhạy cảm. Tại sao lại là "kẻ thù tốt nhất?" Điều đó có hàm ý rằng Phạm Xuân Ẩn không hoàn toàn trung thành với sự nghiệp cách mạng hay không?" Sau khi suy nghĩ kĩ hơn về "quan điểm đúng đắn", ông Long thừa nhận rằng "vấn đề phức tạp hơn chúng ta nghĩ lúc đầu". Sau đó tôi nhận được thư nói rằng "Điệp viên yêu nước Mỹ" đã bị "cơ quan quản lí xuất bản" của Việt Nam "bác bỏ ngay tức thì".

Trong thời gian đó, những người giúp tôi xem lại bản thảo (tất cả đều muốn giữ kín danh tính) đã lập ra danh sách những cụm từ, câu, và đoạn văn đã bị cắt bỏ hay cắt xén. Tôi gửi danh sách này cho ông Long và được ông trả lời: "Tôi đảm bảo với ông rằng người dịch đã không bỏ bất kỳ câu hay đoạn văn nào. Anh ấy chỉ đánh dấu những từ nhạy cảm mà thôi. Tất cả những chỗ bị bỏ hay sửa đổi đều là của tôi."

Tháng 10 năm 2010, ông Long viết thư nói rằng ông ta đã "mệt vì dự án này" và chán nản vì cuốn sách đã bị hai nhà xuất bản của nhà nước từ chối. Ông đang tìm cách xin giấy phép từ nhà xuất bản thứ ba, nhưng mọi người nói với ông ta rằng Đại hội XI sắp tới, mùa Xuân năm 2011, là "giai đoạn nhạy cảm" đối với việc xuất bản ở Việt Nam. Đây là thời điểm tế nhị, "khi tất cả mọi người đều không có động tĩnh gì để tránh những vụ rắc rối", ông ta nói.

Trong thư viết cho người đại diện của tôi vào tháng 12 năm 2010, ông Long nói: "Chúng tôi thông cảm với sự sốt ruột của tác giả! Tuy nhiên, tình hình còn tồi tệ hơn là ông tưởng tượng. Một nhà xuất bản nữa của nhà nước đã từ chối cấp giấy phép xuất bản cho bản dịch của chúng tôi. Rõ ràng là, đây là cuốn sách rất nhạy cảm trong thời điểm hiện nay. Mọi thứ bây giờ đều bị treo lên đó."

Khi ông Long viết thư cho tôi, nói rằng một loạt nhà xuất bản đã từ chối cấp giấy phép, tôi mường tượng quá trình này cũng tương tự như Random House phải làm việc về cuốn sách với Nhà Xuất bản của Lầu Năm góc. Nếu Nhà Xuất bản của Lầu Năm góc không chịu thì Random House phải đến Nhà Xuất bản của Bộ An ninh Nội địa hay Cục Điều tra Liên bang (FBI). Những cuộc đàm phán phải kéo dài và làm người ta nhục nhã, và trong một nền văn hóa xin-cho như ở Việt Nam, đấy chắc chắn là những cuộc đàm phán khá tốn kém.

Tôi chờ đợi suốt năm 2011, đợi Đảng Cộng sản đưa ra những nhà cầm quyền mới. Tháng 2 năm 2012, tôi viết thư cho ông Long, chúc ông một năm Thìn nhiều hạnh phúc và đề nghị ông vui lòng gửi cho tôi danh sách tất cả các cơ quan chính phủ từng tham gia vào việc kiểm duyệt cuốn sách của tôi.

Một tháng sau, ông ta trả lời và xin lỗi vì không còn giữ được liên lạc. Ông ta cho biết đã rời Nhã Nam để làm biên tập viên ở một nhà xuất bản chuyên in sách toán học cho trẻ em. Tôi cảm thấy lương tâm cắn rứt vì sợ rằng mình có thể là nguyên nhân của sự thay đổi công việc của ông ta. "Về giấy phép xuất bản cuốn The Spy Who Loved Us", ông ta viết, "Nhã Nam đã xin phép và vẫn tiếp tục xin một số nhà xuất bản cấp giấy phép, chứ chưa bao giờ ngừng như ông có thể nghĩ. Tôi đã hỏi thông tin mới nhất và người ta nói rằng những người lãnh đạo ở Nhã Nam vẫn hy vọng là cuốn sách sẽ được xuất bản."

"Chính thức thì chỉ có những nhà xuất bản của nhà nước mới được phép in sách", ông Long giải thích. "Vì vậy, muốn xuất bản thì công ty tư nhân (không phải quốc doanh), ví dụ như Nhã Nam, phải tham gia vào cái gọi là liên doanh xuất bản, nhằm được sự bảo trợ của nhà xuất bản của nhà nước và phải trả phí xuất bản cho nhà xuất bản này."

"Về mặt kỹ thuật, ở Việt Nam không có kiểm duyệt", ông nói, "nhưng các giám đốc hay tổng biên tập của các nhà xuất bản đôi khi yêu cầu bỏ những đoạn nhạy cảm, hoặc thậm chí họ nhát đến mức bỏ hẳn, không in cuốn sách (đây là trường hợp của chúng tôi). Hành động như thế, chúng tôi gọi là tự kiểm duyệt, và nó là nút thắt theo kiểu Gordian của ngành xuất bản Việt Nam."

Ông Long gửi kèm bản sao Luật Xuất bản của Việt Nam, dày hai mươi hai trang, nói rõ trong Điều 5.2, "Nhà nước không kiểm duyệt tác phẩm trước khi xuất bản". Phần còn lại của bộ luật này mâu thuẫn với Điều 5.2 đó, vì nó đưa ra những thứ "bị cấm trong hoạt động xuất bản". Trong đó có "tuyên truyền chống nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam" (Điều 10), "kích động chiến tranh xâm lược", "truyền bá tư tưởng phản động, lối sống dâm ô, đồi trụy, hành vi tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, hoặc phá hoại thuần phong mỹ tục". Những mục khác được dành cho công tác bảo vệ Đảng, quân sự, quốc phòng và bí mật quốc gia. "Xuyên tạc sự thật lịch sử", đặc biệt là "phủ nhận thành tựu cách mạng" cũng bị cấm.

Ông Long nói với tôi rằng biên tập viên mới của tôi ở Nhã Nam là cô Nguyễn Thị Thu Yến, dường như đang vừa là biên tập vừa là người phụ trách đàm phán hợp đồng với nước ngoài. Sau nhiều tháng trao đổi email, ông Long và tôi đã chuẩn bị xong bản bông thứ hai, xóa hết các chú thích và chỉnh lại ít nhất là những chỗ mà các vị cố vấn của tôi và tôi có thể tìm ra. Nhưng bản thảo vẫn bị lược bỏ và viết lại hàng chục chỗ khác. Tất cả những đoạn phê phán Trung Quốc đều bị gỡ bỏ. Cũng như vậy, những đoạn nói về các trại cải tạo, về nạn hối lộ, tham nhũng, sai lầm của Đảng Cộng sản, và những chủ đề "nhạy cảm" khác. Đáng tiếc là, chẳng bao lâu sau, bản của ông Long được thay bằng một bản khác, phiên bản chính thức được cấp phép. Một lần nữa, tôi lại hiểu sai bản chất của ngành xuất bản ở Việt Nam. Sau bấy nhiêu tháng, cuốn sách của tôi vẫn chưa được kiểm duyệt. Nó mới trải qua quá trình xem xét tiền kiểm duyệt mà thôi, nhưng công việc xóa bỏ những đoạn nhạy cảm vẫn chưa bắt đầu.

BUÔN BÁN CON TIN

Tháng 6 năm 2012, tôi nhận được email của Thu Yến, thông báo rằngThe Spy Who Loved Us (hoặc bất kì nhan đề nào khác) cuối cùng đã được chấp thuận để đưa vào xuất bản. Nhà xuất bản Lao Động, thuộc Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội của Việt Nam, đã trở thành đối tác xuất bản của chúng tôi. Giống như bùa thuật nhằm dọa nhát những nhà kiểm duyệt khác ít thế lực hơn, Lao Động sẽ đứng tên trên bìa sách. Có một số nhượng bộ nhất định, cô Yến thừa nhận. "Sau một thời gian rất dài xin giấy phép xuất bản, cuối cùng chúng tôi nhận được kết quả khả quan của Nhà xuất bản Lao Động", cô viết. "Để cuốn sách của ông được xuất bản thì phải cắt và viết lại một số đoạn, không thể làm khác. Tuy nhiên có điều đáng mừng là những điểm này được biên tập khá tốt về tiếng Việt và văn chương."

Không có trang in thử nào được gửi kèm. Thay vào đó, cô Yến gửi cho tôi một miêu tả về văn bản đã được kiểm duyệt. "Vì tác phẩm của ông có nội dung quá nhạy cảm, tôi hy vọng ông có thể coi những thay đổi này ở khía cạnh tích cực nhất, để tác phẩm của ông có thể đến với độc giả của chúng tôi."

Kèm theo email của cô Yến là một văn bản dài mười hai trang, liệt kê ít nhất là 333 chỗ bị cắt. Từng câu, từng đoạn văn, thậm chí từng trang bị xóa sạch. Bắt đầu với nhan đề tác phẩm và cho đến cả lời cảm ơn cuối cùng. Những sự kiện lịch sử cũng như nhiều tên người bị xóa bỏ. Võ Nguyên Giáp, vị tướng vĩ đại của Việt Nam, người đã giành thắng lợi trong trận Điện Biên Phủ, không còn là một nguồn trích dẫn nữa. Đại tá Bùi Tín, người đã tiếp nhận sự đầu hàng của chính quyền miền Nam Việt Nam năm 1975, bị xóa sạch khỏi văn bản và thậm chí xóa khỏi cả lời cảm ơn. Những trường đoạn mô tả quan hệ qua lại của Phạm Xuân Ẩn với Đảng, với quân đội, với Trung Quốc, và cảnh sát cũng bị xóa sạch. Nhiều đoạn bông đùa hoặc có chút mỉa mai cũng bị cấm.

"Ở Việt Nam anh không viết sự thật được đâu", một trong những cố vấn của tôi, cựu giáo sư văn chương, hiện sống tại Hoa Kỳ, nói. "Đất nước tôi bị lạc trong những lời dối trá. Con người nằm trong trung tâm tác phẩm của anh, nhưng bây giờ nó đã bị tước hết các chi tiết khiến câu chuyện trở thành đặc thù và hấp dẫn."

"Người cộng sản muốn những phát ngôn từ chính miệng anh", bà nói. "Sự tuyên truyền chính thống của họ sẽ có vẻ xác thực hơn nếu nó được một người phương Tây viết ra. Anh là công cụ của họ. Anh có thể phản đối và đàm phán để có được những nhượng bộ nhỏ, nhưng cuối cùng, họ sẽ thắng. Bao giờ họ cũng thắng."

"Bây giờ ngay cả chữ nghĩa trong tác phẩm của anh cũng xấu xí", bà nói, "mờ mịt chứ không rõ ràng. Nhiều thuật ngữ được mượn từ tiếng Trung. Nói cách khác, đấy là cái mà người Pháp gọi là langue de bois, tiếng lóng của bộ máy quan liêu. Cộng sản nghĩ rằng dùng những từ đó thì họ là bề trên. Họ muốn kiểm soát mọi thứ, thậm chí cả suy nghĩ của anh."

Sau khi so sánh phiên bản tác phẩm của tôi ở Nhà Xuất bản Lao Động với bản thảo của ông Long, bà nói: "Có quá nhiều thứ mà các nhà kiểm duyệt không thích, họ lập tức cắt, cắt, cắt. Chỉ nhìn cái bản thảo này là tôi đã phát điên đầu rồi". Phạm Xuân Ẩn không được phép "yêu" nước Mỹ hay yêu thời kỳ ông học ngành báo chí ở California. Ông chỉ được phép "hiểu" nước Mỹ. Câu nói đùa của ông, rằng ông không bao giờ muốn trở thành điệp viên và coi đấy là "việc của lũ chó săn", đã bị xóa hẳn. Lời tuyên bố của ông rằng mình sinh ra ở thời khắc bi thảm trong lịch sử Việt Nam, khi sự phản bội hiện diện khắp nơi, cũng bị cắt. Chiến dịch quyên góp vàng do Hồ Chí Minh tổ chức năm 1946, khi ông kêu gọi mọi người đóng góp những khoản hối lộ lớn nhằm thuyết phục quân đội Trung Quốc phải rút khỏi miền Bắc Việt Nam, bị xoá sạch trơn.

Gia đình của Phạm Xuân Ẩn không được phép "di cư từ Bắc vào Nam". Ông cũng không được phép tham gia nam tiến. Đó là công cuộc tiến về phương Nam diễn ra trong lịch sử Việt Nam, kéo dài hàng trăm năm, khi người Việt đi dọc dãy Trường Sơn, chiếm lãnh thổ của người Thượng, người Chăm, người Khmer, và các dân tộc "thiểu số" khác. Đoạn ca ngợi nền văn học Pháp bị xóa. Phạm Xuân Ẩn không được phép nói rằng người Pháp đã vẽ ra bản đồ của nước Việt Nam hiện đại. Ý kiến của ông rằng chủ nghĩa cộng sản là một lý tưởng không tưởng, không thể đạt được trong cuộc đời thực, cũng bị cắt. Lời ông khen Edward Lansdale là một điệp viên tuyệt vời, ông học nghề từ chính ông này cũng bị cắt. Trong toàn bộ tác phẩm, cuộc xâm lăng của miền Bắc được làm giảm bớt đi, trong khi mức độ man rợ của miền Nam thì bị thổi phồng lên. Đảng viên cộng sản luôn luôn đi đầu trong khi dân chúng thì vui vẻ theo sau. Những cố gắng của Phạm Xuân Ẩn nhằm phân biệt giữa cuộc chiến đấu vì nền độc lập của Việt Nam và cuộc chiến đấu vì chủ nghĩa cộng sản đã bị cắt.

Chúng tôi mới đọc đến trang 38 thì bạn tôi nói: "Họ muốn giết tác phẩm này. Họ hoàn toàn không thích nó". Những cuộc thảo luận về chiến dịch Cải cách Ruộng đất và và quyền sở hữu tập thể của cộng sản – cắt. Cộng sản không còn chịu trách nhiệm về việc phục kích và sát hại người giáo viên trung học cũ của Phạm Xuân Ẩn vào năm 1947 nữa. Thay vào đó là "một cuộc phục kích" của những kẻ vô danh nào đó. Ý kiến của John F. Kennedy và Robert, em trai ông này, khi tới thăm Việt Nam năm 1951 – cắt. Những đoạn nói về mấy hòn đảo của Việt Nam và những mỏ dầu ở ngoài khơi hiện đang tranh chấp với Trung Quốc – cắt. Lời tuyên bố nói rằng lực lượng hải tặc của Bảy Viễn đã chiến đấu vì cộng sản trước khi chạy sang phía bên kia – cắt. "Càng ngày họ càng hoang tưởng hơn", bà nói.

Chúng tôi lập được một danh sách dài các lỗi dịch thuật, những từ mà các biên tập viên Việt Nam của tôi đã hoặc là hiểu lầm hoặc cố tình không hiểu, đấy là những từ như: người viết thuê, sự phản bội, hối lộ, dối trá, khủng bố, tra tấn, tổ chức bình phong, dân tộc thiểu số và trại cải tạo. Người Pháp không được phép dạy người Việt Nam bất cứ điều gì. Người Mỹ cũng thế. Việt Nam chưa bao giờ tạo ra người tị nạn. Nó chỉ sinh ra những người định cư ở nước ngoài. Những đoạn nói rằng chủ nghĩa cộng sản là "vị thần đã thất bại" – cắt. Ý kiến của Phạm Xuân Ẩn rằng ông là bộ não Mỹ được ghép vào cơ thể Việt – cắt. Đoạn phân tích của ông về cách thức mà cộng sản thay nhà nước cảnh sát của Ngô Đình Diệm bằng nhà nước cảnh sát của mình – cắt.

Câu chuyện về tổn thất đầu tiên của Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam, sự kiện ông A. Peter Dewey, sĩ quan của lực lượng OSS, vô tình bị cộng sản giết năm 1945, đã bị xóa. Các sĩ quan quân đội Việt Nam bị tẩy khỏi chiến dịch. Không được nói Tết Mậu Thân là một thất bại quân sự. Không được kể chuyện chó bị thui. Những lỗi lầm trong lĩnh vực tình dục, tình nhân, hôn nhân ép buộc – tất cả đều biến mất khi các quan chức cộng sản dính vào. Những đoạn viết về Sài Gòn trong những tuần ngay sau khi chiến tranh kết thúc, trong đó có tình trạng thiếu lương thực và thắt chặt an ninh quốc gia – bị xóa sạch. Ngay cả lệnh cấm chọi gà cũng không được nhắc tới. Những đoạn viết về thuyền nhân bỏ trốn sau năm 1975 – cắt. Những đoạn viết về Việt Nam chiến đấu chống Campuchia năm 1978 – cắt. Những đoạn viết về Việt Nam đánh nhau với Trung Quốc năm 1979 – cắt. Mong muốn cuối cùng của Phạm Xuân Ẩn: hỏa táng và đem tro cốt rắc trên sông Đồng Nai, đã bị cắt. (Thay vào đó, người ta đã tổ chức tang lễ cấp nhà nước với một bài diễn văn ca ngợi do người đứng đầu ngành tình báo quân sự đọc.) Khi đọc đến cuối cuốn sách, chúng tôi thấy nhiều trang ghi chú và nguồn tài liệu đã không còn. Bảng chỉ mục (index) cũng biến mất. Nếu còn, chắc nhiều từ trong phần này đã chuyển sang nghĩa hoàn toàn ngược lại.

"Nhờ trời, hết rồi", bà bạn tôi nói. "Cuốn này làm tôi bạc cả tóc và bị nhiều cơn ác mộng".

Bản thảo của Nhà Xuất bản Lao Động đưa ra một lời đánh đố. Trả lời như thế nào đây? Các bạn cố vấn của tôi đưa ra hai giải pháp. Hoặc là chôn vùi dự án này, hoặc biến nó thành một vụ trao đổi con tin. Nhã Nam và Lao Động sẽ được phép xuất bản tác phẩm này, nhưng đổi lại, họ phải cho tôi bản thảo ban đầu và để tôi xuất bản trên mạng.

Để chuẩn bị cho các cuộc đàm phán, tôi đã xem lại hợp đồng ký với Nhã Nam ba năm trước đó. Công ty này cam kết sẽ chỉ thực hiện "những thay đổi nhỏ trong văn bản gốc của tác phẩm", và những sửa đổi này "sẽ không làm thay đổi đáng kể ý nghĩa hoặc không làm thay đổi đáng kể văn bản". Tôi đề nghị người đại diện của tôi ở New York gửi thông báo cho đại diện phụ của chúng tôi ở Bangkok, cảnh báo Nhã Nam rằng họ đã vi phạm hợp đồng vì lấy tác phẩm tuyên truyền thay thế cho bản dịch.

Cùng với tiền bản quyền gửi cho tôi – chậm trễ vì "vô tình quên" – Nhã Nam bắt đầu trở lại với "những chỗ cắt xén và thay đổi mà không thể nào làm khác được". Họ muốn gọi tác phẩm là Điệp viên hoàn hảo, nhưng bây giờ cô Yến đồng ý trở lại với nhan đề mà ông Long và tôi đã thỏa thuận. "Việc bản dịch bị kiểm duyệt là những điều hai bên đã thấy ngay từ đầu", cô viết cho đại diện của tôi như thế vào tháng 7 năm 2012. "Mức độ kiểm duyệt có thể gây sốc cho tác giả (cũng như chúng tôi). Nhưng ở đây chúng tôi thường xuyên gặp những chuyện kiểu như vậy, và chúng tôi biết hoàn cảnh ở đất nước chúng tôi. Chúng tôi đã tiếp xúc với 7 nhà xuất bản quốc doanh khác nhau, và, cuối cùng, chỉ có Nhà Xuất bản Lao Động cấp giấy phép xuất bản, kèm theo những đoạn bị cắt và sửa chữa."

Việc tôi hủy bỏ hợp đồng xuất bản là "biện pháp giải quyết dễ dàng nhất", cô Yến kết luận, nhưng "như thế thì sẽ bất công đối với chúng tôi và những dự định trung thực của chúng tôi. Chúng tôi sẽ rất thất vọng", cô nói.

Những cuộc trao đổi con tin của tôi cũng tiến triển không thuận lợi. Cô Yến đòi kiểm duyệt cả bản sẽ đăng trên mạng, và bằng cách đó, mở rộng quyền bá chủ của Việt Nam ra khắp thế giới. Nhưng cuối cùng cô rút lại, chỉ yêu cầu công bố trên mạng sau khi cuốn sách đã phát hành ở Việt Nam được 6 tháng. Chúng tôi cũng đồng ý rằng trên trang tác quyền sẽ in một tuyên bố nói rằng: "Đây là bản dịch một phần tác phẩm The Spy Who Loved Us. Có những đoạn trong tác phẩm này đã bị lược bỏ hoặc viết lại."

Cuối năm, khi tôi vẫn chưa được nhận bản bông để đọc lại và giấy phép xuất bản của chúng tôi sắp hết hạn, thì nhận được thư của cô Yến: "Tại sao ông lại đồng ý làm việc với Nhã Nam, nếu ông không tin tưởng biên tập viên Việt Nam của ông? Có phải chúng tôi không đáng tin bằng những người bạn của ông?" Tôi hình dung những chiếc móng tay của cô đang cào lên bàn phím trong lúc đánh máy. "Chúng tôi không thích nghe ý kiến của những người ngoại cuộc nữa. Thế là không chuyên nghiệp."

Tháng 6 năm 2013 cô Yến gửi thư cho tôi, thông báo rằng Nhã Nam vẫn đang tìm cách giữ giấy phép xuất bản, và họ hy vọng sẽ báo tin vui cho tôi một ngày không xa. Cô nói thêm rằng những người đọc cuốn sách gần đây nhất ở Việt Nam tỏ ra "sợ" cho dự án này. Tuần sau tôi được cô Yến đề nghị "kết bạn" trên Facebook.

(Còn tiếp 3 kì)

Bản tiếng Việt "Rừng Sát: Về việc bị kiểm duyệt ở Việt Nam"
Copyright © 2014 Phạm Nguyên Trường & pro&contra & Thomas A. Bass

Phạm Thị Hoài : Cuốn sách về một điệp viên không hoàn hảo

Nguồn procontra

Tháng 10 31, 2014

Phạm Thị Hoài

Khi nghe Thomas A. Bass, một tác giả và giáo sư văn chương ở New York, kể rằng cuốn sách của ông về Phạm Xuân Ẩn đang được dịch để xuất bản tại Việt Nam, thú thật tôi đã không chú ý lắm. Lại một cuốn nữa ư? Trong khoảng mười năm gần đây, sách báo, tài liệu, phim ảnh về nhà tình báo tài ba của Việt Nam, một "điệp viên hoàn hảo" như nhan đề một cuốn sách cũng của một giáo sư Mỹ, liên tục ra đời và chỉ khác nhau ở chỗ ngày càng rầm rộ hơn, hoành tráng hơn, thậm chí cũng giật gân hơn, có lẽ để làm ông còn hoàn hảo hơn. Song ở đất nước lạm phát cả kẻ thù lẫn anh hùng này, cách chắc chắn nhất để triệt hạ sức hấp dẫn của một nhân vật là bắc loa phóng thanh ca ngợi người đó từ sáng đến tối. Nếu cứ tiếp tục như thế, một lúc nào đó tác phẩm duy nhất còn thiếu về Phạm Xuân Ẩn sẽ là cuốn Giết một anh hùng như thế nào.

Khi được nghe kể tiếp là cuốn sách của Thomas A. Bass gặp rắc rối với kiểm duyệt, tôi thầm nghĩ, một học giả phương Tây định in sách ở Việt Nam, dù chỉ viết, chẳng hạn, về trang phục trên đầu người Việt, khăn, lá, mũ, nón, cũng phải chuẩn bị tinh thần chơi mèo vờn chuột với kiểm duyệt. Chuyện đó ông phải hiểu. Mà trái khoáy nhất là trí thức phương Tây càng thiên tả, thậm chí thân cộng hay cộng sản nòi, càng bị xét nét. Chắc ông cũng biết chuyện những trí thức Pháp và Đức từng đi theo Việt Minh đều lần lượt nếm mùi nghi kị của Việt Minh; đến tờ tạp chí văn hóa của Đảng Cộng sản Pháp Les Lettres françaises một thời còn bị ngờ là "thế lực phản động", có lẽ lỗi của nó là hay hơn mức các cán bộ văn hóa Việt Nam cho phép. Tôi rất hay tự hỏi, điều gì sẽ còn lại dai dẳng nhất, sau khi tất cả những giáo điều cộng sản, những u mê, ấu trĩ và cuồng tín, những thói quen, nếp hằn và thông lệ khủng khiếp của chế độ ấy qua đi. Có lẽ là sự nghi kị, ngờ vực đó. Chúng ta chỉ còn cách kiên nhẫn. Tôi rộng rãi cho nó một lịch trình ít nhất là một nửa thế kỉ.

Thomas A. Bass có vẻ không muốn đợi lâu đến thế. Khi tôi gần như đã quên hẳn câu chuyện còn bỏ dở, ông thông báo, đầy buồn phiền, rằng cuốn sách của ông bị kiểm duyệt tệ hại và ngỏ ý xem tôi có thể giúp được gì không. Tôi rất sẵn lòng viết thư cho nhà xuất bản của ông ở Việt Nam, Nhã Nam, hỏi han, chuyển sự buồn phiền từ New York qua ngả Berlin về Hà Nội, hi vọng, ấn tượng của cá nhân tôi về công ti xuất bản này là rất dễ chịu. Tôi an ủi ông rằng Nhã Nam là một lựa chọn tốt. Nếu có thể, họ đã in cuốn sách của ông không sót một dấu phẩy và còn cộng thêm một dấu chấm than tán dương. Song kiểm duyệt là môn thể thao tinh thần ở những quốc gia hậu cộng sản như Trung Quốc và Việt Nam, nó đòi hỏi một tinh thần "thượng võ" có thể gọi là mỉa mai, nhưng cũng có thể gọi là thuần túy thực dụng. Tác giả của Deng Xiaoping and the Transformation of China, ông Ezra Vogel, một giáo sư Harvard, cho rằng bản dịch tác phẩm của ông ở Trung Quốc giữ được 90% thì vẫn hơn là 0%, nếu nó không được xuất bản. Nó đã được xuất bản, và bán được gần 700.000 cuốn. Bộ phim Tử địa Skyfall chấp nhận cắt phăng cảnh một nhân viên bảo vệ ở Thượng Hải bị bắn gục; Đặc vụ áo đen 3 chấp nhận hi sinh cảnh toàn bộ nhân viên một nhà hàng Tàu là bọn giặc ngoài hành tinh. Bù lại bằng thị phần của Hollywood ở Trung Quốc, những tổn thất đó xem ra rất nhỏ. Vấn đề là sức chịu đau của từng người. Tôi chịu đau kém, nói đúng ra là không thể chịu nổi dù chỉ một nhát cắt, nên việc xuất bản ở Việt Nam là không đặt ra, trừ khi đã tự xử lí mình trước để tránh tay người ngoài.

Nhưng Thomas A. Bass còn vượt xa tôi. Chỉ cần nhìn thấy cái kéo kiểm duyệt là ông đã rên rỉ. Tiếng la của ông khiến tôi tò mò và bắt đầu đọc.The Spy Who Loved Us. The Vietnam War and Pham Xuan An´sDangerous Game quả nhiên là một cuốn sách khác về Phạm Xuân Ẩn. Với tất cả thiện cảm dành cho cuộc chiến đấu giành độc lập của người Việt và sự ngưỡng mộ không che giấu cho nhà tình báo vĩ đại, Thomas A. Bass quan tâm đến con người Phạm Xuân Ẩn đằng sau anh hùng Phạm Xuân Ẩn, đến những bí ẩn của một nhân cách đa diện đằng sau những bí mật của một cuộc đời hai mặt, đến những xung đột nghiêm trọng đằng sau trò chơi hai mang, đến những hoàn cảnh và số phận người Việt đằng sau các bản tin thời sự, đến những câu hỏi sẽ ám ảnh thời hậu chiến ngay đằng sau những sự kiện còn nóng hổi của Chiến tranh Việt Nam, đến điều chưa và không thể nói ra đằng sau những phát ngôn chính thức, đến sự thật khó khăn đằng sau những lớp hỏa mù dày đặc. Ông vẽ chân dung của một điệp viên không hoàn hảo trong một thời đại đầy lỗi lầm. Đôi khi tôi có cảm giác, tác giả không mong gì hơn là Phạm Xuân Ẩn chỉ là một nhân vật tiểu thuyết và Chiến tranh Việt Nam chỉ là một hư cấu. Nhưng cả hai đều thuộc chắc nịch vào hiện thực, một hiện thực kéo dài mà đến lượt mình, tác giả của cuốn sách cũng bị cuốn vào.

Cuốn vào và cuối cùng ông đã chấp nhận kiểm duyệt để điệp viên của mình trong vai "kẻ thù tuyệt vời của nước Mỹ" được ra mắt tại Việt Nam tháng Ba năm nay. Bù lại là một thương lượng làm giàu cho chúng ta, người đọc, người chứng kiến bước chuyển, dù quá chậm, quá gian nan, của Việt Nam về hướng cởi mở hơn, tự do hơn, đỡ ngại ngần ngờ vực nghi kị hơn. Nhã Nam đồng ý để tác giả công bố bản dịch trọn vẹn, không kiểm duyệt, trên mạng, sau sáu tháng phát hành bản bị kiểm duyệt tại Việt Nam. Tôi hân hạnh được dùng trang nhà của mình cho việc này. pro&contra sẽ lần lượt đăng tải phần so sánh những chỗ bị kiểm duyệt và phần hiệu đính, cũng như toàn bộ bản dịch đã được khôi phục và bổ sung. Và cùng với nó là những ghi chép của Thomas A. Bass về câu chuyện xuất bản cuốn sách của ông ở Việt Nam, "ghi lại công việc của các nhà kiểm duyệt, ghi lại những ưu tư và lo lắng của họ", như "một cái máy đo địa chấn văn học". Như chương vĩ thanh, nếu một ngày Điệp viên yêu chúng ta được xuất bản tại Việt Nam, nguyên vẹn.

© 2014 pro&contra