Thứ Ba, 29 tháng 1, 2013

Đinh Nhật Uy – Hồi Ký 25/1/2013: Ngày thăm nuôi vất vả (phần 1)

Nguồn danluan

Phần 1: Chạm mặt an ninh và "phóng viên báo Thanh Niên"

Tối thứ sáu. Buổi cơm tối gần xong, điện thoại Mẹ reo nhạc chuông lạ. Mẹ bỏ đũa xuống miệng chắc mẫm: "Con Nhung gọi chứ không ai khác". Đúng thật, chị Nhung gọi điện cho Mẹ. Chị hẹn gặp Mẹ ở đâu đó để cùng mua lương thực và đi thăm nuôi hai đứa con vào sáng mai. Cuộc trao đổi rất ngắn gọn, kết thúc Mẹ ừ một tiếng rồi cúp máy.

Sáng thứ 7. Mẹ đi từ rất sớm. Khi chạy ngang nhà tôi mẹ để ý thấy hai tên "cái mặt gian ác quen quen" ngồi quán café đối diện. Uống café mà mắt chăm bẵm soi mói về phía nhà tôi. Mẹ nhắn cho tôi một tin gọn lỏn: "Kẻ ác gần nhà". Lúc này là 6h sáng. Tôi tỉnh ngủ, chuyện quái gì nữa đây?

Hôm nay, người thăm nuôi tăng đột biến. Khu vực ngồi chờ đông nghẹt người. Xấp đơn nộp tại phòng dầy cộm. 2 bà mẹ là 2 người nộp đơn sau cùng vậy mà được "sắp xếp" gọi tên trước tiên để tiến về phòng gửi đồ thăm nuôi. Một ngày lạ.Mẹ đưa mắt ngó quanh và phát hiện một số kẻ quen mặt thụp ló trộm nhìn. Lạ nỗi, khi mẹ bước tới 1 bước để nhìn những kẻ đó là ai thì kẻ đó lại lùi 2 bước và đưa mặt đi nơi khác cố tình giấm mặt lẫn tránh. Mẹ cười.

- Con chuẩn bị tâm lý chưa Nhung?

- Dạ, sẵn sàng từ lúc ở nhà.

Hai bà mẹ dắt tay nhau đến quầy gửi đồ. Vẫn như mọi khi, gửi tiền, đồ ăn và không gặp mặt. Đã vậy còn nhận được một tin buồn. Bác sĩ trại giam cho biết rằng Phương Uyên đang bị hạ canxi và mắt bị đau do không đeo kính cận. Nguyên Kha bị ho bẩm sinh, gặp khí trời lạnh thì càng dữ dội hơn.

Mẹ và chị Nhung xin được gửi thuốc và mắt kính cận vào để chữa trị cho hai đứa nhỏ. 1 điều kiện được chấp nhận – đó là thuốc. Còn kính cận thì cấm tuyệt đối, vì họ cho rằng "kính cận và kính sát tròng có khả năng gây ra sát thương, sợ bị can dùng để tự vẫn". Câu trả lời cuối cùng vẫn là "quy định là vậy". Hai bà mẹ chán nản, thở dài.

Vừa quay ra về, mẹ và Chị Nhung bị một tốp an ninh chặn lại mời vào phòng làm việc. Vẫn tốp người cũ, vẫn những khuôn mặt cũ đến nỗi gọi là nhàm chán – Huỳnh Văn Nhựt phó phòng PA92 CA Long An.

- Mấy chú mời làm việc cái gì? Làm việc với ai? Làm với tui hay với nó – Mẹ hỏi

- Mời chị Nhung cùng chúng tôi làm việc một số vấn đề.

- Làm việc với nó hả? Vậy tui ngồi đây chờ.

Mẹ quay qua nói với chị Nhung:

- Con vào làm việc đi, bác ngồi đây chờ. Con làm việc thoải mái, khi nào ra rồi bác cháu cùng về. Nếu mày ở đến tối, tao chờ đến tối.

- Dạ.

Chị Nhung cùng những an ninh vào phòng gần đó làm việc một số vấn đề, Mẹ đi tới đi lui ngoài hành lang, bắt chuyện hỏi thăm những người khác. Hình như Mẹ phát hiện một chuyện lạ. Mẹ đi như chạy về phía một cô gái trẻ và thắc mắt:

- Nè con, sao ở đây cấm chụp hình mà con ngồi chụp vô tư vậy?

- Dạ, ở đây cấm chụp hình, nhưng con là phóng viên – cô gái trả lời bối rối.

- Con phóng viên hả? làm ở báo nào vậy? Sao tự nhiên hôm nay có phóng viên ở đây nữa? Phóng viên thiệt không?

- Dạ, con là phóng viên báo Thanh Niên.

- Báo Thanh Niên hả? Con tên gì?

- Con tên H… là phóng viên của báo Thanh Niên, hôm nay con xuống trại giam long an để làm phóng sự về tình hình an ninh trại giam và lấy ý kiến gia đình bị can đánh giá về cách cư xử của cán bộ trại giam.

- Ừ ừ.

- Mà theo Bác, cán bộ trại giam cư xử với mọi người có tốt không ạ?

- Trời ơi, bác là mẹ của bị can, là dân thường, dĩ nhiên tụi nó đâu có hỗn láo. Vấn đề là cách đối xử của tụi nó với những đứa đang trong kia kìa. Đối đãi tốt hay ngược đãi thì có trời mới biết. Nhưng ở đây tụi nó có cái quy định quái gỡ, không cho mang kính cận và kính sát tròng.

- Sao vậy bác?

- Nó sợ bị can tự tử.

- Người nhà của bác đang gặp vấn đề đó hả?

- Ừ, bác là mẹ của Đinh Nguyên Kha , còn nhỏ kia mới vào phòng làm việc với an ninh là mẹ của Nguyễn Phương Uyên. 2 đứa nó bị nhốt vào đây hơn 3 tháng rồi.

Vừa nghe xong thân thế 2 bà mẹ, cô phóng viên trẻ bỗng sượn mặt ra không nói gì, nhấc mông ngồi xa Mẹ một tý, dè dặt.

- Con có biết Đinh Nguyên Kha và Nguyễn Phương Uyên không? Báo chí và tivi đăng tin rầm rộ và kết tội điều 88 đấy.

- Dạ…. con không biết.

- Sao kỳ vậy? Phóng viên mà cái chuyện như vậy cũng không biết? Mấy ông chạy xe ôm còn biết nữa là…

- Dạ con làm báo Thanh Niên nhưng làm ở mảng khác.

- Mảng nào thì cũng phải theo dõi tin tức thường ngày để nắm bắt chứ? - …

- Con chụp hình nãy giờ, hỏi thăm nảy giờ thì nhớ đăng lên báo nhe. Bác đón chờ báo Thanh Niên đăng tin về cái trại giam này đó. Nhớ đănng tin nhe.

Nói xong mẹ đứng dậy đi, lại đi tới đi lui trước hành lang của cái phòng chị Nhung đang ngồi làm việc, lâu lâu ngó mắt dòm chừng. Cô phóng viên vẫn âm thầm cầm máy chụp hình, chụp chụp âm thầm.

Chờ hơn 2 tiếng đồng hồ, đến 11h30, khi mọi người đã về hết thì chị Nhung mới làm việc xong và bước ra. Chị tươi cười và nói với Mẹ;

- Phát mệt, tất cả những thứ cần nói con đã nghi rõ trong đơn tố cáo gửi chủ tịch nước rồi, cứ hỏi tới hỏi lui hoài cũng không có gì mới. Chắc con còn bị họ làm khó dễ dài dài.

- Tao tưởng đến tối chứ. Thôi vậy cũng được, về con, thằng Uy đang đợi, có gì nói sau…

Phần 2: "Côn đồ" quấy rối

Được Mẹ báo tin có "kẻ ác" ngồi chờ trước nhà, tôi chuẩn bị mọi thứ để đương đầu. Xong, nghĩ lại, có gì phải dè dặt chứ, bình thường thôi.

Chở Mẹ và Chị đến trại giam xong, tôi vào quán café ngồi chờ. Vừa đặt lưng xuống ghế chưa kịp gọi café thì cái tên lẽo đẻo theo sau nảy giờ cũng vào quán. Nó ngồi bàn đối diện hơi xa xa, tay cầm điện thoại chụp hình rẹt rẹt, rồi gọi điện lén lút. Tôi ngồi đó từ 8h30 sáng đến gần 12h, nó vẫn ngồi đó chờ đợi.

12h trưa. Khi Mẹ và Chị bước vào quán, nó liền móc điện thoại ra, giơ cao chụp thêm vài tấm nữa. Điệu bộ nghiệp dư, trơ trẽn nhìn tức cười. Nó bóc máy lên gọi gọi, làm liên tục, tất bật như tổng đài taxi. 2 bà mẹ nhìn thấy cười sặc sụa, xong cũng thấy lo lo vì không biết sẽ sảy ra chuyện gì. Nhìn thấy cái bản mặt thằng "côn đồ" này non chẹt, tôi lại thấy lo hơn. Lo bởi vì mấy thằng du côn trẻ người non dạ thường thất học nên hăng tiết thích làm càn. Tôi nhìn xung quanh, dò xét địa điểm rồi trấn an:

- Nơi này là quán café lớn, đông người, chắc mấy thằng côn đồ cũng không dám làm càn. Thôi mình cứ tự nhiên.

- Tao thách nó dám làm gì đấy, tao già sắp chết, nó rớ vào mắc công tốn tiền mua hòm bồi thường – mẹ trả lời to tiếng.

- Thôi kệ nó đi mà bác, con chạy chậm lắm – Chị nói vui giả lả, Mẹ cười.

Mẹ và Chị ngồi trao đổi chuyện gia đình. Mẹ hỏi thăm tình hình sức khỏe hai vợ chồng, rồi công việc làm ăn những ngày cận Tết. Chị kể về những vấn đề khó khăn về mặt xã hội và bức xúc khi nói về sự kỳ thị của xã hội đối với gia đình Chị. Những trường học ngoài khu vực Chị sinh sống, họ đem hẳn vụ việc con chị bị bắt tuyên truyền cho học sinh cấp 2 ,3 và phụ huynh biết để phòng tránh. Vợ chồng chị ốm đi rất nhiều vì dư luận và vì lo lắng cho đứa con gái mới lớn đang trong tù tội. Còn đứa con nhỏ thì thường xuyên nhắc đến tên chị của nó trong mỗi bữa ăn và sau những sáng thức dậy. "Mẹ ơi con nhớ chị Uyên", Chị nói lại câu này, miệng cười nhưng ánh mắt lưng tròng.Mẹ thở dài – "Tao có hay ho gì hơn mày đâu" rồi cả hai lặng yên.

Mẹ nhắc đến việc gửi đơn cho ông Nguyễn Sáu để yêu cầu được gặp mặt gửi quà tết cho 2 đứa nhỏ nhưng không được chấp nhận. Chị cũng nói về việc gửi đơn cầu cứu, tố cáo về sai phạm của CA Long An. Thằng côn đồ nghe loáng thoáng gì đó đến công an Long An, mắt nó sáng lên, móc điện thoại ra hí hoái làm gì đó. Chắc có lẽ, côn đồ luôn làm chuyện ác nên nghe hai từ công an là giật mình, vậy thôi, tôi không quan tâm nữa. Mẹ và Chị thấy thế, càng nói to tiếng hơn, nói nhiều hơn nữa, tôi chỉ biết cười.

1h30 trưa. Chúng tôi ra về, vừa ra khỏi quán, tôi nhìn lại, tên "côn đồ" lật đật đứng dậy theo sau. Tôi chở Chị ra bến xe khách Long an để về Sài Gòn, Mẹ chạy theo sau. Tôi đưa Chị lên tận xe, dặn dò kỹ lưỡng rồi đi. Điện thoại tôi reo, Mẹ gọi: "Nó theo, xe dream tàu 62K4 8375". Tôi tức tốc quay ngược lại bến xe, xe vừa xuất bến. Tôi chạy theo, thấy 1 tên côn đồ chạy theo sau xe, 1 tên đứng núp lùm ngay trụ ATM của ngân hàng đối diện. Bực mình, mẹ quay đầu xe chạy vào con hẻm bên hông bến xe rồi quay ngược lại, bóp còi và đâm mũi xe vào tên "núp lùm":

- "Đậu chi chỗ này, tránh chỗ tui rút tiền"…

Tên "côn đồ" quay lại nhìn thấy Mẹ, hoảng hốt, nổ máy xe bỏ chạy, mặt sượn ngắt. Tôi gọi điện cho Chị dặn dò cẩn thận nhưng vẫn không an tâm. Thôi, chạy theo sau xe Chị cho chắc ăn vậy. Bởi vì, "côn đồ gian ác" cướp của giết người, hiếp dâm phóng hỏa, chuyện gì mà tụi nó không dám làm. Tôi càng nghĩ, càng lo sợ cho Chị. Tôi và Mẹ quyết định "hộ tống' Chị và 2 tên "côn đồ" ra khỏi địa phận TP . Tân An, thậm chí lên tận cả Sài Gòn. Chạy hơn 10km, thấy yên lặng, cả 2 quay về.

Ở cái xã hội này, trên diện tích 1 mét vuông có đến 4 thằng ăn cướp. Chị, thân phụ nữ một mình vượt đường xa hơn 300km để vào thăm con. Nguy hiểm. Tôi và Chị không bà con máu mủ, không bạn bè chí cốt. Nhưng, chúng tôi như người một nhà. Có một thứ gì đó vô hình gắn kết chúng tôi lại với nhau không thể tách rời. Chắc đó là sự đồng cảm, sự nhận định về công lý và lẽ phải. Chúng tôi sẽ đoàn kết, đoàn kết để bảo vệ lẫn nhau và đoàn kết để bảo vệ cho lẻ phải. Có lẽ những người có lý trí và chính nghĩa mới hiểu được. Còn bọn "côn đồ đầu đất" thì ngàn năm muôn thuở.

Đi thăm con trong tù. Một việc làm bình dị giản đơn của những người mẹ.Nhưng sự thật thì không đơn giản. Rồi chuyện gì sẽ xảy ra cho những ngày sắp tới, ở cái xã hội này?

Tôi tự đặt câu hỏi rồi lại không dám trả lời.

312314_471985119516395_309906042_n.jpg

Thứ Hai, 28 tháng 1, 2013

“Bên thắng cuộc” lột trần hậu trường chính trị VN

Nguồn bsngoc

Phải nói cho rõ là "hậu trường chính trị của chế độ Việt Nam theo chủ nghĩa xã hội, hay cộng sản". Đã có nhiều người viết bài điểm sách, tôi không có gì để viết thêm. Tôi chỉ muốn rút ra vài điểm chính sau khi đã đọc xong bộ sách. Theo tôi nghĩ những câu chuyện Huy Đức thuật lại trong sách có thể giải thích tại sao nước ta nghèo hèn như hiện nay. Tôi cũng nghĩ các lãnh đạo thuộc phe XHCN của miền Bắc phải chịu trách nhiệm lớn trước lịch sử về những sai lầm của họ.

Một nhà văn hoá Âu châu từng nói rằng lịch sử chỉ là một chuỗi câu chuyện về gia đình và thế giới. Bởi thế, kể chuyện là một phương tiện có hiệu lực cao để giải thích những gì đã và đang xảy ra. Có thể khẳng định ngay rằng bộ sách Bên thắng cuộc của Huy Đức không phải là sách lịch sử. Huy Đức cũng nói rằng anh không viết sử. Tôi xem Bên thắng cuộc là một chuỗi câu chuyện hậu trường chính trị Việt Nam. Tất cả chúng ta cần phải biết những câu chuyện mà Huy Đức kể lại, bởi vì những câu chuyện đó sẽ thấp lên một que diêm trong cái lịch sử mờ ảo của Việt Nam vào những năm giữa thế kỷ 20 cho đến ngày hôm nay.

Đọc phần I của tập sách tôi như xem một cuốn phim quay chậm. Những kẻ một sớm chiều biến thành "Cách mạng 30/4". Đốt sách. Cạo râu, cắt ống quần. Cải tạo. Kinh tế mới. Đánh "tư sản mại bản". Đổi tiền. Vượt biên. Tất cả những biến cố đó là sự thật. Là người ở lại trong khi các đồng nghiệp tìm được vượt biên tôi có thể nói rằng tất cả những gì Huy Đức ghi chép đều đúng. Huy Đức không phải là người đầu tiên ghi lại những biến cố đau thương sau 1975. Trước Huy Đức đã có cụ Nguyễn Hiến Lê viết lại cẩn thận những sự kiện và biến cố làm cho miền Nam suy sụp sau ngày "giải phóng" trong tập Hồi Ký nổi tiếng nhưng bị nhà xuất bản cắt xén khá nhiều. Chúng ta thử đọc vài trích đoạn trong Hồi Ký của cụ Nguyễn Hiến Lê trước khi đọc sách của Huy Đức.

Kẻ "thắng trận" muốn biến miền Nam nghèo như miền Bắc:

"S tht bi hin nhiên ca chế độ là s suy sp ca kinh tế như tôđã trình bày sơ lượ trên. Hu qu làVit nam trước thế chiến t hào là "tin rng bc bể", có nhng đồng lúa, đồđin cao su mênh mông  min Nam, nhng m than, m pht phát phong phú ở miền Bắc mà bây giờ thành một trong vài nước nghèo nhất thế giới.

Nhưng một người Balan trong Ủy ban kiểm soát quốc tế năm 1975 bảo chỉ trong 5 năm, miền Nam sẽ "đuổi kịp miền Bắc", nghĩa là nghèo như miền Bắc. Lời đó đúng, rất sáng suốt. Nếu không nhờ mấy trăm ngàn kiều bào ở ngoại quốc gởi tiền, thuốc men, thực phẩm, quầ áo… về giúp bà con ở đây thì chúng ta hiện nay cũng điêu đứng như anh em miền Bắc rồi". 

Trong cùng lúc ra tay hành hạ dân miền Nam:  

"Khổ nhất là bọn đi kinh tế mới, thất bại, tiêu tan hết vốn liếng, về Sài gòn, sống cảnh màn trời chiếu đất, ăn xin, moi các đống rác hôi thối, lượm một miếng giấy vụn, một túi ni lông, một miếng sắt rỉ, một quai dép mủ… để bán cho "ve chai". Trông thấy đống túi ni lông được rửa qua loa trong nước dơ rồi phơi ở lề đường để bán cho tiểu thương đựng hàng, tôi ghê tởm quá".

Trong khi đó bản thân những kẻ "thắng cuộc" thì ăn hối lộ và tham nhũng:

"Ở tnh nào cũng có mt s cán b tham nhũng cấu kết với nhau thành một tổ chức ăn đút ăn lót một cách trắng trợn, không cần phải lén lút. Có giá biểu đàng hoàng: xin vô hộ khẩu một thành phố lớn thì bao nhiêu tiền, một thị xã nhỏ thì bao nhiêu, một ấp thì bao nhiêu. Muốn mua một vé máy bay, vé xe lửa thì bao nhiêu. Muốn được một chân công nhân viên, phải nộp bao nhiêu… Cái tệ đó còn lớn hơn thời trước".

Họ tạo nên một xã hội trong đó con người mất nhân phẩm:

"Một cán bộ tài chánh xã mà không biết chia 72 cho 24. Trong một buổi hội họp của Hội trí thức thành phố Hồ Chí Minh, một kĩ sư già bực mình vì tình trạng cán bộ đa số dốt nát, bảo: "Tôi chấp nhận vô sản chuyên chính, mà không chấp nhận vô học chuyên chính". Ngay chiều hôm đó ông ta bị bắt giam; sau cũng được thả ra".

"Sống dưới chế độ cộng sản, con người hóa ra có hai mặt như Sakharov đã nói: chỉ giữa người thân mới để lộ mặt thật, còn thì phải đeo mặt nạ; luôn luôn phải đề phòng bạn bè, láng giềng, có khi cả người trong nhà nữa. Người ta tính cứ 5 người thì có 1 người kiểm soát từng ngôn ngữ, hành vi của 4 người kia. Ngay một phó viện trưởng cũng làm việc điểm chỉ đó mà bạn trong viện không hay. Dĩ nhiên kẻ kiểm soát đó lại bị người khác kiểm soát lại. Ở Nga thời Staline như vậy, ở Bắc những năm 1954-1960 cũng gần như vậy; ở Nam đỡ hơn vì đa số người trong này không chịu làm thứ mật thám chìm đó".

Tình trạng phân chia Nam Bắc càng nặng:

"Tht bi ln nht, theo tôi, là không đoàn kết được quốc dân. Tháng 5-1975, có ít nhất là 90% người miền Nam hướng về miền Bắc, mang ơn miền Bắc đã đuổi được Mĩ đi, lập lại hòa bình, và ai cũng có thiện chí tận lực làm việc để xây dựng lại quốc gia. Nhưng chỉ sáu bảy tháng sau, cuối 1975 đã có đa số người Nam chán chế độ ngoài Bắc, chán đồng bào Bắc. Tôi nhớ như ở phần trên tôi đã nói năm 1976, trong một cuộc hội nghị ở Sài gòn, bàn về vấn đề thống nhất quốc gia, một học giả lão thành miền Bắc, ông Ðào Duy Anh (đã có hồi sống ở Nam nhiều năm, có nhiều bạn thân ở Nam) khi được mời phát biểu ý kiến, chỉ nói mỗi một câu đại ý là thống nhất cái gì cũng dễ; quan trọng nhất là phải thống nhất nhân tâm đã. Cả hội trường sửng sốt và làm thinh.

Ông Anh đã nhận xét đúng và dám nói. Quả thực là lúc đó có sự chia rẽ nặng giữa người Nam và người Bắc, Nam đã không muốn thống nhất với Bắc rồi. Từ đó, tinh thần chia rẽ cứ mỗi ngày mỗi tăng, năm nay (1980) có thể nói 90% người miền Nam hay hơn nữa, muốn tách khỏi miền Bắc".

bởi vì một trong những nguyên nhân là:

"Người Bắc coi người Nam là ngụy, đối xử với người Nam như thực dân da trắng đối với dân "bản xứ", tự cao tự đại, tự cho rằng về điểm nào cũng giỏi hơn người Nam, đã thắng được Mĩ thì cái gì cũng làm được. Chỉ cho họ chỗ sai lầm trong công việc thì họ bịt miệng người ta bằng câu: "Tôi là kháng chiến, anh là ngụy thì tôi mới có lí, anh đừng nói nữa.

Chẳng bao lâu người Nam thấy đa số những kẻ tự xưng là kháng chiến, cách mạng đó, được Hồ chủ tịch dạy dỗ trong mấy chục năm đó, chẳng những dốt về văn hóa, kĩ thuật -điều này không có gì đáng chê, vì chiến tranh, họ không được học- thèm khát hưởng lạc, ăn cắp, hối lộ, nói xấu lẫn nhau, chài bẫy nhau… Từ đó người Nam chẳng những có tâm trạng khinh kháng chiến mà còn tự hào mình là ngụy nữa, vì ngụy có tư cách hơn kháng chiến. Và người ta đâm ra thất vọng khi thấy chân diện mục của một số anh em cách mạng đó, thấy vài nét của xã hội miền Bắc: bạn bè, hàng xóm tố cáo lẫn nhau, con cái không dám nhận cha mẹ, học trò cấp II đêm tới đón đường cô giáo để bóp vú…".

Nhưng cụ Nguyễn Hiến Lê ghi chép thời cuộc, tình hình chung, còn Huy Đức thì cung cấp cho chúng ta những câu chuyện hậu trường, những suy nghĩ cá nhân của những người nặn ra những chính sách ác ôn dẫn đến tình hình mà cụ Nguyễn Hiến Lê nhận xét. Có thể nói rằng cuốn sách của Huy Đức là một bổ sung quý báu cho hồi ký của cụ Nguyễn Hiến Lê.

Bây giờ chúng ta thử đọc xem Huy Đức đã cho chúng ta chứng từ để giải thích cho những nhận xét của cụ Nguyễn Hiến Lê. Đọc xong bộ sách tôi thấy những thông điệp sau đây lắng đọng trong tôi:

1.- Đó là một chế độ độc tài và toàn trị. Người cộng sản nói rằng chế độ do họ dựng lên là dân chủ tập trung.Nhưng trong thực tế chúng ta thấy rằng chẳng có gì là dân chủ trong chế độ cộng sản. Tất cả các chính sách đều do một nhóm người trong Bộ chính trị quyết định. Nhưng qua Bên thắng cuộc, chúng ta còn biết rằng rất nhiều chính sách có ảnh hưởng đến hàng triệu người chỉ do một người quyết định, bất chấp những lời khuyên của người khác. Điển hình cho tính độc tài là quyết định mở cuộc tổng tấn công vào Tết Mậu Thân. Rõ ràng, đó là một chế độ độc tài, sao gọi là dân chủ tập trung được.

Điều mỉa mai nhất là họ cáo buộc rằng chế độ VNCH là do Mỹ dựng lên và tay sai của Mỹ, nhưng chính người lãnh đạo cao cấp nhất trong chế độ CS là Lê Duẩn khẳng định rằng họ đánh miền Nam là đánh cho Liên Xô, cho Trung Cộng. Hình như chưa một lãnh đạo miền Nam chưa ai trơ tráo nói rằng họ là tay sai của Mỹ. Nói cách khác, chế độ CS ngoài Bắc thời đó là một chế độ toàn trị tay sai của ngoại bang.

Tính toàn trị còn thể hiện qua việc Bộ chính trị kiểm soát cả hành vi xã giao của các đồng chí họ. Đọc đoạn Huy Đức tả cái bắt tay hờ hững của cựu thủ tướng Phan Văn Khải với ông Bill Clinton mà buồn cười về sự trẻ con và thiếu văn hoá của lãnh đạo CS. Ông Khải không mở miệng cười với Bill Clinton. Khi được hỏi tại sao lại có hành vi kém xã giao như vậy, ông Khải thú nhận: "Không được đâu mày ơi, Bộ chính trị đã thống nhất là không được cười".  Đoạn viết về một ông tướng công an "làm việc" với ban giám hiệu Đại học Quốc gia Hà Nội để chỉ đạo lúc nào nên cười, lúc nào nên vỗ tay, thậm chí những hành vi xem thường ông Bill Clinton như để cho sinh viên đọc báo trong lúc ông nói. Tất cả những hành động và sự giật dây đó là những minh chứng hùng hồn cho thấy chế độ toàn trị kiểm soát tất cả hành vi sống của người dân.

2.- Nội bộ thiếu đoàn kết.  Thoạt đầu, ấn tượng của tôi về các vị lãnh đạo phe CSVN là họ rất đoàn kết với nhau. Nhưng đọc qua Bên thắng cuộc và kinh nghiệm cá nhân, tôi mới thấy ấn tượng đó rất sai lầm. Người CSVN, đặc biệt là trong giới lãnh đạo thượng tần, rất ganh ghét và đố kỵ lẫn nhau. Huy Đức qua những câu chuyện cá nhân phác hoạ một bức tranh rất xấu về Lê Đức Thọ và Lê Duẩn, hai người không ưa tướng Võ Nguyên Giáp. Từ một tướng vang danh thế giới bị hạ xuống người đi đặt vòng ngừa thai cho phụ nữ! Những ganh ghét và đố kỵ rất con người cũng giống như các lãnh đạo thuộc phe VNCH. Nhưng có cái khác biệt căn bản là các lãnh đạo VNCH hành xử có văn hoá hơn và có phần tế nhị hơn so với các lãnh đạo phe CS.

Họ sẵn sàng dựng nên những câu chuyện để bôi xấu lẫn nhau. Vụ án "Năm Châu – Sáu Sứ" được Huy Đức mô tả khá rõ và cho thấy các đồng chí thượng tầng CS có thể lập mưu mô để hạ bệ những ai họ không ưa thích. Họ còn dám dùng cả những thủ đoạn thấp như photoshop để nguỵ tạo hình ảnh trai gái để tố cáo ông Lê Khả Phiêu lúc đó là tổng bí thư đảng.

3.- Tàn nhẫnSự hành xử của một số lãnh đạo CS cấp cao có thể nói là tàn nhẫn. Sự tàn nhẫn thể hiện ngay giữa các đồng chí. Chúng ta thử đọc qua đoạn mô tả Võ Chí Công, Đoàn Khuê và Nguyễn Đức Tâm trả thù Võ Viết Thanh sau khi tướng Thanh bắt Năm Châu và Sáu Sứ:

"Tôi tới phòng làm việc của Đoàn Chủ tịch Đại hội, thấy Võ Chí Công, Nguyễn Đức Tâm, Đoàn Khuê, Nguyễn Quyết, Nguyễn Thanh Bình đang chờ. Mặt Đoàn Khuê hằm hằm, Võ Chí Công và Nguyễn Đức Tâm nói ngắn gọn: 'Chúng tôi thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, báo đồng chí hai nội dung. Trước hết, xin chuyển tới đồng chí nhận xét của Bộ Chính trị: Đồng chí là một cán bộ cao cấp còn trẻ, công tác tốt, rất có triển vọng, nhưng rất tiếc, chúng tôi vừa nhận được một số báo cáo tố cáo đồng chí hai việc: Một, ngay sau giải phóng, đồng chí có cho bắt hai cán bộ tình báo của Bộ Quốc phòng và từ đó hai cán bộ này mất tích; hai, cái chết của cha mẹ đồng chí là bị ta trừ gian, chứ không phải do địch giết. Vì vậy, chúng tôi đành phải rút đồng chí ra khỏi danh sách tái cử vào Trung ương khóa VII'."

Ông Võ Viết Thanh phản ứng như ssau: 

"Tôi hết sức bất ngờ. Khi nghe xúc phạm đến ba má tôi thì tôi không còn kiềm chế được. Trong cặp tôi lúc đó có một khẩu súng ngắn, tôi đã định kéo khóa, rút súng ra bắn chết cả ba ông rồi tự sát. Nhưng, tình hình lúc đó, nếu tôi làm thế là tan Đại hội. Tôi cố nuốt cơn tức giận."

4.- Lừa gạt và dối trá. Người dân đã bị bộ máy tuyên truyền của chế độ định hướng suy nghĩ và cảm nhận. Những trẻ em mới lớn lên đã bị bộ máy tuyên truyền nhồi nhét rằng các vị lãnh đạo đáng kính suốt đời hy sinh hạnh phúc cá nhân để đấu tranh cho bình đẳng xã hội. Họ còn bị nhồi nhét rằng chế độ VNCH là chế độ ác ôn, với những con người ăn trên ngồi trốc, trong khi phần lớn người lao động phải sống khổ cực. Nhưng Bên thắng cuộc lột trần "huyền thoại" cao cả của các lãnh đạo CS. Sự thật nói lên rằng họ chính là những người ăn trên ngồi trốc. Trong khi người dân không đủ cơm ăn thì họ phè phỡn với bơ sữa từ Đông Âu. Họ có những vườn rau riêng. Họ có một đội quân bác sĩ chăm sóc sức khoẻ dưới danh xưng "Ban bảo vệ sức khoẻ trung ương". Người dân không có thuốc điều trị nhưng lãnh đạo CS thì có thừa. Nếu lấy cái nền lãnh đạo VNCH có đặc quyền đặc lợi là 1 thì những người lãnh đạo CS có đặc quyền đặc lợi phải lên đến 100. Do đó, tất cả những gì người CS phỉ báng giới lãnh đạo VNCH thì cũng chính là những gì họ phỉ báng chính họ với cường độ cao hơn 100 lần. Một cách ngửa mặt lên trời phun nước bọt.

5.- Đạo đức giả. Báo chí miền Bắc thường ra rả tuyên truyền rằng lãnh đạo VNCH là những kẻ ăn chơi, đa thê đa thiếp, chỉ biết suốt ngày nhảy đầm chứ chẳng có kiến thức chính trị gì cả. Họ còn viết hẳn một cuốn sách về các tướng lãnh VNCH. Đọc cuốn này cũng là một phương thức giải trí tốt vì các tác giả có khả năng tưởng tượng khá tốt. Nhưng còn các lãnh đạo CS thì sao? Họ là những kẻ nhiều vợ. Lê Duẩn. Nguyễn Văn Linh. Lê Đức Thọ. Võ Văn Kiệt. Có thể cả ông Hồ. Tất cả đều có hơn 1 vợ. Tất cả đều sẵn sàng bỏ vợ lại sau lưng để "theo đuổi sự nghiệp cách mạng". Nhưng cũng có thể họ xem phụ nữ như là những người để họ giải quyết vấn đề tình cảm sinh lý. Không phải ai trong giới lãnh đạo CS đều sống vô đạo đức, nhưng nhìn qua những nhân vật cao cấp chúng ta thấy nói rằng thói đạo đức giả rất phổ biến trong giới thượng tầng của chế độ.

6.- Dốt nát. Chúng ta biết rằng những người cộng sản thế hệ thứ nhất như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp (không tính đến những người như Trần Phú, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ) là những người có trình độ học vấn khá và có bản lãnh. Nhưng Bên thắng cuộc tiết lộ rằng những người thuộc thế hệ đàn em của những người tiền phong toàn là một nhóm người ít học. Những lãnh đạo như ông Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nguyễn Văn Linh … đều xuất thân từ thành phần không có cơ hội học hành đến nơi đến chốn. Sự dốt của lãnh tụ có khi đến mức hài hước. Trong phần viết về sức khoẻ lãnh đạo, chúng ta được biết ông Đỗ Mười nói về bệnh trạng của tướng Đoàn Khuê, qua lời thuật của ông Nguyễn Văn An, như sau: "Đoàn Khuê nói với tao, uống tam thất nó tan hết rồi mà. Đoàn Khuê còn vạch bụng cho tao xem. Tôi bảo: thưa anh, theo chuyên môn thì đấy là khối u nó chạy chứ không phải tan đâu ạ". Thật kinh hoàng khi những con người như thể được đặt ở vị trí chót vót lãnh đạo một đất nước 90 triệu dân!

Qua Bên thắng cuộc chúng ta biết rằng các lãnh đạo CS có tầm nhìn rất hạn hẹp. Có thể do bị nhào nặn bởi tuyên truyền cộng với kém học thức nên các lãnh đạo CS có kiến thức rất nghèo nàn về thế giới ngoài các nước XHCN và Trung Cộng. Từ đó dẫn đến những nhận định sai lầm và những lựa chọn bất lợi cho đất nước. Điển hình là câu chuyện đằng sau việc thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ. Câu chuyện cho thấy giới lãnh đạo CS thiển cận và làng xã trong những nhận xét của họ về một đối thủ rất quan trọng.

Chúng ta thử đọc một đoạn "Cứu chủ nghĩa xã hội" để thấy ông Nguyễn Văn Linh có tầm nhìn và hành xử đầy kịch tính ra sao. Đọc cũng để thấy Gorbachev chẳng những mỉa mai mà còn khinh Nguyễn Văn Linh như thế nào:

Ông Nguyễn Văn Linh cho rằng Gorbachev là kẻ cơ hội nhất hành tinh:

Tháng 10-1989, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tới Berlin dự lễ kỷ niệm bốn mươi năm ngày thành lập Nước Cộng hòa Dân chủ Đức. Theo ông Lê Đăng Doanh: "Quyết địng đi dự 40 năm Quốc Khánh CHDC Đức là quyết định trực tiếp của cá nhân anh Linh. Anh Linh đã bàn với Bộ Chính trị về việc phải triệu tập một Hội nghị các Đảng Cộng Sản và Công nhân quốc tế để cứu phong trào cộng sản, chống chủ nghĩa cơ hội. Anh sang Berlin là để gặp các đồng chí để bàn về việc ấy và gặp Gorbachev. Trong một cuộc họp, anh Linh nhận xét: Gorbachev là kẻ cơ hội nhất hành tinh này".

Bị đối xử như thương gia tầm thường:

Ngày 4-10-1989, từ Hà Nội, hãng Interflug của Cộng hòa Dân chủ Đức dành cho ông Linh một ghế hạng thương gia, các thành viên cao cấp khác – Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh, Trợ lý Tổng Bí thư Lê Xuân Tùng, Phó Ban Đối ngoại Trịnh Ngọc Thái, Đại sứ Tạ Hữu Canh và thư ký Lê Đăng Doanh – chỉ ngồi khoang hành khách thường.

Bị xem thường:

Một lễ đón đơn giản được tổ chức tại sân bay Berlin-Schronefeld rồi sau đó đoàn về khách sạn. …. Trong suốt chuyến thăm chính thức ấy, phía CHDC Đức không thu xếp cho ông Linh một buổi gặp chính thức nào với Honecker hay một nhà lãnh đạo khác. Thế nhưng, điều đó đã không làm ông Nguyễn Văn Linh từ bỏ ý đồ đóng vai trò trung tâm cứu nguy chủ nghĩa xã hội.

Đến nơi ở của các nhà lãnh đạo khác mới thấy cách đối xử của Erich Honecker với ông Nguyễn Văn Linh. … Trong khi ông Linh chỉ được xếp một phòng đôi lớn hơn phòng các thành viên khác trong đoàn một chút thì chỗ ở của Ceausesscu là một khu vực gồm nhiều phòngÔng Linh và tùy tùng phải đi qua một sảnh lớn nơi có một đội cận vệ 12 người bồng tiểu liên AK báng gập đứng chào. Ceaucesscu đã để ông Linh phải ngồi chờ rất lâu. Ông Linh nói: "Mày liên hệ thế nào mà giờ không thấy nó". Tôi bảo: "Tính thằng này nó hình thức thế". Một lúc sau thì Ceausesscu ra, chính ông ta lại là người tỏ ra hăng hái ủng hộ sáng kiến của ông Nguyễn Văn Linh nhất. Ceausesscu thậm chí còn đòi để Rumani đăng cai. Tuy nhiên, cả Ceausesscu và các nhà lãnh đạo cộng sản khác đều nói với ông Linh: "Vấn đề là ông kia, nếu ông ấy không đồng ý thì rất khó". "Ông kia" đề cập ở đây là Gorbachev.

Dù ông Linh rất nhiệt tình cứu XHCN nhưng người ta làm ngơ:

Trong ngày 6-10-1989, giữa Berlin rét mướt, ông Nguyễn Văn Linh đã tìm gặp các nhà lãnh đạo cộng sản đến dự lễ quốc khánh để thảo luận về một sáng kiến mà ông đưa ra: triệu tập hội nghị các đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế. Ông Linh nói: "Phe ta đang diễn biến phức tạp. Hơn bao giờ hết, đòi hỏi quốc tế vô sản phải siết chặt hàng ngũ. Đảng Cộng sản Việt Nam thấy nên có một hội nghị để thống nhất tư tưởng và hành động, tăng cường tình đoàn kết".

Đa số các đảng cộng sản làm ngơ đề nghị của ông Linh, chỉ có Batmunkho Tổng Bí thư Mông Cổ, Phó Thủ Tướng Hernandez của Cuba, Tổng Bí thư Ceaucescu của Rumania, Tổng Bí thư Đảng vừa thất cử của Ba Lan Jaruzelski, Chủ tịch Đảng Cộng Sản Tây Đức (DKP) Herbert Mies là chấp nhận gặpChỉ có Helbert Mies, lãnh tụ của một đảng không cầm quyền và Phó thủ tướng Cuba Hernandez là tự tới nơi ông Linh ở. Theo ông Lê Đăng Doanh, những người khác chỉ tiếp ông Nguyễn Văn Linh tại phòng riêng của họ.

Sau nhiều cuộc trì hoản thì ông Linh cũng được Gorbachev cho một cuộc gặp mặt. Nhưng đó là một cuộc gặp mặt để Gorbachev khinh miệt ông Linh. Chúng ta hãy đọc tiếp: 

Từ 19 đến 21 giờ tối 6-10-1989, sau phần đọc diễn văn, cuộc mit-tin được chuyển từ trong một lâu đài ra một lễ đài ngoài trời duyệt quần chúng, thanh niên rước đuốc. Ông Lê Đăng Doanh kể: Đám thanh niên tuần hành sôi lên sùng sục kêu tên Gorbachev, "Gorby! Gorby!". Anh Linh chỉ mặc bộ complet, tối nhiệt độ xuống khoảng 8 C, cận vệ quên mang áo lạnh, ông Nguyễn Văn Linh đứng run bần bật, kêu tôi: "Tao lạnh quá". Tôi phải nói với một viên tướng Đức đứng cạnh đấy: "Tổng Bí thư của tôi quên mang áo ấm". Viên tướng cho mượn tạm tấm áo choàng của ông ta.

Sáng hôm sau, 7-10-1989, theo lịch trình, mười giờ sẽ có duyệt binh, nhưng tám giờ, ông Nguyễn Văn Linh triệu tập họp Chi bộ Đảng thông báo tình hình sức khỏe: "Mình thấy có gì đó không bình thường, không nhắm được mắt, miệng cứng, không ăn được". Về sau bác sỹ xác định đó là triệu chứng liệt dây thần kinh số 7. Mọi người đề nghị ông Linh không ra lễ đài, ông Nguyễn Khánh thay ông Linh dự duyệt binh rồi báo với "bạn". Phía CHDC Đức mời ông Linh ở lại khám chữa bệnh và khuyên ông không nên về trong lúc này. Tuy bệnh tình càng ngày càng nặng, nước mắt chảy ra nhiều, miệng có biểu hiện bị méo và nói bắt đầu khó khăn, ông Nguyễn Văn Linh vẫn hy vọng rất nhiều vào cuộc gặp với Gorbachev.

Cuộc gặp Gorbachev dự kiến diễn ra lúc 10:30 sáng 8-10-1989, nhưng chờ đến mười một giờ cũng không thấy văn phòng ông ta gọi lại. Ông Linh rất sốt ruột. Theo ông Lê Đăng Doanh: Trong khi đó, sáng ngủ dậy, bệnh ông Linh càng nặng thêm. Khi ăn cơm, ông kêu tôi ra ngoài vì không muốn tôi chứng kiến cảnh ông ăn rất chật vật. Hàm bên trái của ông Linh cứng lại. Ông phải nhai ở phía bên phải sau đó dùng hai ngón tay đẩy thức ăn vào họng, chiêu một ngụm nước mới nuốt được.

Cuộc gặp Gorbachev được lùi lại 2:30 rồi 5:30 chiều cùng ngày. Gorbachev, khi ấy vẫn là nhà lãnh đạo của cả phe xã hội chủ nghĩa, được bố trí ở trong một tòa lâu đài. Nhưng, cuộc tiếp tổng bí thư Việt Nam đã không diễn ra trong phòng khách riêng mà ở ngay một phòng rộng mênh mông vừa dùng cho một tiệc chiêu đãi lớn, thức ăn thừa còn bề bộn trên các bàn. Nhân viên dọn một góc, kê bàn để Gorbachev tiếp ông Nguyễn Văn Linh. Gorbachev ra đón ông Linh ở sảnh và khi cửa xe mở, ông cúi đầu nói: "Kẻ cơ hội nhất hành tinh kính chào đồng chí Nguyễn Văn Linh".

Dù đang bệnh, ông Nguyễn Văn Linh vẫn trình bày rất nhiệt tình, nhưng theo ông Lê Đăng Doanh: Sáng kiến nào của ông Linh cũng được Gorbachev khen là "rất tốt" nhưng chỉ là những lời khen xã giao. Ông Linh nói: "Tôi đã gặp một số đảng cộng sản anh em. Trong tình hình này, Đảng Cộng sản Việt Nam muốn đồng chí đứng ra triệu tập hội nghị các đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế". Gorbachev liền giơ hai tay lên tươi cười: "Ý này hay nhỉ. Để xem! Để xem! Rất tiếc là giờ tôi đang nhiều việc quá!". Ông Linh trân trọng mời Gorbachev đến thăm Việt Nam. Gorbachev lại kêu lên: "Hay quá nhỉ! Cám ơn! Cám ơn! Nhưng, tôi đang có nhiều lời mời quá mà chưa biết thu xếp cái nào trước".

Cuối cùng, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đề cập đến truyền thống viện trợ của Liên xô và khi ông đề nghị Liên Xô tiếp tục giúp đỡ cho Kế Hoạch 5 năm 1990-1995 của Việt Nam thì Gorbachev xua tay. Không còn xã giao, lịch sự như phần trên nữa, Gorbachev nói: "Khó khăn lắm, khó khăn lắm, các đồng chí Việt Nam tự lo thôi". Theo ông Lê Đăng Doanh: Thế nhưng, ngày hôm sau, báo Nhân Dân và Pravda đều đưa tin về cuộc gặp diễn ra trong "tình hữu nghị thắm thiết".

Đọc những đoạn trích dẫn rất sống động này tôi phải nói là rất nhục. Là lãnh tụ một đất nước 90 triệu dân mà không nắm được tình hình thế giới để bị các lãnh đạo của chính thế giới XHCN xem thường như thế. Ông Nguyễn Mạnh Cầm có lẽ là người ngoại giao nên còn biết được tình hình thế giới. Ông đưa ra nhận xét rằng "Nhận thức của một số đồng chí trong Bộ chính trị lúc bấy giờ không theo kịp những thay đổi của tình hình thế giới". Không theo kịp tình hình thế giới có nghĩa là sống trong cái ao làng. Chẳng biết ông Linh có hiểu những câu nói của Gorbachev hay không. Thật là nhục nhã. Tất cả cũng vì cái dốt.

Cái dốt của lãnh đạo CS còn thể hiện qua lần tiếp kiến giữa ông Lê Khả Phiêu và Bill Clinton. Trong buổi tiếp kiến, trong khi Bill Clinton nói về tương lai hợp tác, ông Lê Khả Phiêu lại tận dụng chuyện Bill Clinton "trốn lính" làm cho ông Bill Clinton rất giận và chắc chắc cũng rất khinh thường người đối diện mình:

"Bill Clinton nhớ lại: "Lê Khả Phiêu cố gắng sử dụng hành động phản đối chiến tranh Việt Nam của tôi để cáo buộc những gì Mỹ đã làm là hành vi đế quốc. Tôi đã rất giận dữ nhất là khi ông ta nói vậy trước sự có mặt của Đại sứ Pete Peterson, một người đã từng là tù binh chiến tranh. Tôi nói với nhà lãnh đạo Việt Nam rằng khi tôi không tán thành các chính sách đối với Việt Nam, những người theo đuổi nó cũng không phải là đế quốc hay thực dân, mà là những người tốt chiến đấu chống cộng sản. Tôi chỉ Pete và nói, ông đại sứ không ngồi sáu năm rưỡi trong nhà tù 'Hà Nội Hilton' vì muốn thực dân hóa Việt Nam".

"Ông Phan Văn Khải nhớ lại: "Ông Phiêu nói như thời chiến tranh làm cho họ rất khó chịu. Ông ấy muốn tỏ rõ thái độ của một chính quyền cộng sản. Nhưng, ông Phiêu không hiểu tình hình thế giới giờ đây đã khác. Phe xã hội chủ nghĩa đã tan rã. Vấn đề là mối quan hệ giữa hai quốc gia, chúng ta cần Mỹ. Nếu người Mỹ không vào thì những công ty lớn trên thế giới không có ai vào cả". …

Clinton nhận xét, dường như những người mà ông gặp ở Việt Nam, chức vụ càng cao hơn thì ngôn ngữ càng "sặc mùi" cộng sản theo kiểu cũ hơn".

Sự dốt nát chính là một nguyên nhân chính dẫn đến những cuộc bỏ lỡ cơ hội để phát triển đất nước.  Câu chuyện xung quanh ký hiệp định thương mại song phương BTA cho thấy giới lãnh đạo thượng tầng CS rất sợ Trung Cộng. Ông Nguyễn Mạnh Cầm nói "Tôi tiếc đứt ruột. Năm 1999, Bill Clinton muốn ký trước mặt các nhà lãnh đạo đủ cả phương Tây lẫn phương Đông. Khi ấy các tập đoàn sản xuất hàng xuất khẩu sang Mỹ chỉ chờ có hiệp định là nhảy vào Việt Nam. Mình quyết định không ký, mất biết bao nhiêu cơ hội". Không chỉ BTA, ngay cả những chần chừ để trở thành thành viên của ASEAN cũng phản ảnh sự kém hiểu biết của những người lãnh đạo CS chóp bu.

Sự dốt nát và kém hiểu biết của người CS không phải chỉ biểu hiện trong giới lãnh đạo mà còn ở những người trong giới học thuật và chuyên môn. Sau 1975 tôi đã có nhiều "tiếp cận" với những đồng nghiệp y khoa từ Bắc vào. Tôi có thể nói một cách không ngần ngại rằng trình độ của họ quá kém. Có lần một anh bác sĩ nghe nói là cấp cao ngoài đó mà viết tên thuốc trụ sinh còn sai. Không phải sai một lần mà nhiều lần. Chỉ nhìn nét chữ cũng có thể biết được anh chàng này thuộc thành phần bác sĩ gì. Ngay cả những người được "chi viện" để tiếp thu trường y Sài Gòn cũng là những người rất kém cỏi về kiến thức và kỹ năng lâm sàng. Họ bị các thầy trong Nam khinh ra mặt. Do đó tôi không hề ngạc nhiên khi đọc những dòng chữ viết về phản ứng của giới trí thức trong Nam trước những chính sách quái đản được áp dụng sau 1975. Họ vận hành theo tư duy rặt mùi cộng sản. Cứ đến ngày kỷ niệm nào đó họ hỏi có thành tích khoa học gì để chào mừng và nhận được câu trả lời của thầy Phạm Biểu Tâm: "Không có thứ khoa học nào gọi là khoa học chào mừng cả". Sau này trong một lần họp bàn về cách giải quyết hệ thống nước bị đục, giáo sư Phạm Biểu Tâm không phát biểu gì cả. Đến khi bị ông Võ Văn Kiệt gặn hỏi, giáo sư Tâm vốn rất quý ông Kiệt, chỉ nói đơn giản "Từ ngày mấy anh về, cái đầu trí thức khoẻ, vì cái gì cũng đã có các anh nghĩ hết. Nước là chuyện mấy anh đâu phải chuyện tụi tui". Đối với giới trí thức miền Nam ngày ra mắt đầu tiên của chính quyền không hề thuyết phục được họ. Cho đến bây giờ tình hình vẫn thế.

Bên thắng cuộc đã trở thành một tác phẩm bán chạy. Nếu được công bố ở trong nước tôi nghĩ chắc chắn bộ sách sẽ qua mặt bất cứ cuốn sách nào đang có trên thị trường. Đọc xong bộ sách tôi hiểu được tại sao nó nổi tiếng. Theo tôi, Bên thắng cuộc được nhiều người quan tâm vì trong đó có rất nhiều những câu chuyện hậu trường chính trị. Đặc biệt hơn là tất cả những câu chuyện hậu trường đều nói lên những hình ảnh tiêu cực của giới lãnh đạo CSVN. Khó tìm một câu chuyện nào mang tính tích cực trong sách. Trong đó có những con người ít học nhưng ngạo mạn. Đó là những con người đạo đức giả. Đó là những con người sẵn sàng chấp nhận đớn hèn để sống trong môi trường tàn ác. Đó là những con người tàn nhẫn và xảo trá. Những cá tính lãnh đạo như thế là tác giả của những quyết sách đi từ sai lầm này đến sai lầm khác. Họ dẫn đất nước bỏ mất cơ hội hết năm này sang năm khác. Những câu chuyện như thế giúp cho chúng ta nhìn thấy rõ hơn cái tâm kém và cái trí thấp của một số đông lãnh đạo chóp bu và giải thích tại sao đất nước và dân tộc chúng ta đã quá bất hạnh trong suốt 70 năm qua. Họ là nguyên nhân gần và tác nhân trực tiếp đã đưa đất nước nghèo hèn như hiện nay.  Họ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử.

Lê Mai : “Quyền Bính” – vấn đề muôn thuở trong lịch sử Việt Nam hiện đại

Nguồn lemaiblog

Thăng yên hạ mã bách thiên nan

Quốc thế như kim thực vị an

Nùng mạt, đạm trang, nhân tính cựu

Nguyên nhung bát thập bất tri nhàn

(Lên yên xuống ngựa khó muôn vàn

Thế nước hôm nay thực chửa an

Đậm, nhạt, mau, thưa người nếp cũ

Tám mươi lão tướng chẳng mong nhàn)

Tôi mở đầu vài cảm nghĩ về cuốn sách "Quyền Bính" (Tập 2 – Bên Thắng Cuộc, Huy Đức) bằng bài thơ của Tào Mạt: "Gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp đi bộ ứng khẩu làm ngay". Năm 1991 ấy, tướng Giáp tròn 80 tuổi. Sau Đại hội VII ĐCSVN, ông Võ Nguyên Giáp – một đại công thần của chế độ, chính thức rời khỏi chính trường. Rồi những cuốn hồi ký nổi tiếng, rất có giá trị sử học của ông liên tiếp ra đời: Chiến đấu trong vòng vây, Đường tới Điện Biên Phủ, Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử, Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng…Nhưng, trong những cuốn hồi ký ấy, ông chỉ nói rất ít về bản thân mình.

Thì đây, "Quyền Bính" có một chương riêng về tướng Giáp. Tác giả đã cho chúng ta biết một câu nói rợn người đầy kinh hãi của Lê Đức Thọ qua lời kể của Giáo sư Hồ Ngọc Đại, con rể Lê Duẩn: "Có lần ông Thọ nói ông còn để cái đầu ông Giáp trên cổ là đã may lắm". Than ôi! Một ông Đại tướng Tổng tư lệnh, người Anh Cả đầu tiên và duy nhất của quân đội, đã làm nên biết bao công tích, được thế giới ca ngợi, đã phạm "tội" gì mà Lê Đức Thọ dám đưa ra một lời kết án tai ác đến cỡ đó?

Trong Quân ủy Trung ương, ông Thọ chỉ là Phó Bí thư, cấp dưới của ông Giáp. Ông ta dĩ nhiên không phải là nhà quân sự chuyên nghiệp. Chiến lược, chiến thuật quân sự, điều quân đánh đông dẹp bắc là nhờ tài năng của các tướng lĩnh. Thế mà trong chiến dịch Quảng Trị (không chỉ chiến dịch Quảng Trị), "Lê Đức Thọ không hiểu bằng con đường nào, thường xuyên điện thẳng cho các sư đoàn không qua điện đài của Bộ Tổng Tham mưu, vừa để nắm tình hình vừa tự ý đôn đốc đánh. Kỳ quặc!".

Lê Đức Thọ thường gọi ông Trần Bạch Đằng, một người cộng sản cấp tiến cực kỳ tài hoa, tiếng tăm lẫy lừng là "thằng trời đánh" – điều cay đắng là ông Đằng không bao giờ được vào Trung ương, dù có ông Lê Duẩn đỡ đầu. Chính Giáo sư Hồ Ngọc Đại cũng đã một phen hoảng hốt sau khi bố vợ mất, ông hỏi Đoàn Duy Thành, "Ba cháu mất rồi, liệu họ… có giết gia đình nhà cháu không?" (Làm người là khó – Đoàn Duy Thành). Quả thật, quyền bính – vấn đề muôn thuở trong lịch sử VN hiện đại.

Người làm chính trị, nắm quyền bính, điều quan trọng nhất là để lại tiếng thơm trong sử sách. Tôi xin lưu ý, một Giáo sư người Mỹ sau khi nghiên cứu về Mao Trạch Đông đã kết luận, cuộc đời ông ta làm được 31 việc nhưng có tới 20 việc liên quan đến việc hủy hoại tinh thần và đạo đức con người!

Quan sát sự vận hành quyền bính tại VN cho thấy, dường như không ít nhà lãnh đạo cao cấp ghen tỵ với tài năng và vinh quang của tướng Giáp, họ muốn hạ bệ uy tín cực lớn của ông trong đảng và dân chúng. Đến như ông Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, thay vì bác bỏ bản báo cáo sai sự thật của Nguyễn Đức Tâm về vụ Sáu Sứ, ông lại chỉ đạo điều tra hai ông Võ Nguyên Giáp và Trần Văn Trà; thay vì minh oan cho ông Giáp và ông Trà sau khi biết kết quả điều tra, ông và Bộ Chính trị lại im lặng "đáng sợ".

Có nhà nghiên cứu cho rằng, ông Võ Nguyên Giáp là điển hình của một tài năng không được phát huy hết trong một xã hội mà sự vận hành quyền lực tập trung vào tay một số người, lại thiếu công cụ để khống chế, kiểm soát quyền lực ấy. Quyền lực tuyệt đối sẽ dẫn đến tham nhũng tuyệt đối và quyền lực tuyệt đối cũng sẽ dẫn đến tha hóa tuyệt đối.

Đúng như tác giả Huy Đức nhận xét, ông "mưu lược và quyết liệt không chỉ trong những cuộc chiến quy ước như Điện Biên Phủ, năm 1946, khi Hồ Chí Minh đi Pháp nhân Hội nghị Fontainebleau, ở Hà Nội, Tướng Giáp đã cùng với Trường Chinh thanh trừng đối lập gần như triệt để. Nhưng trước những đối thủ chính trị nhân danh Đảng, Tướng Giáp trở nên cam chịu và thụ động. Có lẽ lòng trung thành với tổ chức và ý thức tuân thủ kỷ luật đã rút đi thanh gươm trận của ông".

Thêm một điểm cần lưu ý, đó là ông Võ Nguyên Giáp đã xử lý mẫu thuẫn "địch – ta" khác hẳn việc xử lý mẫu thuẫn trong nội bộ nhân dân. Xử lý mẫu thuẫn "địch – ta" là xử lý mâu thuẫn đối kháng, một mất một còn – chiến tranh là như thế. Song, xử lý mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân thì phải khác. Ông Trần Bạch Đằng từng nói: "Đành rằng làm chính trị là phải thủ đoạn. Nhưng làm chính trị thì cũng phải có tình nghĩa, bạn bè chứ". Chỉ có điều, đối thủ chính trị của các ông không nghĩ và làm như vậy.

Quyền bính (quyền hành) và quyền lực đều có điểm chung là quyền định đoạt mọi công việc và sức mạnh để đảm bảo thực hiện quyền ấy. Quyền lực đồng nghĩa với sức mạnh và như vậy, kẻ mạnh nắm quyền lực sẽ thống trị và chi phối kẻ yếu. "Quyền Bính" đã làm nổi bật tư duy và quyền lực của nhiều nhà lãnh đạo cao cấp VN, của tập thể, của cả chế độ, trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, con người và tư tưởng; sự vận hành và chi phối của quyền lực, kết quả của việc thực thi quyền lực. Có thể nói, "Quyền Bính" đã cho chúng ta thấy sự vận hành quyền lực ảnh hưởng như thế nào đến tương lai đất nước và dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử VN hiện đại.

Anh Doan Tran, một người bạn thân của tôi ở Hoa Kỳ, rất am hiểu văn hóa và lịch sử VN – người đã gửi tặng tôi ấn bản điện tử "Quyền Bính" ngay sau khi phát hành, bằng một sự liên tưởng và tinh tế hiếm có, nhận xét: "Hãy lưu ý hình bìa cuốn sách với chiếc xe hơi Lada, dây điện, đèn tín hiệu giao thông rồi đọc chi tiết này trong cuốn sách để thấy sự thú vị:

"Khi nhậm chức, Nguyễn Văn Linh vẫn sử dụng một chiếc xe hơi hiệu Lada của Liên Xô đã cũ thay vì tiêu chuẩn của Tổng bí thư phải là "Volga đen" hoặc Toyota. Theo ông Bùi Văn Giao, trợ lý của Nguyễn Văn Linh: "Ông không biết rằng, để Lada có thể chở Tổng bí thư, Văn phòng phải gắn thêm máy lạnh. Vì tải thêm máy lạnh mà tuổi thọ của những chiếc Lada này bị giảm đi rất nhanh, cứ sau một hai năm là phá luôn giàn máy. Một lần ông Linh đi công tác về tỉnh, chiếc máy lạnh tự chế phát nổ. May mà khi đó, ông Linh đang ngồi trong phòng họp còn chiếc xe thì đậu ngoài sân".

Phải chăng, đưa "cái lạnh" của tư bản vào "cái nóng" của xã hội chủ nghĩa, nó sẽ "trung hòa" và "bộ máy" sẽ vận hành tốt hơn? Không phải! Trên thực tế, làm như vậy "bộ máy" bị hỏng nhanh hơn và tệ hơn nữa – nó phát "nổ" rất nguy hiểm. Không thể "lắp ghép" một cách tùy tiện, bởi nó không thể tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh, dù gắn cho nó cái "đầu" hay cái "đuôi" gì đi nữa ("đuôi" định hướng XHCN chăng – một gợi ý!). Tri thức nhân loại đã kết tinh hàng ngàn năm, sao người ta không tiến cùng văn minh thời đại, mà lại "sáng tạo" ra con đường đi mới chưa có tiền lệ trong lịch sử và than ôi, sự "sáng tạo" đó đã cho kết quả nhãn tiền rồi!

Cũng như "Giải Phóng", "Quyền Bính" – dù khách quan đến đâu, chúng ta vẫn nhận thấy tác giả tiếp tục dành cho ông Võ Văn Kiệt nhiều thiện cảm. Anh Doan Tran cho rằng tác giả dường như "thần tượng hóa" ông Kiệt – tôi nghĩ nhận xét đó hơi quá. Dù sao, cách sử dụng quyền lực và việc nắm quyền bính của ông Kiệt được nhiều người ủng hộ, dù ông Tố Hữu bóng gió: "Sáu Dân muốn làm vua Saigon".

Ông Võ Văn Kiệt có cách giải quyết mâu thuẫn về chính trị khá hay. Đã một lần ông nói với người lãnh đạo văn nghệ: "Ở Sài Gòn nếu đòi hỏi người xứng đáng theo tiêu chuẩn chính trị để đóng Hai Bà Trưng thì chỉ có Bà Định; đóng Lênin thì chỉ có Bác Tôn thôi. Các anh cứ mời các vị ấy đóng xem thử có ai đi coi không?". Lại một lần khác, khi họp Bộ Chính trị để thông qua việc chọn BHP làm đối tác thăm dò dầu ở mỏ Đại Hùng, Nguyễn Hà Phan phản đối: "Đồng bào miền Nam chắc chắn không một ai đồng tình chọn Úc làm đối tác khai thác dầu khí vì bọn Úc đã từng đưa quân vào tàn sát đồng bào ta". Ông Võ Văn Kiệt liền đứng dậy: "Nếu nói như Sáu Phan thì tôi đề nghị Bộ Chính trị nên chọn Lào đầu tư. Mỹ là kẻ thù mới đánh ta; Pháp đô hộ 80 năm; Nhật khiến cho 2 triệu người chết đói; Úc, Hàn theo Mỹ mang quân sang… Không có nước nào có công nghệ tốt lại không có dính líu vào một 'tội ác' nào đó".

Đọc "Quyền Bính" và "Giải Phóng", chúng ta nhận thấy có một điểm nổi bật nữa là tính tự trọng của nhiều nhà lãnh đạo cao cấp thời ấy. Họ dám làm và dám chịu trách nhiệm. Các ông Trường Chinh từ chức Tổng bí thư, Lê Văn Lương ra khỏi Bộ Chính trị, Hồ Viết Thắng bị kỷ luật do sai lầm của cải cách ruộng đất. Ông Linh cũng đã phải một lần ra khỏi Bộ Chính trị. Ông Kiệt xé rào, đổi mới. Ông Trần Phương quyết định từ chức sau vụ "giá – lương – tiền" cho dù ông không phải là người chịu trách nhiệm chính. Ông Lê Duẩn thấy rằng, sau vụ "giá – lương – tiền", Tố Hữu không còn khả năng làm Tổng bí thư, dù đã được chọn vào hàng ngũ kế cận. Và thực tế, tại Đại hội VI, Tố Hữu thậm chí không được bầu vào Trung ương.

Phải thừa nhận, thời ấy đa số các nhà lãnh đạo cao cấp không được đào tạo bài bản, song họ rất có trình độ, chỉ bằng tự học. Còn gần đây và hiện nay thì sao? Không ít người gần như "mất trí" vì ham mê quyền bính: dấu bệnh để mong làm Chủ tịch nước, dấu bệnh để làm Thường trực Ban bí thư, sợ ra khỏi Bộ Chính trị thì chết không nhắm được mắt…Rồi một Tổng bí thư hai nhiệm kỳ mà Phó Ban Tổ chức Trung ương nhận xét trình độ chỉ tầm cỡ cán bộ cấp huyện, một Thủ tướng mà chỉ mới nghe tên thôi, người dân đã lắc đầu ngán ngẩm. Liệu đất nước có thể phát triển sánh vai với thế giới nếu vấn đề quyền bính được vận hành như thế?

Rốt cuộc, ai là người có quyền lực nhất? Nhà tương lai học người Mỹ, Alvin Toffler, trong tác phẩm Thăng trầm quyền lực, đã phân tích rất sâu sắc về quyền lực. Bạo lực, của cải và tri thức là ba đỉnh của một tam giác quyền lực. Bạo lực chủ yếu dùng để trừng phạt, làm người ta khiếp sợ nhưng là nguồn quyền lực ít linh hoạt nhất. Đọc Bên Thắng Cuộc ("Giải Phóng" và "Quyền Bính"), chúng ta đã rõ nhân vật nào, thời nào ưa sử dụng nguồn quyền lực bạo lực nhất.

Của cải được dùng vừa trừng phạt lại vừa ban thưởng và có thể được chuyển thành nhiều nguồn khác, là một công cụ quyền lực rất uyển chuyển. Đọc Bên Thắng Cuộc cũng như quan sát tình hình hiện nay, chúng ta đã rõ nhân vật nào, thời nào ưa sử dụng và sử dụng hết sức "thành công" nguồn quyền lực của cải nhất.

Tuy vậy, tri thức mới là nguồn quyền lực cơ bản và linh hoạt nhất, vì một người có tri thức có thể tránh được những thử thách đòi hỏi sử dụng bạo lực hay của cải và có thể thuyết phục được những người khác để hoàn tất những ý định mình mong ước. Tri thức tạo ra quyền lực có phẩm chất cao nhất. Đọc Bên Thắng Cuộc, chúng ta đã rõ nhân vật nào thường sử dụng nguồn quyền lực tri thức nhất. Nếu nhân vật ấy sử dụng nguồn quyền lực bạo lực, chắc chắn lịch sử VN hiện đại đã khác rồi.

Và một khi quyền lực được tạo ra từ quyền mưu hay từ những yếu tố khác thay vì tri thức thì quyền lực đó không thể bền vững, khiến cho những người nắm quyền lực kiểu đó trở nên đáng sợ – ngay cả với bạn bè, đồng chí, người thân của họ. Lịch sử hiện đại VN không thiếu thí dụ minh họa điều này.

"Quyền Bính" – vấn đề muôn thuở trong lịch sử VN hiện đại. Một xã hội chỉ có thể phát triển tốt khi "quyền bính" được cân bằng, không bị lũng đoạn hoặc tập trung vào trong tay một số người – cũng tức là phải tạo ra một tam giác đều quyền lực trong đó ba đỉnh của nó chính là bạo lực, của cải và tri thức.

Để kết thúc, tôi xin nhìn đôi nét tổng quát về Bên Thắng Cuộc. Điểm mạnh của "Quyền Bính" cũng như "Giải Phóng" là nhiều tư liệu, vừa trực tiếp, vừa gián tiếp, được thể hiện bởi một nhà báo lão luyện – công trình mang phong cách báo chí. Tuy nhiên, tác giả Bên Thắng Cuộc tái hiện một giai đoạn lịch sử VN hiện đại nhưng tư liệu gốc chiếm tỷ trọng không nhiều lắm, chỉ có một số bức điện, một số báo cáo, một số biên bản, một số nghị quyết, còn chủ yếu sử dụng các hồi ký và phỏng vấn nhân chứng. Đối với những người am hiểu, còn rất nhiều sự kiện lịch sử VN cực kỳ quan trọng, song có thể vì lẽ này, lẽ khác chưa được tác giả đề cập. Vì vậy, tính đầy đủ và chính xác của nó chắc rằng còn phải thảo luận nhiều. Các Phụ lục cuối mỗi tập sách không có gì đặc biệt, chưa tương xứng với nội dung phong phú và những vấn đề rất lớn mà bộ sách đặt ra. Và, tác giả chỉ nêu các sự kiện lịch sử nhưng không phân tích, không bình luận làm cho bộ sách thiếu hẳn tính "hàn lâm" – đó không hẳn là một phương pháp tốt nhất?

Dẫu sao, Bên Thắng Cuộc thực sự là một công trình rất đáng đọc, rất đáng tìm hiểu, rất đáng suy ngẫm, với tất cả ý nghĩa đầy đủ của nó. Đọc Bên Thắng Cuộc, chúng ta càng hiểu thêm nhận xét "có một lịch sử như nó diễn ra và một lịch sử như nhà sử học viết ra". Thử hỏi, đến nay, đã có công trình nào phản ánh đầy đủ, trung thực và hấp dẫn lịch sử VN hiện đại do các nhà sử học VN "nổi tiếng" thể hiện? Cho nên, chúng ta không đòi hỏi tác giả Bên Thắng Cuộc, song chúng ta có quyền hy vọng…

Dr. Nikonian : Người họa hình đất nước (tiễn biệt Ns. Phạm Duy)

Nguồn drnikonian

binhtrithienChỉ dưới góc độ âm nhạc, cuộc di dân của hơn 1 triệu đồng bào người Bắc vào Nam năm 1954 quả là vĩ đại và đầy cứu rỗi. Nhất là khi thương xót nhìn lại sự khốn cùng của những cây đại thụ như Văn Cao, Hữu Loan, Hoàng Cầm, Lê Đạt,…

Trong bối cảnh khắc nghiệt và lạnh lẽo thời ấy, những đấng bậc tài hoa đó đã chẳng thể nào phát tiết được tinh anh như đồng bạn may mắn của họ đã vào được miền Nam nắng ấm. Ít nhất, cuộc di dân năm 1954 đã mang lại đường sống và sáng tạo cho rất nhiều bậc kỳ tài miền Bắc, trong đó có Phạm Duy, người vừa tạ thế hôm nay.

Khác với loại âm nhạc khiên cưỡng, đến với người nghe bằng áp đặt hay tuyên truyền, tình yêu đối với âm nhạc của Phạm Duy là tự nguyện, nhưng không và bất cần mọi lý luận cao xa nào về nhạc thuật. Như với tôi, một chú nhỏ hồi đó đã hát say sưa "Việt Nam kêu gọi thương nhau, Việt Nam đi xây đắp tương lai dài lâu" trong những buổi sinh hoạt Hướng Đạo, trong những ngày đi cứu trợ nạn nhân chiến cuộc, hay trong những buổi "Cây mùa xuân chiến sĩ" ở các tổng y viện… Hành khúc đẹp đẽ và bi tráng ấy, không có máu lệ của chiến tranh, không có chỗ cho lòng căm thù hay cổ súy nồi da xáo thịt. Và nghe đâu, đã có dự tính chọn quốc ca của Việt Nam Cộng Hòa thay cho "Tiếng gọi thanh niên" của Lưu Hữu Phước.

Lựa chọn ấy, 10.000 năm sau vẫn đúng, tôi tin là thế!

Âm nhạc ấy, cũng đến với tuổi thơ của tôi một cách nhẹ nhõm, không cần ai giải thích, lý luận, tuyên truyền. Âm nhạc của Phạm Duy, cũng sống cái đời sống của gia đình tôi hồi đó.. Khi cha mẹ tôi thỉnh thoảng lại ngân nga: "quê hương tôi, có con sông đào xinh xắn, nước tuôn trên đồng vuông vắn…" Ca khúc này, hình như là nhạc hiệu của chương trình "Người cày có ruộng" trên radio thời đó. Cũng như "Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời", đã từng là nhạc hiệu của Đài Phát thanh Sài gòn, thủ đô Việt Nam Cộng Hòa lúc ấy.

Ký ức tôi, đã thấm đẫm những giai điệu thiết tha đó từ chiếc radio cũ kỹ của gia đình. Âm nhạc ấy, đã là một phần đời sống của gia đình tôi, cũng như với rất nhiều gia đình miền Nam khác. Từ âm nhạc ấy, từ những lời ru của mẹ tôi "từ lúc nằm nôi", tôi biết yêu nước Việt  bằng trái tim con trẻ, và phi bè phái.

Bao nhiêu năm bị cấm đoán, phải chui rúc trùm mền áp tai vào radio để nghe lén mỗi đêm, âm nhạc ấy không chết. Ít nhất, nó vẫn còn sống mãi trong tôi trong một chiều dừng chân ở Đoan Hùng, Phú Thọ. Tôi đã đi, đã đến vùng trung du ấy, và đã nghe lại "Nương chiều" của ông:

"Chiều ơi, chiều về rợp bóng nương khoai

Trâu bò về dục mõ xa xôi

Chiều ơi Chiều ơi

Áo chàm về quảy lúa trên vai

In hình vào sương núi chơi vơi,

ơi chiều"…

Và đã chảy nước mắt vì thương xót quê hương nghèo khó của mình vô hạn!

Chỉ phút chốc thôi, mà cả ký ức tuổi thơ hiện về…

Với rất nhiều người Sài Gòn, âm nhạc Phạm Duy là nỗi nostalgia hay hoài niệm về một quá khứ rất đẹp đã mất. Có kẻ đang yêu nào thời ấy mà đã không từng một lần lẩm bẩm một ca khúc thời danh về một "con đường Duy Tân, cây dài bóng mát", thương nhớ quay quắt những "chủ nhật uyên ương, hẹn hò đây đó; Uống ly chanh đường, uống môi em ngọt"

Nhiều lắm những tình ca của Phạm Duy, viết trong bối cảnh của Sài Gòn hoa mộng thuở ấy, đã nằm sâu trong ký ức máu thịt của rất nhiều người Sài Gòn, trong đó có tôi.

Tưởng rằng đã quên, nhưng khi tóc đã hoa râm, kẻ chơi piano tài tử rất đỗi vụng về, khi ngồi lên đàn khẽ bấm những giai điệu ấy mới thấy hết sự trác tuyệt của nó. Nó là hòa âm cực kỳ sang trọng, tiết tấu tao nhã và đầy chất hàn lâm của âm nhạc cổ điển. Nhưng nó là Việt nam, là sự sáng tạo vô đối các điệu thức ngũ cung hay các giai điệu đong đưa của đồng bào Tây nguyên. Người ta có thể không thấy, không hiểu điều đó khi ê a "phố núi cao, phố núi đầy sương, phố núi không xa, trời thấp thật gần…", vì nó đã tự nhiên, khẽ khàng như  tình ca của mọi thời đại. Nhưng khi "thấy" nó một cách hình học trên bàn phím piano, biến tấu đầy sáng tạo từ các điệu thức dân gian đó mới hiện rõ, long lanh hết vẻ đẹp vô song của nó…

Người Kinh, hay người Thượng, đã yêu mến và nhìn nhận những giai điệu ấy. Vì ai cũng thấy mình trong đó!

Âm nhạc của Phạm Duy đã và đang là một phần nuôi dưỡng hơi thở Việt, tâm hồn Việt.

Thật bất lực khi viết về một di sản âm nhạc lớn lao kinh khủng như vậy. Tôi đồ rằng, âm nhạc đó, xứng đáng với một khoa học mới, khoa Phạm Duy học. Khoa học này, là một mỏ vàng cho vô số luận án tiến sĩ âm nhạc để nghiên cứu về ca từ, nhạc thuật, hòa âm…

Âm nhạc ấy đã sống mãi với người nghe của nó mà không cần bất cứ thứ license thô thiển nào. Thật lạ lùng khi thấy những kẻ hậu sinh bất tài, lâu lâu lại quăng ra dăm quyết định cho phép ca khúc này, ca khúc nọ của Phạm Duy. Như thể không có giấy phép ấy, thì kẻ hậu sinh là tôi không thể, không được phép yêu mến âm nhạc ấy. Như thể nếu không được phép, thì âm nhạc ấy không hay, không đưa được dân tộc tính trong âm nhạc đến hai thái cực là tính đại chúng và tầm nhân loại.

Âm nhạc nào dung hòa được hai điều tưởng như xa nhưng rất gần gũi ấy, âm nhạc ấy xứng đáng được gọi là một mặc khải vĩ đại (mượn từ của Beethoven). Vì âm nhạc ấy mang khuôn mặt Con Người, bất kể không gian, thời gian, nơi chốn. Như "The rain on the leaf" (Giọt mưa trên lá) đã từng vang lên bằng Anh ngữ trong campus Đại học Mỹ. Như "Việt Nam, Việt Nam" đã bật ra từ lồng ngực của những người Sài Gòn trong những ngày biểu tình chống Trung Quốc.

Âm nhạc đẹp đẽ, đích thực đó thì không cần được tung hô bởi các "nghệ sĩ nhân dân", "nghệ sĩ ưu tú", hay có "giấy phép" từ các bậc nhạc phiệt.

Nhưng dẫu sao, "giấy phép" cũng cần! Nó là cơ hội để những kẻ bất tài đầy mặc cảm chứng tỏ sự bao dung và thái độ bề trên của mình, như cách ông "Nghệ sĩ nhân dân" Trọng Bằng mắng mỏ:

"Bàn đến Phạm Duy những người chân chính ở Việt Nam đã biết cả rồi, biết Phạm Duy như thế nào trong quá khứ, Phạm Duy có cái gì tốt, cái gì chưa tốt, bản chất của Phạm Duy và giá trị thật âm nhạc của anh người nghe đều hiểu cả. Sự trở về của Phạm Duy là sự ưu ái của Đảng và Nhà nước, sự rộng lượng của nhân dân ta, nên đừng đặt mình ở vị trí cao, cứ nên im lặng mà làm việc thôi. Có những tác phẩm anh sáng tác đầu kháng chiển rất tốt, bây giờ Cục biểu diễn người ta khuyến khích cho phép anh trở về biểu diễn, thì cứ thế mà cống hiến thôi. Dư luận chúng ta hơi dễ dãi và nhẹ dạ. Nhưng vấn đề là Phạm Duy phải tỉnh táo. Vì ông hoàn toàn hiểu ông là ai, quá khứ đối với dân tộc của Phạm Duy là một tội lỗi. Ông không thể so sánh ông với bất cứ một nhạc sỹ nào đã tham gia cách mạng, vì thế ông không thể nào so sánh với nhạc sỹ Văn Cao. Không thể ví được. Văn Cao là một con người có trình độ, là một nhà nghiên cứu dân tộc, ông Văn Cao là một người toàn diện, và ông Văn Cao còn biết tôn trọng những người nhạc sỹ đàn em đi vào con đường âm nhạc bác học, một người rất khiêm nhường biết mình, biết ta. Giả sử có một nhạc sỹ X, Y, Z nào đó hỏi: Khi chúng tôi đi đánh Mỹ giải phóng dân tộc thì ông làm gì? Chắc chắn rằng nếu là người hiểu biết đều hiểu rõ khi đó ông là tác giả của các bài hát chống lại cách mạng, chống lại nhân dân, chống lại công cuộc giải phóng dân tộc…".

Mà thôi, hôm nay Con Người ra đi, âm nhạc thì ở lại!

Hậu thế sẽ gọi Phạm Duy, người vừa nằm xuống hôm nay, là ai?

Tác giả của những ca khúc đầy tình tự quê hương

Người đưa ngũ cung và dân nhạc vào tình ca.

Kẻ đã viết những dòng nhạt nhẽo, tục tằn… bậc nhất thiên hạ.

Người có đời sống phóng túng, cũng vào bậc nhất thiên hạ.

….

Tôi gọi Ông là: Người-Họa-Hình-Đất-Nước!

Vì lòng thương yêu đất nước trong tôi, phần nhiều đã được nuôi dưỡng từ những bức tranh thủy mặc bằng âm nhạc ấy!


______________

Sài Gòn, rạng sáng ngày 28.1.2013

Chủ Nhật, 27 tháng 1, 2013

THƯ DZÃN : DINH-LẮC XIN-VẮT, CHỊ LÀ AI? (đương kim TT Thái Yingluck Shinawatra)

Nguồn ygiao
Người bạn nghịch ngợm thời niên thiếu của mình hôm qua bảo: Mày về tra Google xem Dinh-lắc Xin-vắt cho ra những kết quả nào nhé.
Mình về gõ y chang như thế vào cái cửa sổ của trang Google, enter một cái thật to, thì rất bất ngờ: những kết quả đều chỉ ra rằng đây là tên gọi của những tờ báo "nhớn" của nước ta, gọi tên đương kim Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra.
Ôi, tên gọi của vị nữ Thủ tướng xinh đẹp kiều diễm của Thái Lan, người mà mình rất ngưỡng mộ cả về tài năng và nhan sắc, lại bị biến thành những âm thanh ngô nghê và khô khốc như thế sao?
Có lẽ mấy tay nhà báo xứ ta tinh nghịch thế nào đó, chứ làm sao lại gọi là Xin-vắt? Xin vắt là xin vắt cái gì, vắt cam, vắt chanh hay là vắt … sữa?
Nhưng cũng không loại trừ, đây là cách phiên âm tiếng nước ngoài của một số tờ báo nhớn, vì mình thấy một số tờ chuyên phiên âm theo kiểu như thế.

Chị Dinh-lắc Xin-vắt đang tươi cười bắt tay anh Ô-ba-ma

Nhiều tờ báo đã gọi tên vị Chủ tịch Quốc hội Thái Lan một cách rất oai phong ngạo nghễ là Ngài Sổm-sặc Kiệt-sụ-ra-nôn nữa kia. Mới hôm qua, có báo đăng tin Đoàn Bộ Ngoại giao, Thương mại và Hội nhập nước Cộng hòa Ê-cu-a-đo do Thứ trưởng M.An-bu-ha dẫn đầu sang thăm Việt Nam. Chẳng hiều sao không gọi luôn là Ăn-bú-hả cho nó nên thơ, mà lại để An-bu-ha ngang phè phè như thế?
Rõ ràng, cách phiên âm như thế là chỉ có ở Việt Nam, vừa hiện đại lại vừa đậm đà bản sắc dân tộc. Nó hết sức đặc biệt, và cũng cực kỳ ấn tượng. Duy chỉ có điều khi đọc theo cách phiên âm này, cần phải cẩn thận vì nếu không may gặp phải làn gió độc, lơ mơ là bị méo miệng suốt đời.
Kể lại kết quả tra Google cho anh bạn, hắn cười khè khè rồi bảo: Ấy là ông còn chưa biết, bên Ru-ma-ni toàn cu không à, có một đồng chí tên là Xê-ra-tau-xét-cu nữa.
Nghe mà kinh! Nhưng mình vẫn mơ được sang thăm cái xứ sở Ru-ma-ni này, để được diện kiến đồng chí Xê-ra-tau-xét-cu một lần xem sao.

Thái Bá Tân (thơ châm) - LÃNH ĐẠO

Nguồn fcb thaibatan


"Lãnh đạo như tã lót,
Lâu ngày cũng phải thay".
Ai đó nói như vậy,
Chính xác và rất hay.

Điều này cực kỳ đúng,
Nhất là ở nước ta.
Nhất là khi tã xấu,
Không do dân bầu ra.

Tã lót, các bác biết,
Xấu, lại lâu không thay,
Thì thuộc loại khắm nhất.
Vâng, khắm nhất đời này.

Đến mức tôi bịt mũi,
Không dám viết thêm gì.
Sợ các bác khó ngửi
Lại trách tôi. Sorry!

Minh Diện – Nghĩ về những lời minh triết

Nguồn danluan

Đã muốn quên những lời nói trên diễn đàn và đó đây, không đáng nhớ, nhưng nó cứ như cái gai đâm vào chân thỉnh thoảng làm nhói đau. Trường hợp nhà chính khách Nguyễn Minh Triết là như vậy. Ông đã để lại nhiều câu nói, những lý giải rất "minh triết"!

Chiều qua họp tổ dân phố, nghe phổ biến về việc lấy ý kiến đóng gióp sửa đổi Hiến pháp. Một người phát biểu là cần phải sửa điều 4; nhưng chưa nói xong, thì một cán bộ đứng phắt dậy quát: "Sửa, là thế nào? Không nghe nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết nói sửa Điều 4 Hiến pháp là tự sát à?".

Mọi người ngơ ngác, quay qua hỏi tôi: "Này nhà báo, có chuyện đó à?". Tôi Trả lời: "Vâng!". Một người dân bèn châm rãi nói: "Thế hóa ra đảng muốn dân mình tự sát à? Mười người thì chín yêu cầu sửa Điều 4 Hiến pháp?".

Câu nói ấy khiến suốt đêm tôi không ngủ, cứ suy nghĩ về ông Nguyễn Minh Triết.

Chính ông đã nói: "Xóa bỏ điều 4 Hiến pháp là đồng nghĩa với tự sát!". Câu nói của nguyên Chủ tịch nước đang là một vật cản lộ trình dân chủ. Bởi thế tôi muốn thử liệt kê lại những phát biểu của ông Nguyễn Minh Triết xem nó có "minh triết" không?

Trước hết về Điều 4 Hiến Pháp, mà ông Nguyễn Minh Triết nói "Xóa đi là đồng nghĩa với tự sát".

Điều 4 trong Hiến Pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992, Nhà xuất bản chính trị quốc gia 2005, bản sửa đổi, có đoạn viết: "Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật".

Như vậy quyền lực của Đảng cộng sản Việt Nam bao trùm tất cả. Nhà nước do đảng lập ra, là của đảng,vì đảng, một đội ngũ chỉ chiếm 4% dân số. Điều này hoàn toàn trái với Điều 2 của Hiến pháp, khẳng định: "Nhà nước CHXHCN Việt Nam, là Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân!".

Định tính của Điều 2, nhắc lại gẩn như nguyên văn định nghĩa về nhà nước pháp quyền của Abraham Lincoln (1809-1965), vị anh hùng giải phóng nô lệ, thần tượng của Karl Marx: "Một quốc gia dân chủ là một quốc gia mà chính quyền của dân, do dân, vì dân!". Karl Marx là bậc thầy của Chủ nghĩa cộng sản, tất nhiên Đảng cộng sản Việt Nam không thể phủ định Marx.

Điều 83 của Hiến Pháp tương đồng với Điều 2, khẳng định Nhà nước của dân, vì dân và dân có quyền quyết định tối thượng.

Điều 4 đứng sau Điều 2, sửa đổi lại nội dung trái với Điều 2 và Điều 83 trong một bản Hiến Pháp, là vi hiến, nói cách khác, Đảng cộng sản Việt Nam đã chiếm quyền làm chủ đất nước của nhân dân.

Vậy bỏ Điều 4, là đúng pháp luật, hợp đạo lý, tôn trọng lịch sử.

Nhân dân Việt Nam trải qua gần ngàn năm Bắc thuộc, gần một trăm năm thuộc địa, hết thế hệ này thế hệ khác đứng lên, không tiếc máu xương, chiến đấu, với nguyện vọng thiêng liêng là độc lập tự do, dành chính quyền cho mình, vì quyền lợi của mình. Từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, máu xương nhân dân Việt Nam liên tục đổ xuống, cũng với khát vọng ấy. Bởi thế, nhân dân Việt Nam rất vui mừng khi Điều 4 của Hiến pháp được xóa bỏ, dân được quyền làm chủ đất nước, toại nguyện khát vọng ngàn đời.

Đảng cộng sản Việt Nam đã ngắt đoạn lịch sử, dành hết công lao về mình, tiếm quyền làm chủ đất nước của dân.

Những người cộng sản thế hệ trước có đóng góp xương máu với dân, trải nhiều gian khổ, làm như vậy đã không chính nhân quân tử!

Những người cộng sản hiện nay, chẳng những không có công lao, mà "một bộ phân không nhỏ đã suy thoái về chính trị, tư tưởng, biến chất về đạo đức ", có kẻ "cõng rắn cắn gà nhà" đã là "một bầy sâu" mà vẫn " ăn mày dĩ vãng" mà còn giữ ghế độc quyền lãnh đạo càng tham lam.

Phải chăng, theo suy nghĩ của Nguyễn Minh Triết, nếu Đảng cộng sản Việt Nam xóa bỏ điều 4, là buông cái ghế ấy ra, đảng sẽ tiêu vong, là tự sát?

Ông Nguyễn Minh Triết không dám nói thẳng ra, mà dùng cách nói lập lờ, muốn gộp cà nhân dân vào khái cái khái niệm tự sát của mính là không ồn. Đó không phải lần đầu mà là thói quen của vị nguyên chủ tịch nước được coi là có tài hùng biện này.

Các cụ ngày xưa có câu: "Nhất ngôn cửu đỉnh, tứ mã nam truy", nghĩa là, một lời nói lọt qua chín cái răng như chín đỉnh đồng, bốn ngựa đuổi không kịp, nên mỗi lời nói cần phải hết sức thân trọng. Cũng lại có câu "Phú quý xứng kỳ đức!", nghĩa là sự giàu sang phải xứng với cái đức, suy rộng ra, người làm vương làm tướng phải có tài có đức xứng với cái chức cái quyền, mà tài đức bộ lộ ra lời ăn tiếng nói hàng ngày, muốn dấu cũng không được. Ông Nguyễn Minh Triết là người phát minh câu: "cái tâm và cái tầm" thay cho câu " đức tài". Không biết ông tự cân đong tâm, tầm mình đến đâu, nhưng quả thực, nghe khẩu khí của ông qua những lần ông đăng đàn diễn thuyết thấy không xứng đáng với chức vụ của ông.

Năm 2009, trong chuyến thăm Cu Ba, Nguyễn Minh Triết nói thế này: "Có người ví von Việt Nam, Cu Ba như là trời đất sinh ra. Một anh ở phía Đông, một anh ở phía Tây. Chúng ta thay nhau canh giữ cho hòa bình thế giới. Cu Ba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cu Ba nghỉ!".

Khi Nguyễn Minh Tiết huênh hoang như vậy, Lybi đang bạo loạn, Syri dấy binh lửa nội chiến, Triều Tiên, Iran tìm cách phát triển vũ khí hạt nhân, và trùm khùng bố quốc tế Osama bin Laden chưa bị giết. Ông và người anh em sinh đôi Cu Ba canh giữ hòa bình kiểu gì vậy?

Bốn mươi tư năm trước, Việt Nam và Cu Ba được Liên xô khoác cho cái danh: "Tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa", Hồ Chí Minh đã ví Việt Nam, Cu Ba là hai anh em thay nhau canh giữ tiền đồn ấy. Bây giờ phe xã hội chủ nghĩa đã tiêu vong rồi, ông Nguyễn Minh Triết còn hoài niêm, bắt chước một câu nói sáo rỗng, thật vô duyên!

Có lẽ người ta sẽ cho là bịa đặt, thậm chí ghép tội phỉ báng lãnh tụ, nếu như không có những đoạn băng Video ghi lại cuộc tiếp xúc Kiều bào Mỹ của chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết. Giữa một đám đông cử tọa đủ mọi trình độ, rất nhiểu khác biệt về quan điểm chính trị, mà Nguyễn Minh Triết như múa gậy vườn hoang. Ông kể lại cuộc nói chuyện vối Tổng thống Mỹ một cách ngây ngô thế này: "Tôi hoan nghênh ông Obama. Ông ấy tuyên bồ đóng cửa nhà tù Guantanamo mà. Nhưng mà tôi nói rằng, vấn đề này là khó lắm đó. Tôi chúc ông phải nỗ lực để thực hiện cho bằng được cái này. Tôi nói mà tôi nhìn Obama, mà tôi thấy ông ấy cũng chăm lắm đó, lắng nghe lắm. Như thế là mình vừa động viên ông Obama nhưng mình vừa phân hóa cái nội bộ của ông ấy."

Mình từng lên án nước ngoài can thiệp vào nội bộ Việt Nam, giờ nhân danh một Chủ tịch nước, công khai khoe "phân hóa nội bộ" người ta, khác gì tự vả vào miệng mình?

Ông Triết tưởng câu nói ngô nghê của ông phân hóa được nội bộ của Obama chăng? Ông nghĩ Tổng thống Mỹ là đứa con nít hay sao mà nở mũi nghe ông động viên? Hình như ông đã quen cách động viên phong trào của một cán bộ dân vận? Thật mắc cỡ khi phải làm thần dân của một đấng "minh quân" như thế.

Lẽ ra Nguyễn Minh Triết nên nhờ một ai đó viết cho một bài phát biều học thuộc lòng, hoặc đừng dấu dốt, cứ cầm giấy mà đọc có khi đỡ làm xấu hổ người Việt Nam. Đằng này ông ra vẻ hùng biện, vung chân múa tay, phùng mang trợn mắt hùng hồn, làm đệ tử theo ông ngượng chín mặt. Một nhà báo tháp tùng chủ tịch Nguyễn Minh Triết đi Mỹ nói với tôi như vậy.

Nguyễn Minh Triết tỏ ra kiêu hãnh, tự phụ khi được tham gia nhóm thành viên không thường trực Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, trong khi 10 nguyên thủ quốc gia khác họ rất khiêm nhường. Ông ta nói: "Tôi muốn nói với các đồng chí và quý vị rằng cái vai trò, cái vị thế cùa mình bây giờ cũng ngang hàng với người ta, cũng nói năng, cũng đúng mực đàng hoàng lắm đó!".

Khi bốc đồng như vậy, Nguyễn Minh Triết không nhớ rằng, chì cần nhấp chuột người ta biết ngay Việt Nam ở vị thế nào? Là thành viên không thường trực Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, đâu phải là thứ bậc để đánh giá một nước giàu mạnh, dân chủ, văn minh, trên thế giới thì đó mới là tiêu chí bắt buôc. Việt Nam đang ở vị trí có vị 194 trên 197 nước về tự do báo chí, là nước thu nhập thấp nhất khu vực, thua Lào, Campuchia và là nước xếp tứ 4 về tham nhũng.

Để lấy lòng Tổng thống Nga Putin, Nguyễn Minh Triết nói: "Mỗi chiến thắng của Nga đều như là chiến thắng cùa chúng tôi. Chúng tôi ủng hộ Nga trong xung đột với Gruzia!".

Nước Nga bây giờ đâu phải Liên bang Xô Viết, mà dẫu còn như thế, thì hay ho gì việc cổ vũ xung đột, hơn nữa Việt Nam từng nhờ vả Gruzia, giờ vẫn quan hệ bình thường với Gruzia?

Trong khi hung hăng với Gruzia như vậy, Nguyễn Minh Triết lại cong lưng, uốn lưỡi trước Trung Quốc. Phải nói từ trước đến nay chưa vị lãnh đạo nào đề cao "tình hữu nghị Việt Nam, Trung Quốc" như Nguyễn Minh Triết. Hãy nghe ông ta phát biểu: "Tình hữu nghị Việt Nam –Trung Hoa là số một. Phải làm sao giữ mãi trân trọng mãi . Dù có khó khăn, có gặp những vấn đề gì trở ngại, thì hãy đoàn kết thân ái với nhau, trao đổi để tìm cách khắc phục!".

Thử hỏi 5 năm 28 ngày làm Chủ tịch nước, Nguyễn Minh Triết đã khắc phục được gì trong quan hệ với Trung Quốc? Phải chăng là gọi tàu Trung Quốc đâm tàu cá, bắt ngư dân, cắt cáp tàu thăm địa chấn của Việt Nam là Tàu lạ, là ra tay đàn áp dân biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa?

Không biết Nguyễn Minh Triết khi lên Hà Giang có viếng thăm Nghĩa trang Liệt sỹ, nơi hảng ngàn chiến sĩ hy sinh trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Trung Quốc?

Năm ngoái, trong bài viết về Huỳnh Phi Dũng, tôi đã kể lại chuyện khi tôi gặp Huỳnh Phi Dũng để xác minh việc ông ta lấy tiền của nhà nước về quê làm đường với danh nghĩa cá nhân, và những vấn đề liên quan đến tham nhũng, thì Bí thư tỉnh ủy Bình Dượng lúc đó là Nguyễn Minh Triết tới ngăn lại.

Hình như sự bao che như vậy không phải một lần, mà luôn nhất quán với quán điểm của Nguyễn Minh Triết. Ông khái niệm về tham những rất lạ: "Chúng ta là một nước trong chiến tranh chưa có kinh nghiệm quản lý. Là ở một số nước người ta đó, thì muốn tiêu cực tham nhũng cũng khó vì cái hệ thống pháp luật nó chặt chẽ, còn ở Việt Nam của mình thì có khi người không muốn tham nhũng cũng động lòng tham, cái người thủ quỹ cứ giữ tiền khư khư, ở quỹ lúc nào cũng có số dư cho nên lúc bí quá thì em mượn một chút. Mượn thì hổng thấy ai đòi hết, thấy hông? Thì em mượn tiếp, chứ không phải người Việt Nam tham nhũng nhất thế giới đâu. Nói một hồi thì thấy người Việt Nam tham nhũng nhất thế giới không phải vậy, cho nên tôi đề nghị ở nước ngoài khi nghe những thông tin này rồi nhìn về nước cũng đừng có hốt hoảng, nghĩ rằng sao trong nước mình tiêu cực quá? Mà hồi xưa mấy ông quánh giặc sao giỏi thế mà bây mấy ông tiêu cực thế. Đây là quy luật muôn đời! Con người ta trong mỗi người ai cũng có hỉ nộ ái ố hết trơn, chúng ta là con một nhà là con lạc cháu hồng cùng một bọc trứng sinh ra, trên thế giới này ít có nơi nào có cái đó lắm."

Ôi, cái triết lý tham nhũng và cái quy luật phát triển từ đánh giặc giỏi đến tiêu cực mới rối rắm làm sao? Hơn dây cà dây muống! Một khi đánh giá tham những chỉ như là cô em thủ quỹ mượn tiền, không thấy đòi, nên không trả, mà hô hào quyết tâm quyết liệt chống tham nhũng thì thật trớ trêu.

Cũng như khi nói về Điều 4 Hiến Pháp, nói về tham nhũng Nguyễn Minh Triết lại gộp hết người Việt Nam vào một rọ, để thanh minh rằng người Việt Nam không tham nhũng, nên một một tờ báo ở Califonia đã viết: "Đừng vơ đũa cả nắm, người ta nói chính quyền cộng sàn Việt Nam tham nhũng nhất thế giới chứ không nói chung người Việt Nam tham nhũng" .

Vâng, đúng thế, có chức quyền mới tham nhũng, chứ người dân Việt Nam bị "cả bầy sâu" ăn hết phần rổi còn tham những của ai?

Ông Nguyễn Minh Triết cảnh tỉnh nhân dân: "Đừng có nghe những lời xuyên tạc, những cái bịa đặt, nó gây mất đoàn kết trong nội bộ chúng ta, nó gây giảm niềm tin với đảng và nhà nước, thậm chí chống lại chủ trương của đảng và nhà nước!" (Phát biểu trong khi thăm Hà Giang).

Trước khi về hưu không lâu, ông Nguyễn Minh Triết có một câu nói để đời: "Thánh Gióng là phi thường điều đó có vẻ là huyền thoại nhưng mà thưa quý vị tôi nghĩ không phải là huyền thoại đâu, đây là sức mạnh của hồn thiêng sông núi, đây là sức mạnh của toàn dân tộc Việt Nam, đây là sức mạnh của ý chí quật cường, của sức mạnh không có gì quý hôn độc lập tự do nó hội tụ vào Thánh Gióng. Thánh Gióng công lao là như thế, tài năng là như thế, nhưng mà không màng chức vụ danh lợi không đòi hỏi ai cám ơn không đòi hỏi phong tước phong chức gì cả đánh giặc xong là thanh thản về trời để sống một cuộc đời vui thú điền viên". Sao ông biết điều đó? Biết cả trên Trời có điền viên?

Bất chấp lịch sử, bất chấp quy luật, coi khinh cả nhũng khái niệm cơ bản nhất về lịch sử, dã sử và huyền thoại, Nguyễn Minh Triết cho rằng Thánh Gióng là có thật, được đúc kết bằng sức mạnh "Không có gì quý hơn độc lập tự do" của Hồ Chủ tịch! Ôi, một bậc kỳ tài về "minh triết". Ông ta nói trên trời có ruộng vườn (điền, viên) để cho Thánh Gióng vui thú thì thêm một thiên tài về sự tưởng tượng.
Nguyễn Minh Triết biết trước số phận khi Điều 4 Hiến Pháp bị xóa bỏ nên, ông ta quyết chống lại đồng thời tìm nơi cư trú mới chăng?

Minh Diện