Chủ Nhật, 22 tháng 12, 2013

Nam Lộc nói về sự ra đi của nhạc sĩ Việt Dzũng

Nguồn vietbao

(12/21/2013) (Xem: 2397)
Tác giả : Nam Lộc
Nam Lộc nói về sự ra đi của nhạc sĩ Việt Dzũng

Sự ra đi bất ngờ của nhạc sĩ Việt Dzũng là một mất mất rất lớn lao đối với tôi khi mà người bạn đồng hành của mình trong suốt hơn 30 năm qua trên con đường văn nghệ, vận động cho nhân quyền và tranh đấu cho tự do, dân chủ là nhạc sĩ Việt Dzũng đã không còn nữa. Tuy nhiên tôi thương anh ít hơn là thương những người quý mến anh còn ở lại trên cõi đời này, trong đó có tôi. Mặc dù đã phải ra đi ở độ tuổi còn trẻ, nhưng suốt hơn 50 năm qua, Việt Dzũng đã sống thật trọn vẹn và thật đầy đủ với những gì anh muốn làm cùng những điều anh muốn thực hiện. Sống với lý tưởng, với lương tâm và đem tâm sức cùng tài năng của mình để phục vụ cuộc đời.

Vì sức khỏe không được tốt cho nên Việt Dzũng cũng đã chuẩn bị tinh thần cho những điều bất trắc có thể xẩy ra. Và có lẽ cũng vì thế nên khi có những biến chuyển về bệnh trạng, anh đã ra đi thật nhanh chóng, thật thản nhiên, chỉ để lại bao đau đớn, xót xa cho những người thương mến anh đang còn sống. Điển hình là chưa đầy 24 tiếng đồng hồ kể từ khi tin về sự ra đi của anh được loan truyền đã gây sự xúc động và bàng hoàng cho rất nhiều người. Hầu như điện thoại, text và email của tôi đã tràn ngập lời nhắn của những người thân hoặc những người chưa bao giờ tôi quen biết. Quý vị đã gọi từ khắp mọi nơi trên thế giới kể cả từ VN với những lời chia sẻ, nhắn gửi chân thành và những giọt nước mắt thiết tha dành cho Việt Dzũng.      
Một trong những điều may mắn và hân hạnh trong cuộc đời của tôi, là được đứng bên cạnh một người mà tôi luôn luôn ngưỡng mộ và quý mến từ bao năm qua cũng như được hoạt động cùng anh trong nhiều lãnh vực. Nếu không có Việt Dzũng ở bên cạnh, nếu không có Việt Dzũng cố vấn, an ủi, khuyến khích thì chắc tôi đã không hoàn thành được những gì mà mình muốn và đã thực hiện.
  Việt Dzũng đã ra đi, nhưng tinh thần và lý tưởng phục vụ cho tha nhân, cho quê hương đất nước cùng dòng nhạc của anh vẫn còn tồn tại và sẽ sống mãi trong lòng những người thương mến anh. Tôi chỉ buồn một điều là từ nay sẽ không còn ai chọc phá mình trên sân khấu hay trước mặt khán thính giả nữa. Thằng em tôi nó đang ngủ thật bình yên!
Nam Lộc, December 21, 2013
Một mùa Giáng Sinh buồn!
(Nam Lộc & Việt Dzũng, giây phút cuối)

Thứ Bảy, 21 tháng 12, 2013

Người Buôn Gió : Không chốn nương thân- tặng Nguyễn Văn Thạnh.

Nguồn nguoibuongio

Những ngày của tháng 12 năm 2013, hình ảnh chuyến xe chở đồ đạc và số phận của chủ nhân đồ đạc là vợ chồng kỹ sư Nguyễn Văn Thạnh ở Đà Nẵng khiến người ta liên tưởng đến những hình ảnh trong phim đen trắng cách đây  hơn 60 năm. Những thước phim kể về người Do Thái chạy trốn sự săn lùng của chủ nghĩa phát xít.

 Sự khác nhau của 60 năm trước với lúc này là người bị săn đuổi không bị đưa vào lò thiêu.

Nhưng sự giống nhau thì vẫn thế. Một số phận như con thuyền không bến đậu, nó giống như người bị bệnh dịch hạch đến đâu cũng bị xua đuổi tàn nhẫn.

Mấy năm trước trong một đêm, tôi đánh thức con mình dậy bảo mình đi. Cậu bé ngái ngủ ngơ ngác sợ hãi nhìn thấy đồ đạc đã chất trên chiếc ô tô.

- Bố ơi, mình đi đâu thế.?

 Chuyện là sau thời gian không có công việc, một người quen cho tôi thuê nhà mở hàng intenet tiền thuê trả sau. Nhưng lúc đó tôi không có tiền để mua dàn máy tính. Lúc vò đầu ngồi nghĩ cách xoay tiền, một người bạn mới quen gặp lần đầu thấy vậy nói.

- Đéo gì phải nghĩ, mấy chục triệu tí em đưa cho anh vay. Giờ cứ vui đi đã.

Lúc đứng dậy khỏi bàn nhậu, người đó đi ra ngân hàng rút 20 triệu đưa tôi. Cộng với 15 triệu vay của nhà vợ tôi cũng có được dàn vi tính cũ với 10 cái máy. Nhưng còn bàn ghế, còn vật dụng khác...đang lúc khó khăn thì thằng bạn thuở còn thanh niên ghé qua, nó cũng chả giàu có gì, rút phắt ra 5 triệu bảo ông cầm lấy, tôi cho ông gắng mà làm ăn. Phải nói thêm 2 thằng bạn này không hề quan tâm đến chính trị, chúng chỉ là người chăm chú làm ăn, có tiền thì đi làm từ thiện. Không phải thế lực thù địch nào, hiện cả hai vẫn sống ở Hà Nội trong cuộc sống mà chúng vẫn sống.

Hàng internet mở khá đông khách, bởi sự nhanh nhạy đón ý khách hàng và khiếu nói chuyện trên trời dưới biển của tôi. Khách luôn phải chờ nhau, trong lúc chờ họ nói chuyện với tôi cũng thích. Thậm chí có máy trống họ bảo cứ bật tính giờ, còn họ nói chuyện với tôi nốt câu chuyện.

Tôi chuyển nhà về đó ở, con tôi học trường mẫu giáo gần đó. Tôi nuôi một đôi gà chọi trống mái, tự mình hàn mấy cái giá sách. Có lẽ cuộc đời tôi đã an bình từ dạo đó. Sách, gà chọi, công việc tại chỗ, gia đình ở tại chỗ. Tất cả là những thứ dây neo đủ để cuộc đời tôi dù muốn bôn ba cũng khó mà dứt được dù chỉ một ngày. Thinh thoảng tôi có viết vài bài trên blog, nội dung bài viết lúc đó không có gì nặng nề lắm.Mức độ phê phán trong các bài viết của tôi hồi ấy có khi còn thua cả báo chí bây giờ.Có mấy bài bênh vực nhà thờ trong vụ cưỡng chế đất, mức độ bênh nhẹ nhàng kiểu thông cảm chia sẻ.

Bỗng nhiên một hôm người chủ nhà hớt hải đến, anh ta nói rằng công an bảo anh ta chỗ tôi là hang ổ phản động, nếu còn cho tôi ở thì sẽ bị tịch thu nhà. Tôi nói không có chuyện đó, làm sao mà tịch thu nhà cho thuê. Hai hôm sau người chủ nhà cho tôi xem tin nhắn điện thoại của ai đó nhắn anh ta. Nội dung đe dọa việc chứa chấp gia đình tôi sẽ khiến anh ta chịu hậu quả.

Tôi không muốn anh ta phải lo lắng, đêm đó tôi chuyển đồ về ở nhờ nhà vợ ở khu tập thể chật chội, cũ nát. Nắng nóng kinh người, mùa đông lạnh, mưa dột tứ tung.

 Hàng intener thuê người trông,thời gian sau khách vắng dần, máy hỏng. Hai con gà chọi thì bị bắt trộm, sách mục nát. Tôi xin đi làm ở một công ty trong khi hàng internet thu nhập kém cỏi. Bỗng nhiên công an đến công ty hỏi giám đốc về phòng cháy chữa cháy, về thuế, về hợp đồng hỏi mãi hỏi mãi đến khi vợ chồng giám đốc trẻ lo lắng , hoảng hốt không hiểu chuyện gì. Khi mà sự hốt hoảng thành sợ hãi cao độ, công an mới hỏi họ về tôi. Lúc đó họ mới ngã người. Tuy nhiên họ là người can đảm, cả hai vợ chồng không vì thế mà cho tôi nghỉ việc. Nhưng tôi cũng không muốn làm khó họ. Tôi về nhà, lúc này hàng internet đã tan hoang, máy bán thanh lý không nôi, chỉ có nước đem cho.

Gia đình tôi trông chờ vào đồng lương ít ỏi của vợ. Chả hiểu sao vợ tôi tốt nghiệp đại học ngành tài chính loại tốt, đi làm ngân hàng bao lâu mà ngày lương chỉ thấy bằng người mới thử việc.

Hàng ngày tôi ở nhà đưa con đi học, chiều đón về, nấu cơm làm việc nhà. Tôi, một thằng đàn ông khỏe mạnh, đầy sức sống đã trở thành một người nội trợ đảm đang. Thời gian rảnh tôi đọc những cuốn sách của nhà xuất bản Sự Thật ngày trước và sách của nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia sau này. ( Khi khám nhà, cơ quan an ninh điều tra của bộ công an đã ngỡ ngàng khi thấy tôi đọc những cuốn đó ). Tôi tình cờ thấy những mâu thuẫn. Ví dụ sách của đại tướng Văn Tiến Dũng thì nói - Trung Quốc muốn xâm chiếm, thôn tính ta để làm bàn đạp tiến xuống phương Nam gây ảnh hưởng áp đặt các nước trong khối Đông Nam Á. Nhưng cuốn tài liệu bồi dưỡng đảng viên trẻ sau này thì lại nói - các thế lực thù địch Phương Tây âm mưu muốn biến Việt Nam thành con đê để ngăn chặn sự phát triển của Trung Quốc xuống phía Nam, bởi thế chúng luôn muốn ta ( Việt Nam ) mâu thuẫn với Trung Quốc ....

Tất nhiên thì ở thế hệ tôi, hình ảnh của Đại Tướng Văn Tiến Dũng và lời nói của ông đáng tin hơn mấy cuốn sách bồi dưỡng này nọ. Một thế hệ mà khi biết chữ lần đầu đọc những câu chuyện về bọn Hán gian,bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh, bọn giết đàn bà trẻ em 6 tỉnh biên giới rồi thả trôi sông Hồng để đe dọa dân Việt Nam....tất nhiên khó mà tin lời của cuốn tài liệu bồi dưỡng đảng viên trẻ hơn lời của một vị đại tướng.

Tôi lờ mờ hiểu ra, tại sao bao nhiêu năm sau này, đại tướng Văn Tiến Dũng hầu như chẳng bao giờ được truyền thông nhà nước này nhắc đến. Gần như ông bị quên lãng.

Quãng thời gian đó tôi nảy ra ý viết Đại Vệ Chí Dị, câu chuyện về nước Vệ, Tề thế nào thì bạn đọc đã hiểu, không cần nhắc ở đây.

Còn câu chuyện thực tế là tôi ăn bám vợ, nợ nần bạn bè, một năm không mua quần áo cho mình. Thứ mà tôi sắm cho mình Tết năm ấy là đôi giày giả da, đế nhựa giá 180 nghìn ở cái hàng giày vỉa hè phố Đặng Văn Ngữ. Một lần tôi viết bài cho báo Đẹp, bài báo nói về thú chơi mô hình máy bay. Nhuận bút được 1, 2 triệu ( giá như tôi chăm viết dạng ăn chơi thế này thu nhập cũng ổn), tôi đưa con tôi đến phố Tạ Hiện, vào cái hàng đặc sản mà khi xưa bố tôi đã cho tôi ăn phở xào vì bố tôi trúng mánh mua được cây bút Parker ngòi vàng. Hai bố con tôi ăn chim quay, thật ra tôi chỉ ăn đầu chim và chân chim, phần lại nhường con. Thằng bé trên đường về bỗng thốt.

- Hôm nay là ngày hạnh phúc của mình.

Tôi hỏi sao con nói thế, cậu bé trả lời.

- Vì ăn được món chim quay ngon nhất trên đời.

Tôi nghẹn ngào, có lẽ tôi  không phải là người bố tốt.

Nhưng tôi còn có nhà vợ để ở nhờ, nhà vợ do ông vợ để lại. Ông vợ tôi là lão thành cách mạng tiền kháng chiến, ông về hưu với quân hàm đại tá. Có lẽ ngôi nhà tập thể cũ nát của vị lão thành cách mạng khó mà dọa thu hồi được. Nhờ thế dù lay lắt, nhưng tôi còn có chỗ dung thân. Đồng tiền có thể ít ỏi, nhưng có mái nhà trú thân rau cháo cũng qua bữa. Còn mái nhà để nương tựa, còn hy vọng kiếm tiền như các cụ nói an cư, lập nghiệp.

Đấy chỉ là một lần sạt nghiệp, một lần chạy trốn, một lần chuyển nhà. Vậy những gì hôm nay mà vợ chồng kỹ sư Nguyễn Văn Thạnh phải đối đầu còn khủng khiếp hơn câu chuyện của tôi nhiều lần. Đó mới là những gì ta trông thấy. Đi đến đâu cũng bị xua đuổi, từ chối. Thậm chí xe chở đồ đạc gia đình đi trên đường cũng bị chặn giữ, khám xét và mang về đồn công an. Có lẽ những chất liệu bi đát mà vợ chồng kỹ sư Nguyễn Văn Thạnh đang chịu ngày hôm nay còn nhiều hơn và bi kịch hơn những chất liệu đã làm nên những tiểu thuyết bất hủ, những thước phim kinh điển về sự trốn chạy như Không Chốn Nương Thân, Giờ thứ 25, Lối Thoát Cuối Cùng...và phim của người đạo diễn tài hoa Yilmaz Guney của Thổ Nhĩ Kỳ về sự trốn chạy.

Tôi căm phẫn khi đọc đoạn người vợ sống trong cảnh bị truy đuổi, phá hoại cuộc sống ở tác phẩm Lối Thoát Cuối Cùng của nhà văn người Rumani  C.V Gheorghiu  đã nhảy qua cửa sổ tự vẫn khi thấy công an hộ tịch đến gõ cửa đòi kiểm tra nhân khẩu.

Hôm nay tôi lạnh người khi theo dõi những sự kiện truy bức mà vợ chồng kỹ sư Nguyễn Văn Thạnh đã chịu đựng.  Biết nói thế nào,tại tôi đọc quá nhiều thôi. Tôi đã thấy sự khác nhau giữa nhà xuất bản Sự Thật và nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia để lòng khuấy động phai viết gì đó như Đại Vệ Chí Dị. Còn hôm nay đọc thấy sự giống nhau tàn bạo , thâm độc của những gì vợ chồng kỹ sư Nguyễn Văn Thạnh gặp phải với những tác phẩm truy đuổi cách đây hơn nửa thế kỷ.

Tôi sẽ viết gì.? Khi tài năng của tôi có giới hạn.

Chỉ có vài dòng này chia sẽ với người anh em Nguyễn Văn Thạnh. Mong bình an đến với vợ chồng anh

Thứ Sáu, 20 tháng 12, 2013

Nguyễn Ngọc Già : Snowpiercer, bộ phim không chỉ dành riêng cho người cộng sản

Nguồn danlambao


Trailer bộ phim Snowpiercer

Nguyễn Ngọc Già (Danlambao) - Tôi vốn không quan tâm các bộ phim (và phim bộ) Hàn Quốc. Do đó, khi thấy đạo diễn bộ phim "Snowpiercer" có tên Bong Joon-ho đã định bỏ qua, nhưng vì những ngôi sao nổi tiếng Mỹ quốc tham gia trong phim đã kéo tôi vào rạp, có lẽ vì sự tò mò nhiều hơn là tìm những ý nghĩa sâu sắc từ bộ phim. Tuy nhiên trải qua hơn hai giờ đồng hồ, phải thừa nhận: Tôi đã suýt sai lầm nếu không xem bộ phim đạt cả giá trị nghệ thuật và giá trị tư tưởng mà ê-kíp làm phim muốn chuyển tải đến khán giả.

Chuyến tàu băng giá.


Bộ phim có tên tiếng Việt "Chuyến Tàu Băng Giá" chuyển thể từ tác phẩm truyện tranh "Le Transperceneige" [*], do Bong Joon-ho và Kelly Masterson đồng viết kịch bản.

Câu chuyện bắt đầu từ một sai lầm của các nhà khoa học trên thế giới. 

Tình trạng Trái Đất nóng dần lên, đã khiến một số nhà chuyên môn cùng nhau nghiên cứu để giúp nhân loại thoát khỏi họa diệt vong. Sau một thời gian, họ tìm ra loại hóa chất mang tên Communist World -7 với niềm tin mãnh liệt (và tưởng như rất khoa học sau nhiều năm nghiên cứu kỹ lưỡng) làm cho Trái Đất trở về nhiệt độ phù hợp, khi bắn hóa chất đó lên không trung. Đáp trả sự chủ quan của những bác học tên tuổi, một hành tinh chết xuất hiện ngay sau cú phóng Communist World - 7 vào bầu khí quyển. Trái Đất không trở về nhiệt độ phù hợp, thay vào đó, nó hứng chịu một nhiệt độ thấp ghê hồn mà không sinh vật nào sống nổi.

Bối cảnh câu chuyện, bắt đầu vào năm 2031. Mười tám năm, tính từ 2013, khi cú phóng hóa chất sai lầm diễn ra. Tất cả mọi người sống, duy trì nòi giống v.v... đều trên "Chuyến Tàu Băng Giá" - dành cho những ai kịp tháo chạy. Những toa tàu cũ kỹ xuất hiện trên màn ảnh bằng vẻ bề ngoài sầu thảm, ngập trong tuyết lạnh, bám hững hờ trên từng ô cửa. Khuôn hình với đoàn tàu màu đen mốc meo làm cho tuyết trắng trở nên lạnh lẽo và buồn bã. Nó như diễn đạt đời sống những con người đang phó thác số phận cho chuyến tàu đó.

Thật vậy, lần lượt những khuôn mặt tối tăm mang những đầu tóc bù xù, tất cả đều lố nhố trong những bộ quần áo nhếch nhác, cáu bẩn xuất hiện trong những toa tàu u ám, hợp cùng cảnh vật hai bên im lìm trong tuyết lạnh, như nói với người xem: Những nơi đoàn tàu lướt qua, sự sống đã từng tồn tại cách đây lâu lắm rồi, người ở bên trong tàu, dù đói rách vẫn quá may mắn, khi nhìn ra bên ngoài, không một dấu chân người. Đừng trông mong chút gì khi hướng ra khung cảnh trắng đến tang thương. Đại cảnh thật "đắt", khi tạo cho khán giả một sự cảm thông trước tâm trạng hoàn toàn tuyệt vọng, không trông chờ bất cứ điều gì từ bên ngoài. 

Chuyến tàu cứ thế, xình xịch chạy đều đặn với tiếng động rì rầm to nhỏ trên các toa tàu quen thuộc, theo hành trình định sẵn từ 18 năm qua.

Không đích đến.


Đoàn tàu vô định mải miết lao vòng quanh hết năm này sang năm khác với đường ray dài 438.000km, chạy theo chu kỳ mỗi năm một vòng. Không có đích đến. Không tồn tại khái niệm hy vọng. Không có cả những ước mơ hay hoài bão nào khác, ngoài lòng biết ơn vô hạn cần có với ngài Wilford - xuất hiện đúng lúc cùng đoàn tàu, nhờ đó đã cứu vớt tất cả những ai nhanh chân để thoát cái chết đông đặc thành đá.

Đoàn tàu mang tên "Wilford Industries", trong đó được chia ra những toa đầu, toa giữa và những toa cuối như tất cả những đoàn tàu bình thường khác, nhưng điểm đặc biệt: đoàn tàu được điều khiển và bảo vệ nghiêm ngặt bởi một động cơ vĩnh cửu, từ chính bàn tay tài hoa cùng khối óc thông minh và trái tim nhân từ của ngài Wilford. Những toa tàu hạng bét không có cả cửa sổ, chút ánh sáng le lói họ hưởng được từ những bóng đèn nhân tạo hắt xuống từ trần toa tàu.

Mọi thứ trong đoàn tàu đều được lên kế hoạch tỉ mỉ, sắp đặt chu đáo với một trật tự được duy trì đến từng chi tiết nhỏ, thông qua lời nhắc nhở hàng ngày của Tilda Swinton với tư cách "phát ngôn viên" chính thức của cả đoàn tàu. Bà được xem là người duy nhất truyền đạt mọi ý chỉ từ Wilford. Gặp bà tựa như nhìn thấy Wilford, bởi ông chưa một lần xuất hiện ở những toa đuôi, suốt 18 năm qua vì bận rộn nhiệm vụ thiêng liêng và cao cả - duy trì sự bền vững, hiệu quả cả đoàn tàu. Một sự phân công lao động hoàn hảo và hợp lý.

Tilda Swinton khá già cỗi, xấu xí với cặp kính to án ngữ gần cả khuôn mặt cùng mái tóc ngắn cũn cỡn không hợp tuổi tác, dù vận trang phục đắt tiền nhưng bà có cách diễn đạt khô khan, phô ra hàm răng giả, trong đó lấp lánh một chiếc bằng bạch kim: "Hỡi hành khách! Như ngay từ ban đầu, tôi thuộc về đằng trước, các người thuộc về đằng đuôi". Cánh tay bà đưa ra mạnh mẽ và dứt khoát, để bất cứ ai có ý định thắc mắc hay bàn luận đều biết cần nên bỏ cuộc. Bà chấm dứt bằng cách gằn giọng: "Chấp nhận vị trí của mình đi!". Những hàng người ngồi xổm ngay ngắn và thờ ơ trước bà, bởi những nòng súng luôn chĩa về phía họ. Chân lý đã được mặc định.

Thức ăn duy nhất dành cho những người ở các toa đuôi là một loại thực phẩm màu đen, lóng lánh, mềm, được cắt miếng thành thỏi hình chữ nhật, tựa như từng miếng "sương sáo" ở Việt Nam, trong phim người ta gọi là "steak". Nó được phân phát mỗi ngày. Mỗi người một miếng. Như nhau và bằng nhau, bất kể tuổi tác, giới tính và thể trạng. Tất cả những con người ở toa đuôi đều được mặc định trong suốt 18 năm qua để cùng gọi là "steak" và cũng chỉ có mỗi món "steak" đó, ngoài ra không có loại thực phẩm thứ hai. Mọi người đều quen và chỉ đòi ăn "steak", bởi khẩu phần có hạn. Trong mỗi miếng "steak" luôn có một viên chì nhỏ, bên trong đó chứa một chữ, đôi khi là chữ "blood", đôi khi là chữ khác.

Tất cả những ai có ý định lên tiếng, hay tỏ ra phản đối dù nhỏ nhất, dù bất kỳ việc cỏn con, đều bị trừng trị nêu gương. Không hẳn bằng cái chết, đôi khi một cánh tay kéo dài từ bàn tay cho đến gần sát nách, bị cưỡng ép đưa ra ngoài một lổ nhỏ được thiết kế sẵn, trong 7 phút đồng hồ theo quy định, cũng là một sự trừng phạt ghê rợn, bởi sau khoảng thời gian đó, với nhiệt độ lạnh ghê hồn, cánh tay ấy mau chóng trở thành một súc thịt đông cứng.

Kẻ thi hành án chậm rãi kéo cánh tay người bị phạt ra khỏi lỗ nhỏ - sau đúng thời gian đã định - rồi nhẹ nhàng lấy một chiếc muỗng, gõ thử vào súc thịt đó để "thẩm định" nó cứng đến đâu và (có lẽ) cũng nhằm khủng bố tinh thần cho bất kỳ ai có ý định chống đối. Sau đó, người thi hành án nhấc một chiếc búa lên, giơ cao, đập mạnh xuống. Cả súc thịt đông cứng bỗng chốc gãy rời ra làm mấy khúc lớn nhỏ, rơi vãi trên sàn tàu, trước mắt mọi người. Một hình phạt lạnh tanh và khô khốc. Không có máu chảy. Chỉ có tiếng thét của người bị phạt. Tuyệt, không một tiếng động nào khác. Không có ngoại lệ. Không có nước mắt, dù của bất cứ ai.

Nhiều người chán ngắt với đời sống tẻ nhạt suốt 18 năm, chui rúc trong những xó xỉnh ẩm thấp của từng toa tàu, người ta ngăn thành ô, nhưng hỗn độn bởi sự mệt mỏi và thiếu dinh dưỡng, có vẻ khiến con người chẳng muốn vận động nhiều hơn để không quá tiêu hao năng lượng. Tuy nhiên, "trong tro còn lửa". Họ quyết phải làm sao thoát ra khỏi tình trạng hiện hữu để tìm cái gì đó mới hơn, dù hoàn toàn mù tịt về đời sống của các toa tàu phía trước. 

Hành động


Những hành khách trong toa tàu đuôi cùng chung suy nghĩ: cần phải tiến lên để tìm cho ra Wilford mà bao năm qua họ chỉ nghe tên, thông qua bộ trưởng "Bộ Nhồi Sọ" - Tilda Swinton, nhưng chưa bao giờ thấy ông ta xuất hiện bằng xương bằng thịt ở những toa tàu tồi tàn. Họ tin kiểm soát được động cơ vĩnh cửu kia là kiểm soát được thế giới. Họ cho rằng cần phải hỏi cho ra lẽ và tiêu diệt Wilford nếu cần phải làm như thế.

Cuộc nổi dậy được chuẩn bị kỹ lưỡng do một trẻ (Curtis) và một già (Gilliam) mưu trí và giỏi nhất trong toàn bộ hành khách ở các toa đuôi vạch ra. Nó được lên kế hoạch cùng chuyên gia an ninh Namgoong Minsu - có biệt tài mở tất cả các cửa trong đoàn tàu dài vô tận - với cô con gái có khả năng nhìn trước sự việc diễn ra sau mỗi cánh cửa, trong khi cô bé chưa bao giờ biết cảm nhận về mặt đất như thế nào (Go Ah Sung thủ diễn), vì được sinh ra và lớn lên trên tàu với giấc ngủ đông dài. Ngoài ra, còn có bà mẹ da đen (do Octavia Spencer thủ diễn), người có đưa con trai bé bỏng bị bắt đem đi phục vụ việc gì đó mà bà không hề biết, cùng với rất nhiều người ủng hộ cho một sự vùng lên.

Xuất phát từ sự quan sát hàng ngày, cùng một lần nói hớ của Tilda Swinton, dần dần mọi người nhận ra, những họng súng chĩa về họ suốt 18 năm, hoàn toàn không có đạn. Nỗi sợ hãi theo thói quen đã được giải tỏa để họ mạnh dạn đồng loạt tiến lên rầm rộ theo kế hoạch.

Đổi bằng máu cùng nhiều mạng người, sau mỗi cánh cửa của từng toa tàu được mở ra, nó là cả một thế giới kỳ lạ và đầy bất ngờ đối với những hành khách hạng cuối đuôi tàu. 

Bắt đầu từ toa chuyên sản xuất "steak". Họ đã suýt nôn mửa, khi nhìn thấy nguyên liệu chế biến, được thu thập từ côn trùng các loại, thậm chí cả những chú gián đang ngọ nguậy trong bể nghiền để làm ra những miếng "steak" - thứ họ ăn ngon lành suốt 18 năm.

Họ tiếp tục tiến lên, đánh trả và mất mát thêm nhiều mạng người. Sau mỗi lần vượt qua, lại mỗi toa tàu làm họ sững sờ với sự thật trình ra trước mắt. Tất cả hành khách khác - trước mắt họ - đang sống, đang sinh hoạt thật vô tư, như thể chưa bao giờ biết đến có những hành khách đang ở cuối đoàn tàu: đói rách, bẩn thỉu và đầy phẫn nộ.

Những khung cảnh giàu sang, xa hoa, náo nhiệt, hiện đại cùng thủ pháp "ngôn ngữ điện ảnh" đặc sắc của đạo diễn đã lột tả cuộc sống nhung lụa, ăn trên ngồi trốc, phớt lờ sự đời và cả êm đềm, vui tươi, hạnh phúc lướt qua trước mắt "những người khốn khổ" trong sửng sốt, ngơ ngác.

Mệnh phụ phu nhân đài các hàn huyên trong nhà hàng sang trọng; quý ông lịch lãm đang đứng ngay ngắn cho thợ may đo những bộ veston đắt tiền; cậu ấm cô chiêu ăn chơi sa đọa với ma túy và trụy lạc trong các bồn jacuzzi; bác sĩ đang khám bệnh trong những phòng mạch hiện đại; nhà tạo mẫu tóc đang tỉ mẩn cho người đẹp; bậc trí giả đang nghiền ngẫm những đầu sách cao siêu; bà nội trợ bình thản đan len bên khung cửa sổ; công nhân hiền queo ngồi trồng rau sạch thật vô tư lự; lò giết mổ hoành tráng phục vụ các bữa ăn thịnh soạn v.v... Mỗi phân cảnh trong bộ phim diễn ra với ánh nhìn ngạc nhiên rồi đi đến bàng hoàng, khi những hành khách đuôi tàu từ lờ mờ đến rõ ràng nhận biết họ là những người đang ở tận cùng đáy xã hội. Một xã hội hoàn chỉnh với tất cả giai tầng không gì bàn cãi. 

Cũng tại đấy, mỗi người Việt Nam đều nhìn thấy bản thân mình trong đó. Không thiếu bất kỳ một thân phận người Việt Nam nào, của ngày hôm nay. Có tôi và có bạn. Có những nhà bất đồng chính kiến và những trọc phú. Có cả dân oan và nhà trí thức thờ ơ. Có cả nghệ sĩ chỉ quan tâm đến nghệ thuật mà không hề biết những gì đang diễn ra không xa lắm. Có thanh niên nam nữ suốt ngày chỉ biết ăn chơi đàng điếm. Có cả "dư luận viên", công an viên, quân nhân và những kẻ ngồi lê đôi mách. Có cả bộ phận truyền thông, tuyên giáo. Có thể nói, không thiếu bất kỳ giai tầng nào trong xã hội.

Trong khi công nhân, nội trợ thản nhiên làm việc, trí thức đắm mình bên trang sách v.v... không một giai tầng nào quan tâm sự xuất hiện bất ngờ của các hành khách hạng bét toa tàu thì những bậc thượng lưu, vương giả đều trố mắt kinh ngạc và e dè dạt ra hai bên, như vô tình dọn đường cho họ tiến lên dễ dàng.

Điều ấn tượng nhất thuộc về phân cảnh lớp học dành cho trẻ em. Trong trailer chúng ta thấy, những lời hoan hô và ca tụng từ những đứa bé sáng láng, đẹp đẽ lúc nào cũng vui tươi, hạnh phúc vì nhờ có vị cứu tinh - Wilford mà chúng đang thụ hưởng những gì tốt đẹp nhất hiện nay, theo đúng lời dạy của cô giáo. Phân cảnh đặc tả trường đoạn này gây ấn tượng mãnh liệt cho khán giả. Cô giáo mang bụng bầu vẫn xinh tươi, cười nói, vồ vập với bọn trẻ, khi chỉ ra cho chúng thấy bên ngoài một chân lý: những ai bước ra khỏi đoàn tàu thì sao? Đồng loạt hào hứng: Chết! Cô giáo kể cho bọn trẻ câu chuyện 7 người đã chết vì dám tách đoàn, bước ra ngoài. Bảy phiến đá đông cứng nhìn từ trong lớp học là cảnh cáo nghiêm khắc, không lời mà đầy sức thuyết phục ngay trước mắt bọn trẻ. 

Đoàn tàu "Wilford Industries" bỗng chốc khẳng định được sự tồn tại chính đáng của nó: thành trì vững chắc nhất, an toàn nhất, hạnh phúc nhất, không có gì thay thế được. Bảo vệ đoàn tàu bằng mọi giá trở thành chân lý bất diệt mà cô giáo đã truyền đạt cho bọn trẻ. Cũng tại đấy, người xem càng nhận thấy vai trò tuổi trẻ mới quan trọng làm sao! Đó cũng là điều mà người cộng sản (dù Bắc Hàn, Trung Quốc, Việt Nam hay Cuba) hiểu rõ việc "nhồi sọ" thế hệ trẻ là điều không bao giờ được phép xao lãng trong việc duy trì quyền lực độc tôn.

Việc gì đến phải đến.


Ngay ngưỡng cửa cuối dẫn vào đầu não, nơi Wilford ngự trị và điều khiển, bên cạnh đó là một cánh cửa khác, dẫn ra bên ngoài đoàn tàu. Người chuyên viên mở khóa và Curtis mâu thuẫn với nhau trong việc quyết định mở cửa nào. 

Trong khi Namgoong Minsu đòi phải mở cửa ra bên ngoài, vì theo kinh nghiệm của những người đã chết nói lại trước khi họ ra đi: ngoài kia vẫn tồn tại sự sống thì Curtis không tin. Curtis cho rằng chỉ có xông thẳng vào đầu não bắt lấy Wilford mới khống chế và tìm lại công bằng cho cuộc sống trên đoàn tàu mà anh ta tin an toàn nhất cho mọi người, hơn là đánh đổi cánh cửa ra khoảng không gian tự do khoáng đạt lại phải chịu quá nhiều rủi ro được báo trước. Ở đây, đạo diễn thật tài tình, khi trình ra tâm trạng nhân vật giống như nhà văn Phạm Thị Hoài đã gọi - những người "đối lập trung thành". 

Curtis quyết xông vào đầu não, trong khi đó một nữ cận vệ thân tín của Wilford bắn lén người chuyên mở khóa và dùng súng ép Curtis vào diện kiến Wilford. Namgoong Minsu ngất đi trong đau đớn nhưng chưa chết.

Trong toa tàu đầu não, ngoài vẻ hiện đại, sang trọng, tiện nghi nhất; lần đầu tiên trong đời, Curtis giáp mặt với lãnh tụ kính yêu và vĩ đại như Tilda Swinton ca ngợi suốt 18 năm qua. Một người đàn ông đạo mạo, chậm rãi, thong dong bắt đầu thuyết phục Curtis về những khái niệm "được, mất" đối với tuổi trẻ. 

Wilford cho Curtis biết: cuộc nổi dậy là do ông ta cùng Gilliam thông đồng nhằm mục đích tháo bớt ngòi nổ phẫn uất cho những hành khách cuối đuôi tàu, nhưng vẫn đảm bảo trong vòng kiểm soát để duy trì đoàn tàu hoạt động liên tục, bảo toàn "đại cục" cho đa số cư dân đang sống "yên vui" trong từng toa.

"Định mức" số người phải chết cho cuộc nổi dậy là 74%, không hơn không kém, theo thỏa thuận giữa Wilford và Gilliam. Curtis không tin lời Wilford, vì anh ta gởi trọn niềm tin vào ông già nhân hậu trong suốt thời gian qua. Căn cứ tin tưởng của Curtis xuất phát từ việc Gilliam hy sinh cánh tay (hay cẳng chân?) [**] để làm thức ăn cho Curtis trong lúc đói. 

Giải đáp mối hoài nghi đó, Wilford mở băng hình bắt giữ và ra lệnh hành quyết Gilliam trước mắt Curtis để làm tin. Gilliam vì nghĩ tới "đại cục" cho bình an số đông dân chúng trên tàu, theo lời thuyết phục của Wilford, đã phải trả giá bằng sinh mạng vì tội để cho cuộc nổi dậy vượt quá giới hạn cho phép. 

Sau khi hạ gục Gilliam, Wilford đồng thời ra lệnh cho cấp dưới tiếp tục giết thêm, chỉ cần giữ lại 18% số người được sống, nhằm chào mừng ngày đoàn tàu bắt đầu xuất bến. Súng tiếp tục nổ. Hàng loạt người lại tiếp tục ngã xuống. Quá độc đáo với ý tưởng này. Tình tiết đó tố cáo mạnh mẽ bệnh thành tích của người cộng sản, đồng thời lên án những kẻ phi nhân tính, khi họ nhìn con người lạnh lùng như những con số khô khốc. Đó cũng là sự mặc định, người cộng sản nghiễm nhiên ban bố "sống, chết" cho bất kỳ ai với súng đạn và thói phô trương sức mạnh bạo ngược. Tàn ác đến rợn người!

Thâm hiểm hơn, ngọt ngào hơn, Wilford tiếp tục nói với Curtis, ông ta đã già, đã đến lúc rút lui và cần tìm ra một người trẻ tài giỏi để duy trì, điều khiển động cơ vĩnh cửu và Curtis là sự lựa chọn sáng suốt của ông ta. Wilford dẫn Curtis vào gian phòng rộng lớn, nơi động cơ thiêng liêng được đặt tại đó. Curtis choáng ngợp trước hệ thống tinh vi, đồ sộ, hoành tráng và tính ưu việt có một không hai của nó như lời Wilford giảng giải cho anh nguyên lý hoạt động suốt 18 năm qua. Ở đây, đạo diễn một lần nữa trình ra cho khán giả cách chiêu dụ quen thuộc của cộng sản, khi lấy những cái hào nhoáng bên ngoài để quyến rũ. Kiểu dụ dỗ này đạt hiệu quả, nó dành cho những ai, dù có lòng nhân ái, có tri thức, cộng thêm một chút tự mãn về khả năng, nhưng dễ lầm lạc vì bùi tai trước thói gian manh của cộng sản.

Trong khi Curtis bắt đầu xiêu lòng trước sứ mạng quan trọng và cao cả, do Wilford nhẹ nhàng biến anh trở thành một vị "cứu tinh mới" cho cả nhân loại, may mắn thay, cô bé có khả năng nhìn trước sự việc sau mỗi cánh cửa, chạy vội vào và lao tới sàn nhà, đưa tay nạy một viên gạch để trình ra sự thật cho Curtis thấy. Một sự thật ghê rợn đến chết lặng, khi trước mắt Curtis là chú bé da đen - con người phụ nữ bị bắt đi trước đó - đang ngồi điều khiển bằng tay. "Động cơ người" là mấu chốt giúp cho bộ máy khổng lồ tưởng chừng tự động hóa trên kia. Một lần nữa, chi tiết này nói lên vai trò quan trọng của thế hệ trẻ, họ trở thành đối tượng chủ yếu của những tên độc tài toàn trị cần có trong tay.

Lòng nhân ái và yêu trẻ đã thúc đẩy Curtis ra sức vói tay vào khoảng không gian nhỏ hẹp - được thiết kế sẵn, nó chỉ phù hợp và dành riêng cho thân hình những đứa trẻ - để cứu đứa bé thoát ra. Đó cũng là lúc toàn bộ hệ thống động cơ dần dần ngưng chuyển động và rời rã. Cả đoàn tàu dài dằng dặc đối diện với sự đứt gãy từng toa một và kéo nhau lao xuống vực không cưỡng nổi. Tuyết lở từng mảng lớn từ trên những núi đá cao chót vót. Mặt đất rung rinh. Ống kính quay về với những trí thức bên trang sách, cùng nhiều giai tầng khác thoáng giật mình, ngơ ngác ngó nghiêng ra khung cửa mà không hề biết việc gì đang xảy ra, không biết cả cái chết đang đến rất gần. Cái giá phải trả cho sự lãnh đạm và thờ ơ với những gì đang diễn ra ngay sát bên mình.

Nhà quay phim đưa khán giả đến toàn cảnh cả đoàn tàu rời rã, gãy đổ trong vẻ bề ngoài thinh lặng mênh mông. Tất cả cư dân trên đoàn tàu chết mà không biết nguyên nhân tại sao (!). Bài học quá ý nhị và thâm thúy dành cho những người mệnh danh là trí thức, thượng lưu đang ở trong tháp ngà, vỏ ốc hiện nay tại Việt Nam. 

Đôi điều đọng lại...


Sau sự sụp đổ và tan nát hoàn toàn của đoàn tàu dài vô cùng tận, nhờ Curtis và Namgoong Minsu lấy thân che chở, 2 con người còn sống sót: cô bé có khả năng nhìn trước sự việc sau mỗi cánh cửa và cậu nhỏ da đen bị bắt làm nô lệ để Wilford trình diễn tính năng ưu việt của động cơ thiêng liêng. 

Hai đứa bé dọ dẫm bước ra khỏi toa tàu đổ nát với sự e dè của những con người chưa bao giờ đặt chân trên mặt đất. Chúng thoáng giật mình khi phía xa xa xuất hiện một chú gấu trắng toát đang di chuyển, nhờ đôi mắt và chiếc mũi đen mà người ta nhận diện được. Những ánh mắt tròn xoe, ngạc nhiên và ngơ ngác trong vắng lặng mênh mông. Sự sống vẫn tồn tại ở ngay đây, không như lời cô giáo đã nói.

Bộ phim dừng tại đó như cái kết thúc mở, với câu hỏi: hai đứa trẻ đi về đâu và làm sao để tồn tại trong không gian bao la với tuyết và tuyết. Dường như đạo diễn buộc tất cả những ai xem phim phải suy nghĩ về tương lai của thế hệ trẻ gánh chịu với hậu quả khôn lường xuất phát từ sự lừa dối, bạo lực và phục tùng tuyệt đối, do người lớn gây ra? Giờ, tất cả họ chết đi mà không cần biết, không còn biết thế hệ trẻ sẽ xoay xở ra sao với di sản đổ nát tan hoang do người lớn để lại (!).

Wilford đã "nhồi sọ" - thông qua các bộ hạ - một chân lý: Bất kỳ ai có ý định rời bỏ đoàn tàu, đều nhận lãnh hậu quả thảm khốc: chết cứng trong tuyết lạnh. 

Sử dụng hình ảnh đoàn tàu dài vô tận, với không gian chật chội, ngột ngạt; với hiệu ứng ánh sáng lúc tối tăm, mờ ảo, khi chói lòa nhức mắt, có lẽ đạo diễn muốn tìm sự đồng cảm từ người xem về những mảnh đời, dù bần cùng hay sang cả, nó vẫn là đại diện thuyết phục nhất cho những số phận tù đày. Tù đày thân xác lẫn tù đày tinh thần. Cho bất kể giai tầng nào, ngay cả những "con chim quý" vẫn phải chấp nhận nhốt trong "lồng son" để rồi chết mà không biết lý do. Thiển nghĩ, nếu không dùng đoàn tàu: dài, hẹp, tù túng, khó có hình ảnh nào biểu đạt tinh tế hơn để khái quát hóa cả xã hội đang sống trong áp bức tận cùng.

Băn khoăn cuối cùng: Phải chăng chính Wilford là kẻ chủ mưu của hóa chất Communist World - 7 [***], thứ hóa chất làm tê liệt đến không còn sự sống trên thế giới, nhằm thủ đắc ngôi bá chủ thiên hạ để điều khiển toàn bộ nhân loại như y mê muội từ nỗi khát khao tham quyền cố vị không có điểm dừng?

Trong suốt bộ phim, khán giả thấp thoáng bắt gặp nhiều hình ảnh ước lệ của: Kim Nhật Thành, Kim Chính Nhật, Lenin, Stalin, Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông, Fidel Castro v.v... Mỗi nhân vật này, thay nhau ẩn hiện một chút trong bộ phim. Tất nhiên không thể thiếu Marx - một triết gia không tưởng. Chính những lý thuyết suông lại thiếu hẳn thuộc tính vận động của ông, nó đã trở thành nguồn cội cho những tội ác và thói bịp bợm lan tràn đến nay trong những quốc gia cộng sản chưa dứt?

__________________________________

p/s: Bài viết xin gởi tặng các bạn trẻ bị đàn áp trong ngày Nhân quyền quốc tế vừa qua, kèm theo gợi ý: Các bạn có nên rủ nhau cùng đi xem bộ phim này và những cái đuôi đeo bám cũng sẽ vào xem cùng các bạn? Các bạn có một bài học bổ ích từ bộ phim cũng là giúp cho những an ninh trẻ một cơ hội xem phim nghiêm túc mà thiển nghĩ, lâu lắm rồi họ chưa bao giờ xem được bộ phim hay như thế. Giá vé nên đi ngày thường, tiết kiệm được 10.000 đ/vé. Nhanh chân lên, đừng bỏ lỡ.


[**] Xin lỗi độc giả, chi tiết này tôi không nhớ rõ lắm vì coi 1 lần.

[***] Suy đoán: CW -7: nghĩa là Communist Word - 7 (người): Marx, Lenin, Stalin, Kim Nhật Thành, Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông, Fidel Castro?

Thứ Năm, 19 tháng 12, 2013

Tống văn Công : KÌA! CÁI TẤT YẾU ĐANG LỪNG LỮNG ĐI TỚI!

Nguồn diendanxahoidansu

1

I-  VÌ SAO QUỐC HỘI KHÔNG THỂ NHẬN THỨC ĐƯỢC "CÁI TẤT YẾU" ?

Sau khi Hiến pháp được Quốc hội  thông qua với số phiếu áp đảo, dư luận cả nước sôi  hẳn lên. Các giáo sư, tiến sĩ  Mác – Lê phân tích  "Hiến pháp thể chế hóa Cương lĩnh của Đảng được Quốc hội thông qua  là thắng lợi của ý Đảng lòng dân". Tổng bí thư Nguyễn Phú Trong nói "Hiến pháp mới nói lên tiếng nói của 90 triệu đồng bào". Báo Nhân Dân đăng bình luận "Hiến pháp (sửa đổi) – một bước tiến lịch sử".

Nhưng có sự  phản ứng ngược lại. Nhà văn Võ thị Hảo kêu lên ngày thông qua Hiến pháp là ngày tang khốc của dân tộc. Đảng viên Lê Hiếu Đằng, người từng bị chế độ Sài Gòn kết án tử hình tuyên bố từ bỏ Đảng. Hôm sau, đảng viên tiến sĩ Phạm Chí Dũng một cây bút bình luận thời sự chính trị xuất sắc, gửi tâm thư xin ra Đảng, bởi "Sự lãnh đạo toàn diện của Đảng chỉ mang hơi thở và bóng hình của các nhóm lợi ích". Tiếp theo, đảng viên, bác sĩ Nguyễn Đắc Diên ra Đảng nhưng hứa hẹn "Khi nào Đảng thực sự hoàn lương, nắm vững ngọn cờ dân tộc vứt bỏ ngọn cờ xã hội chủ nghĩa thì tôi lại phấn đấu xin vào". Đảng viên Nguyễn Minh Đào gần 80 tuổi đời, gần 60 tuổi Đảng  cảnh báo "Đất dưới chân Đảng đang rung chuyển, tôi mong Đảng hãy kịp thời hành động, đừng để quá muộn!".

Lời nói đầu Hiến Pháp mới viết rằng, Hiến pháp này "kế thừa Hiến pháp 1946". Nếu đúng như vậy thì cũng đã đáp ứng được phần lớn đòi hỏi của số khá đông đảng viên và nhân dân rồi, vậy  tại sao vấp phải phản ứng dữ dội như vậy? Không đúng! Hiến pháp 1946 và Hiến pháp mới khác nhau về ý thức hệ, cho nên không có chuyện kế thừa ! Hiến pháp 1946 đề cao vai trò của nhân dân, đảm bảo các quyền cơ bản của nhân dân, quy định nhân dân tham gia quyết định các sự kiện trọng đại của đất nước bằng quyền phúc quyết sau khi đã được Quốc hội thông qua. Hiến pháp 1946 quy định nhà nước pháp quyền, với tam quyền phân lập, điều mà Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền của Pháp năm 1879 ở Điều 16 viết:"Ở một xã hội mà quyền con người không được đảm bảo, nguyên tắc tam quyền phân lập không được tôn trọng thì Hiến pháp có được ban hành  hay không cũng chẳng có  ý nghĩa gì". Khác với Hiến pháp 1946, Hiến pháp mới  quy định cho một tổ chức chính trị được quyền  lãnh đạo nhà nước và xã hội mà không cần phải  qua bầu cử của nhân dân,  quy định lực lượng vũ trang phải tuyệt đối trung thành với tổ chức chính trị ấy.

Giống như bào chữa cho  việc bỏ phiếu thông qua Hiến pháp của Quốc Hội , tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, phó Chủ nhiệm văn phòng Quốc hội  cho rằng: "Hai năm qua, những tư tưởng về chủ nghĩa lập hiến, về chủ quyền nhân dân, về quyền con người, về cơ chế kiểm soát quyền lực…đã tràn vào nước ta, thắp sáng khối óc và con tim của hàng triệu người Việt….Tuy nhiên, nhận thức về sự tất yếu như vậy nhiều khi khó đạt một cách dễ dàng . Một độ trễ nhất định của nhận thức so với thực tiễn đã đầy "đa nguyên" của đời sống kinh tế là rất khó tránh khỏi." Lời bào chữa của ông  không  giúp  được  "hạ nhiệt" dư luận mà trái lại đã  làm cho người đọc thêm bức xúc: " Tại sao những tư tưởng khai sáng tràn vào thắp sáng được khối óc, con tim của hàng triệu người Việt mà nó lại không thể  thắp sáng nỗi đầu óc, con tim của gần 500 đại biểu Quốc hội, trong có hơn 90 % là đảng viên, và có mặt tất cả các ủy viên Bộ chính trị của Đảng tiên phong lãnh đạo,  " những đại biểu ưu tú mang  trí tuệ của dân tộc và  thời đại"? Điều ấy  gây  khó cho những ai muốn bào chữa  họ là những đại biểu ưu tú của nhân dân!

Mọi người  đều biết "tất yếu và ngẫu nhiên" là một cặp phạm trù triết học phản ánh mối liên hệ khách quan giữa các hiện tượng trong quá trình biến đổi, phát triển của thế giới . Tất yếu là cái nhất thiết phải xảy ra trong những điều kiện nhất định, còn ngẫu nhiên là cái có thể xảy ra hay không thể xảy ra, có thể xảy ra thế này hay thế khác. Tất yếu gắn liền với những nguyên nhân bên trong, bản chất của hiện tượng, là xu hướng phát triển cơ bản của hiện tượng. Cái tất yếu mở đường đi cho nó thông qua vô số những cái ngẫu nhiên, còn cái ngẫu nhiên thì trở thành biểu hiện, bổ sung cho cái tất yếu. Cái tất yếu được chỉ ra trong các quy luật động học có  độ xác định cao. (theo Từ điển Bách khoa).

Nhiều học giả trên thế giới và trong  nước đều khẳng định rằng, tự do, dân chủ, nhân quyền là xu thế tất yếu của thời đại mà mọi quốc gia nhanh hay chậm đều  phải đi đến. Vậy nếu đi ngược lại cái tất yếu thì điều gì sẽ xảy ra? Chắc chắn phía trước  tiềm ẩn nhiều tai họa!

Đại văn hào Stephan Zweig cho rằng "Luôn có những con chim báo bão, sứ giả của trí tuệ, đi trước những tai họa lớn bằng sự bay của mình". Tiếc thay tiếng  chim báo bão ở nước ta  không có người  lắng nghe!

 "ĐẾN HẾT THẾ KỶ NÀY CHƯA BIẾT ĐÃ CÓ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HOÀN THIỆN Ở VIỆT NAM  HAY CHƯA"!

Trên đây là câu nói của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khi góp ý sửa đổi Hiến pháp. Ông  vốn là  tiến sĩ  về lý luận xã hội chủ nghĩa Mác – Lê , là người đứng đầu  Đảng cộng sản  nhận nhiệm vụ "đưa đất nước từng bước quá độ lên CNXH  với nhận thức và tư duy đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam" (Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011). Vậy câu nói của ông nên hiểu là với  "nhận thức và tư duy" thế nào?

Theo lý luận Mác- Lê thì ở thời kỳ quá độ , chuyên chính vô sản phải thi hành các chính sách nhằm tạo ra "điều kiện tiên quyết của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là xây dựng nền công nghiệp xã hội chủ nghĩa hùng mạnh  và tiến hành hợp tác hóa kinh tế nông dân. Thời kỳ quá độ kết thúc sau khi đã tiêu diệt thành phần tư bản chủ nghĩa ở thành thị và nông thôn, chủ nghĩa xã hội thắng lợi trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân." (Từ điển kinh tế, Nhà XB CTQG  Liên Xô năm 1958, NXB Sự thật in lại 1962, trang 565). Về thời kỳ quá độ,  Đại hội 11 kết luận:"Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc." Nội dung này trung thành với nguyên lý nói trên và không gây cảm giác "chuyện ấy còn lâu".

Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới bác bỏ khả năng thực hiện "quá độ xã hội chủ nghĩa" nói trên. Nhưng có lẽ  sự bác bỏ có sức thuyết phục mạnh  nhất là việc các nước SNG trong Liên Xô cũ và các nước Đông Âu vứt bỏ hoàn toàn lý thuyết nói trên để thực hiện nền dân chủ pháp quyền, kinh tế thị trường hiện đại và  xã hội dân sự.

 Nguyên nhân khiến cho chủ nghĩa xã hội không thể vượt qua được chiếc cầu "quá độ" là vì nó mang nhiều khuyết tật không thể  khắc phục, trong đó có hai vấn đề lớn nhất:

Một là chế độ độc tài toàn trị  từng bước làm thoái hóa Đảng cộng sản cách mạng, vốn đặt mục đích  vì lợi ích người lao động, cuối cùng lại  trở thành Đảng quan liêu, đặc quyền đặc lợi, tham nhũng, đứng trên  nhân dân. Tình trạng này không thể khắc phục được, bởi như nhận định của lý thuyết gia chính trị Lord Acton " Quyền lực dẫn tới tha hóa. Quyền lực tuyệt đối thì tha hóa tuyệt đối." Các Đảng cộng sản đều kêu gọi đảng viên gần dân, dựa vào dân, nhưng mọi quyền lợi của họ đều do Đảng quyết định, cất nhắc, phân công cho nên  không có đảng viên nào thấy cần phải  dựa vào dân. Hơn nữa, những điều người dân đòi hỏi mà trái với Nghị quyết của Đảng thì  họ phải nhân danh Đảng bác bỏ, thậm chí trù giập, để bảo vệ quyền lãnh đạo tuyệt đối của Đảng. Nền dân chủ  xã hội chủ nghĩa  là "Đảng cử dân bầu".

Hai là chế độ xã hội chủ nghĩa triệt tiêu quyền sở hữu tài sản cá nhân tức là quyền tự do về kinh tế, khiến cho con người  mất động lực lao động sản xuất và sáng tạo. "Cha chung không ai khóc", "của chung là của chùa" khiến cho "làm thì nhác, chia chác thì siêng". Lê Nin cho rằng quyết định cuộc đấu tranh "ai thắng ai" là ở năng suất lao động bên nào cao hơn. Nhưng kết cục, năng suất lao động ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa đều thấp, hàng hóa  làm ra vừa ít, vừa kém chất lượng. Đời sống vật chất không được cải thiện, trong khi đời sống tinh thần không có tự do, nhân dân không thể mãi cúi đầu cam chịu.

Đảng cộng sản Việt Nam may mắn hơn các Đảng cộng sản khác ở 2 điều: Nhân dân ta nhạy bén, dám  phản ứng khi nhìn thấy  khuyết tật  lộ ra sau cải tạo xã hội chủ nghĩa;  Đảng có nhiều nhà lãnh đạo  biết lắng nghe nhân dân, âm thầm cùng họ "xé rào"(tức là vượt qua các nguyên lý xã hội chủ nghĩa), như Võ Văn Kiệt, Trần Phương, Đoàn Duy Thành, Nguyễn Văn Chính, Nguyễn Văn Hơn, Bùi Văn Giao… Nhờ đó, Đảng có thể  lãnh đạo cuộc đổi mới kinh tế của Đại hội 6 năm 1986. Với cách nói né tránh là "xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp", thực ra đó là xóa bỏ cơ chế xã hội chủ nghĩa của chủ nghĩa Mác-Lê mà nội dung đã trích dẫn ở trên. Chấp nhận nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó có thành phần kinh tế tư bản, nhưng né tránh tên cúng cơm để gọi là doanh nhân. Tuy nhiên về mặt chính trị thì hầu như 28 năm qua không có sự tự giác  đổi mới  đáng kể, chỉ vì sợ mất vị trí độc quyền toàn trị. Ngay trong khóa 6,  ông Trần Xuân Bách, ủy viên Bộ chính trị chỉ vì  đề nghị đổi mới chính trị song song với đổi mới kinh tế đã lập tức  bị sa thải!

Đại hội 7, Đại hội 8 vẫn  nhắc lại  đổi mới kinh tế là "điều kiện quan trọng để tiến hành thuận lợi đổi mới chính trị", nhưng lại "bác bỏ lợi dụng dân chủ, nhân quyền nhằm quấy rối về chính trị". Đại hội 9 rút ra 4 bài học đổi mới không nhắc gì đến đổi mới chính trị. Điều lạ lùng là  Đại hội này khẳng định "Con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta bỏ qua chủ nghĩa tư bản". Thật là cố bám lấy mớ lý luận giáo điều một cách hết sức nông nổi, dù rằng thừa nhận "tình trạng tham nhũng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng.", bởi vì không nhân thức được nguyên nhân suy thoái là do không đổi mới chính trị.  Đại hội 10, quyết định,"Phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, và phát triển văn hóa tinh thần"; đồng thời cảnh báo tình trạng suy thoái đa dạng và nghiêm trọng hơn khóa trước :"Suy thoái chính trị, đạo đức lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng. Nhiều tổ chức cơ sở Đảng thiếu sức chiến đấu." Trước thềm Đại hội 11, nhiều đảng viên, trong đó có nguyên ủy viên Bộ chính trị và Ủy viên Trung ương,  kiến nghị phải đổi mới chính trị. Ý kiến các đồng chí này  không được nghe, họ  còn bị quy chụp là suy thoái chính trị, "tự diễn biến"! Đại hội 11 nhắc lại "Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp…". Nhưng không nêu ra được những nội dung tự do, dân chủ của thời đại vào  lộ trình đổi mới chính trị. Các văn kiện vẫn tiếp tục khái niệm "mở rộng dân chủ" mà mấy mươi năm trước, Trần Xuân Bách đã bác bỏ:" Dân chủ không phải do lòng tốt của những người lãnh đạo muốn ban ơn cho dân, thấy thuận lợi thì mở rộng thấy bất tiện thì thu hẹp. Dân chủ không có chỗ cho những ai muốn lợi dụng". Thực hiện nghị quyết Đại hội 11,  Hội nghị TƯ 4 ra Nghị quyết xây dựng Đảng,  tìm biện pháp khắc phục tình trạng mà  một nhà lãnh đạo Đảng đã  chẩn đoán"Tình trạng suy thoái trong Đảng đã nặng lắm rồi, như căn bệnh ung thư đã di căn". Đáng buồn là biện pháp chủ yếu  để trị "ung thư đã di căn" được  HN TƯ 4 đề ra chỉ  là "tự phê bình và phê bình chân thành xây dựng." Nhà văn Vũ Tú Nam xót xa bình luận"Đảng như con cá ngúc ngoắc trong ao cạn!"

Đến đây,  đã có thể hiểu được vì sao Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đặt mục tiêu xã hội chủ nghĩa xa vời đến thế.  Ông đã thấy "Tham nhũng tổ chức thành đường dây chứ không phải từng người ăn mảnh….họ  đua nhau tham nhũng". Đảng viên có chức, có quyền, "một bộ phận không nhỏ"  là những "tư bản đỏ" nắm quyền vận hành nền kinh tế theo thứ "chủ nghĩa tư bản  hoang dã". Ông không thấy  không thể  nào "cải tạo xã hội chủ nghĩa" đối với họ. Vậy thì,  làm sao biết  hết thế kỷ này đã có chủ nghĩa xã hội  hay chưa! Ông  thấy bất lực trước thực tế, nhưng tiếc thay tại sao  vẫn cố buộc cả dân tộc phải đi  "đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh!"?  

 Thưa Tổng bí thư, xin được nhắc lại lời của Alexander Ivanovich Herzen, một nhà tư tưởng Nga lỗi lạc:" Mục đích mà xa bất tận thì không phải là mục đích nữa,- nếu anh muốn, chỉ là mánh khóe thôi; mục đích thì phải gần hơn, ít nhất cũng như tiền lương hay khoái cảm trong lao động….Cuộc sống không thỏa mãn với những ý tưởng trừu tượng, không chịu vội vã, cứ chậm chạp….Cho phép tôi được hỏi anh, do đâu mà anh cảm thấy thế giới bao quanh chúng ta lại vững chắc và trường tồn đến thế?".

 II – TỪ BẢN KIẾN NGHỊ 1 NGƯỜI KÝ,  ĐẾN  "KIẾN NGHỊ 72".

 Đầu năm 1991, trước thềm Đại hội 7, tình hình kinh tế đã có chuyển biến khá, nhưng đất nước chưa thoát khỏi khủng hoảng. Một số lão thành cách mạng họp nhau nhận diện cuộc khủng hoảng và bàn bạc tìm lối ra. Các cụ nhất trí giao cho ông  Nguyễn Kiến Giang, nguyên Phó giám đốc Nhà xuất bản Sự thật chấp bút. Đến tháng 3-1991 bản kiến nghị viết xong với tựa đề là "Khủng hoảng và lối ra". Các cụ họp lại  đọc, tất cả đều tán thành, nhưng chỉ có cụ Lê Giản, nguyên giám đốc Nha Công an đầu tiên đồng ý ký tên, số còn lại mỗi người nêu một lý do để từ chối ký tên ! Bởi tháng 3 năm 1990 ông Trần Xuân Bách đã bị kỷ luật vì những luận điểm ná ná bản kiến nghị này. Thế mới biết ở thời  ấy nỗi sợ hãi thật là ghê gớm. Trước tình hình đó, Nguyễn Kiến Giang đành xin phép các cụ  một mình ông ký tên và gửi cho Bộ chính trị!

Bản kiến nghị Khủng hoảng và lối ra dài hơn 17 trang giấy A4,  hơn 10.000 từ. Xin lược ghi những điểm quan trọng.

ĐẶT VẤN ĐỀ:

"Tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng và kéo dài là hiện thực cơ bản bao trùm toàn bộ đời sống xã hội nước ta không ai không thừa nhận….. Văn kiện Đảng gọi là khủng hoảng kinh tế – xã hội, nhưng thực chất của nó là thế nào? Nguyên nhân chủ yếu của nó? Có khả năng ra khỏi khủng hoảng hay không? Thoát ra bằng lối nào?

KHỦNG HOẢNG:

Đây là khủng hoảng toàn diện, khủng hoảng tổng thể của xã hội : kinh tế và xã hội, tinh thần và đạo đức, tư tưởng và chính trị. Khủng hoảng ở mỗi lĩnh vực vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của khủng hoảng ở các lĩnh vực khác"

Các quan hệ sở hữu  không phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, do đó vẫn tiếp tục kìm hãm và phá hoại những năng lực sản xuất xã hội. Rõ nhất là ở khu vực sở hữu nhà nước,  đang biến thành ổ chứa những bệnh tật hiểm nghèo: Tham nhũng, buôn lậu và lãng phí vô tội vạ…. Những phần tử thoái hóa biến chất trong bộ máy nhà nước móc ngoặc với những phần tử  lưu manh kết thành những mafia có thế lực khá lớn.

 Sự phân hóa xã hội không lành mạnh đang diễn ra…. Nghèo khổ lạc hậu cộng với bất công xã hội làm cho tình hình xã hội rất ngột ngạt.

Trong hoàn cảnh đó, khủng hoảng về tinh thần là không thể tránh khỏi. Chưa bao giờ con người sống chông chênh và lo lắng như bây giờ. Chưa bao giờ đạo đức xã hội bị xói mòn và băng hoại như bây giờ. Tội ác xảy ra ngày càng tăng, mang những hình thức nghiêm trọng hiếm thấy… Các giá trị tinh thần bị lật ngược: Người ngay sợ kẻ gian, người lương thiện có năng lực sống khổ cực hơn kẻ cơ hội;  xu nịnh trở thành "mốt" phổ biến.

Khủng hoảng có khía cạnh quốc tế của nó. Xu thế dân chủ hóa phát triển rộng rãi và mạnh mẽ. Trong khi đó nước ta vẫn sống trong thế cô lập với thế giới bên ngoài. Tính chất lạc hậu, lạc điệu của nước ta càng nổi bật lên,tạo thành một sức ép tinh thần lớn đối với nhân dân, nhất là lớp trẻ và giới trí thức..

Khủng hoảng ở nước ta hiện nay tập trung nhất ở khủng hoảng chính trị. Đảng duy trì địa vị độc tôn quá lâu, biến sự lãnh đạo của mình là một tất yếu khách quan trong đấu tranh giải phóng dân tộc thành chế độ đảng trị hiện nay là một áp đặt chủ quan… Đảng đã tự đánh mất uy tín vốn có. Trong điều kiện đó không thể nói tới một nhà nước pháp quyền. Xã hội gần như sống không có luật pháp. Chỉ cần nhắc tới một sự thật là đã phát hiện 10.000 vụ tham nhũng, nhưng chỉ đưa ra xét xử vài chục vụ mà cũng không xét xử đến nơi đến chốn.

LỐI RA:

Về mặt quốc tế: Quốc tế hóa kinh tế, tiến bộ khoa học – công nghệ, dân chủ hóa đời sống xã hội của nhân loại đang tạo cho chúng ta những điều kiện hòa chung vào trào lưu văn minh hiện đại.

Trong nước, những lực lượng ủng hộ đổi mới có khắp nơi, chỉ cần có sự lãnh đạo sáng suốt. Có 2 điểm cần làm rõ:

1- Bài học từ Đông Âu không phải là kìm giữ, bị động đối phó với dân chủ hóa và đổi mới chính trị mà phải là chủ động thực hiên dân chủ hóa và đổi mới chính trị từng bước vững chắc, triệt để.

2- Dân chủ hóa không đe dọa  sẽ tước mất vai trò lãnh đạo của Đảng. Chỉ có đảng nào không gắn bó với nhân dân, biến sự lãnh đạo của mình thành chế độ đảng trị và cố bám giữ lấy nó thì mới bị sụp đổ.

Chuẩn bị mảnh đất tốt cho sự phát triển lâu dài của đất nước trên nền tảng văn minh chung của loài người đã được khảo nghiệm là : Xã hội dân sự ( Nguyễn Kiến Giang dùng thuật ngữ "xã hội công dân"); kinh tế thị trường; nhà nước pháp quyền.

Phải tách Đảng ra khỏi các chức năng nhà nước, tách nhà nước ra khỏi chức năng quản lý, điều hành kinh tế,  mới có thể  vận hành có hiệu quả guồng máy kinh tế- xã hội.

Thay đổi quan hệ sở hữu: Chuyển sở hữu nhà nước thành sở hữu cổ phần và sở hữu tư nhân những phần còn lại. Đối với nông dân thực hiện quyền có (droit de possession) về ruộng đất lâu dài, kể cả quyền thừa kế và chuyển nhượng.

Hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng xây dựng xã hội dân sự, nhà nước pháp quyền sát chuẩn mực quốc tế.

Phát huy năng lực trí tuệ của giới trí thức. Tôn trọng tự do tư tưởng, tự do sáng tác, tự do báo chí. Xóa bỏ độc quyền chân lý là một yêu cầu bức bách về chính trị.

Chuyển quyền lực chính trị từ các cơ quan Đảng sang các cơ quan đại diện quyền lực nhân dân. Tuyên bố xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp quy định vai trò của Đảng là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội chỉ được thực hiện bằng phương pháp thuyết phục.

Mặt trận Tổ Quốc đứng ra triệu tập một Đại Hội quốc dân mới theo kinh nghiệm Đại hội quốc dân ở Tân Trào trước khởi nghĩa Tháng 8 1945 để bàn và quyết định Một chương trình khắc phục khủng hoảng.

Theo tinh thần hòa hợp, hòa giải, đoàn kết dân tộc, Đảng chỉ cần bảo đảm cho mình một nửa số đại biểu, hoặc một đa số tương đối trong Quốc hội.

Bản kiến nghị với những điều đặt ra hết sức thiện chí  đã  bị xếp xó. Do đó mà sau 22 năm,  tình trạng khủng hoảng toàn diện của đất nước đã tăng lên theo  cấp số nhân! Thực tế đất nước và  nguyện vọng bức xúc của  nhân dân đã hun đúc đưa tới sự ra đời của Bản kiến nghị 72. "Kiến nghị 72"  là liều thuốc mạnh chữa một bệnh trạng của Đảng độc quyền lãnh đạo "ung thư đã di căn", gồm các điểm quan yếu:

 - Theo nguyên tắc chủ quyền nhân dân, không định trước vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội thuộc một tổ chức chính trị.

 - Quy định quyền con người theo đúng tinh thần Tuyên ngôn về quyền con người năm 1948 và các Công ước quốc tế.

 - Đất đai thuộc nhiều quyền sở hữu: tư nhân, tập thể, cộng đồng, nhà nước.

 - Nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập.

 - Quyền phúc quyết Hiến pháp của nhân dân.

 -   Quân đội chỉ trung thành với Tổ quốc.

Trí tuệ và tầm vóc lớn lao của kiến nghị lần này  không phải ở con số gấp 72 lần, cũng không phải  15.000 lần tương ứng với số người đã hưởng ứng ký tên. Điều quan trọng là nó  mang sức mạnh  tỉnh thức của nhân dân, nhận ra cái tất yếu nhất thiết phải xảy ra! Một số nhà lý luận "phò chính thống"(theo cách nói của Nguyễn Kiến Giang) cố cãi chày cãi  cối rằng, 72 hoặc 15000 vẫn là thiểu số. Các ông không nhớ rằng, Kim Ngọc, người khai sinh khoán 10 là  rất  thiểu số!  Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1945 với 5000 đảng viên là  rất thiểu số! Vấn đề không phải là ít hay nhiều mà là tiềm năng có thể nhân lên nhanh chóng để chiến thắng, hoặc ngược lại thì, dù là một thực thể khổng lồ nhưng rất dễ bị thoái hóa, lụi tàn. Điều quyết định là ở chỗ   thuận theo lòng dân và hợp với xu thế tất yếu của thời đại.  

Tiếc thay, bản Hiến pháp thể chế hóa Cương lĩnh vừa được thông qua, chẳng những không đếm xỉa góp ý của nhân dân mà còn bác bỏ nhiều điều đã được chính Chính phủ gồm có  ủy viên Bộ chính trị, ủy viên BCH TƯ đã thảo luận và biểu quyết !

III  XIN CHỚ VỘI REO MỪNG, CŨNG ĐỪNG BUỒN TANG KHỐC!

Vô cùng  trân trọng sự âu lo của nhà văn Võ thị Hảo khi nghe bà đau đớn kêu lên, ngày thông qua Hiến pháp là ngày tang khốc của dân tộc! Xin đừng quá đau buồn, hãy nhìn kìa, sự tất yếu vẫn cứ đang lừng lững đi tới!

Biên soạn bản Hiến pháp này, người ta đã rất dày công, khéo léo chọn từng câu, tìm từng chữ để  hóa trang cho nó có bộ mặt dân chủ, nhân quyền. Trước kia, Stalin, Mao Trạch Đông không cần điều đó. Nói chi xa, Hiến pháp 1980 không cần điều đó. Nghĩa là thời đại đã dần dần buộc dù muốn toàn trị cũng  không được ngang nhiên, mà  phải khéo diễn đạt bằng ngôn từ tự do dân chủ!  Và  khi đã đóng vai ông Thiện thì không thể vung dùi cui bạt mạng được !

1 – "Viết hoa chữ Nhân dân"

Ngày 9-12 2013 họp báo công bố Hiến pháp, ông Phan Trung Lý chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội cho biết "Lần đầu tiên trong Hiến pháp, chúng ta viết hoa chữ "Nhân dân nâng lên một bước vai trò của Nhân dân, Hiến pháp trước hết khẳng định chủ quyền của Nhân dân".   

Viết hoa chữ nhân dân là học  cách nói của nhà văn Maksim Gorky khi ông nói "Con người viết hoa" để tỏ ý trân trọng con người lao động và tự do, chứ không phải ông viết hoa chữ con người trong các tác phẩm của mình! Tuy vậy,  không vì cách nói của ông mà làm cho nhà nước  xô viết Stalin tôn trọng con người, để nhờ đó mà tránh khỏi diệt vong. Các nhà ngôn ngữ sẽ cho ý kiến cách viết đó có đúng ngữ pháp hay không, nhưng vấn đề cần nói là liệu viết hoa tất cả chữ nhân dân trong Hiến pháp có tạo ra được điều kiện để  khẳng định  chủ quyền nhân dân trong thực tế? Xin nêu 2 điểm sau đây để cùng suy nghĩ:

- Khiếu kiện là một hình thức tỏ bày ý kiến rất cao so với  những kiến nghị  ở các cuộc họp, hoặc góp ý của cử tri. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói"Không ai thích thú gì đi khiếu kiện". Vậy thì tại sao người dân bắt đầu khiếu kiện suốt hơn 10 năm qua mà cho đến nay nguyên nhân chính  của nó là lời hứa "người cày có ruộng" từ  những năm 30 và trước cuộc cải cách ruộng đất ở thế kỷ trước, vẫn chưa được ghi nhận trong Hiến pháp này? Chắc chắn rồi đây, người nông dân sẽ không thể câm lặng!

  – Chủ quyền nhân dân nằm trong cái khung của  Cương lĩnh! Đại biểu Dương Trung Quốc khi trả lời chuyện ông  không bỏ phiếu tán thành Hiến pháp :"Khi đặt lên bàn thì phải nói là các nhà lãnh đạo Quốc hội cũng rất muốn mở rộng dân chủ để mọi người tham gia. Có lẽ cuộc thảo luận đó nó đã khá rộng rãi và nó đi quá giới hạn mà theo tôi quan niệm, là vượt quá xa Cương lĩnh của Đảng cộng sản cho nên về sau họ điều chỉnh lại". Như vậy  "chủ quyền nhân dân" không thể vượt qua cái khung mà  Đảng đặt ra trước đó!

2 – Ở các nước dân chủ, Hiến pháp là quyền lực tối thượng .

Các Đảng cầm quyền ở các xã hội dân chủ phải xây dựng cương lĩnh của Đảng sao cho nhân dân thấy rằng Cương lĩnh đó có chất lượng  thực thi Hiến pháp hiệu quả  nhất. Khi quyền con người  được Hiến pháp ghi nhận thì nhân dân cứ theo đó mà  thực hiện, không phải "theo quy định của pháp luật"để cắt xén vô lối. Ngay dưới chế độ thực dân Pháp, ngày 22-7-1938, Đảng cộng sản Việt Nam đã ra báo Dân chúng không xin phép tại số nhà 43- đường Hamelin (nay là Lê thị Hồng Gấm, quận 1, TP HCM). Chính quyền thực dân Pháp đã chấp nhận. Chẳng lẽ sau nửa thế kỷ đổ bao xương máu để giành độc lập, tự do, người Việt Nam thực hiện quyền tự do ngôn luận theo Hiến pháp lại bị trấn áp bởi Đảng cộng sản mà mình đã cưu mang? Chẳng lẽ người Việt Nam có một nhà nước "dân chủ gấp vạn lần hơn" như lời bà Phó chủ tịch nước, lại không thể tự do lập ra một cái Hội nhà văn cỡ như  Tự lực Văn đoàn  dưới nanh vuốt của thực dân Pháp? Nhà nước Việt Nam  vừa đắc cử  vào Hội đồng Nhân quyền thế giới với số phiếu cao tuyệt đối. Vậy thì thế giới nhìn vào Việt Nam, họ sẽ nghĩ sao? Và nhân dân Việt Nam  nhìn ra thế giới sẽ nghĩ sao về thân phận của mình?  Xin đừng quá bi quan! Một sự kiện có tính lịch sử : ngày 23 tháng 9-2013,  Diễn đàn xã hội dân sự đã ra đời với một Ban cố vấn gồm có  8 vị có uy tín đã công khai danh tính .  Diễn đàn xã hội dân sự  thành lập trang mạng  với bài vở nhiều chiều, phong phú, do Tiến sĩ Nguyễn Quang A và nhóm trị sự điều hành, qua 2 tháng có hàng triệu khách ghé  thăm. Sự kiện này có hai ý nghĩa: Đảng cầm quyền và Nhà nước Việt Nam muốn chứng minh quyền con người được ghi trong Hiến pháp là có thực; mặt khác, người Việt Nam cũng đã bắt đầu hiểu rằng quyền con người là do "tạo hóa ban tặng", không phải cúi xin và chờ  được cho. Rồi từ đó,  quyền dân chủ của công dân cũng sẽ được hiểu như thế, phải đòi hỏi  một chế độ bầu cử tự do để có một Quốc hội thực sự của dân, do dân, vì dân.

3- " Đảng phải như thế nào mới là Đảng lãnh đạo chứ!"

Để chứng minh Đảng cộng sản Việt Nam xứng đáng là Đảng lãnh đạo, TBT Nguyễn Phú Trọng nói: "Một Đảng gần dân, liên hệ mật thiết với nhân dân, bảo vệ quyền lợi của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Đảng như thế mới là Đảng lãnh đạo chứ!".  

Như vậy là từ nay nhân dân sẽ đòi: Không thể để cho  một ông Tổng bí thư Nông Đức Mạnh bất chấp việc Trung Quốc  xâm chiếm Hoàng Sa, ngang nhiên khẳng định Trường Sa, Biển Đông  là của họ, vẫn cứ sang Tàu cam kết đưa họ lên vùng đất Tây nguyên có ý nghĩa chiến lược về an ninh, để khai thác bô xít, tàn phá môi trường, đe dọa nguồn nước sông Đồng Nai,  bán alumina cho họ dưới giá thành, mà không bị gọi ra tòa! Từ nay, Đảng sẽ  phải chịu trách nhiệm về việc "kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo" ghi trong Hiến pháp thể chế hóa Cương lĩnh", nếu nó tiếp tục gây thất thoát cỡ Vinashin.  Đảng sẽ phải chịu trách nhiệm về việc từ chối nội dung nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập, nếu  nạn tham nhũng tiếp tục hoành hành  không thể ngăn chặn. Nhân dân phải có tiếng nói của mình khi câu "tình trạng tham nhũng diễn biến phức tạp, chưa ngăn chặn được" cứ lặp đi lặp lại từ nghị quyết Đại hội này sang Đại hội khác. Mới đây, ngày 13-12- 2013, Tổ chức Minh bạch Quốc tế xếp Việt Nam tham nhũng  đứng thứ 4  Châu Á, chỉ  khá hơn 3 nước đại tham nhũng là Bắc Triều Tiên, Apganistan, Somalia. Đảng sẽ phải chịu trách nhiệm, nếu  như năm 2014, Tổ chức Minh bạch thế giới lại tiếp tục có  đánh giá tương tự ?

Cái tất yếu sẽ đến một cách hòa bình như vậy. Trong xu thế hội nhập quốc tế không có điều gì bưng bít được, cũng không có điều gì bị kiêng kỵ  cho rằng chỉ phù hợp với Phương Tây.  Bởi ông cha ta ngày xưa đã dám cắt bỏ cái búi tóc mà theo văn hóa  truyền thống " cái tóc là gốc con người",  tức là các cụ  đã theo phương Tây đấy!

Lịch sử cho thấy thấy xu thế tất yếu  nhất thiết phải xảy ra,  không có thế lực nào  ngăn chặn được. Nhưng tùy hoàn cảnh, điều kiện,  nó sẽ đến nhanh hay chậm và với   hình thức nào. Con người có thể tác động để  tạo ra điều kiện tương ứng. Nếu các thế lực độc tài, bảo thủ điên cuồng ngăn chặn bằng vũ lực thì cái tất yếu sẽ đến cùng với gươm và súng. Đó là bài học Lybia, Syria. Tuy  không  cưỡng chế  nhân dân bằng vũ lực, nhưng lại cố chần chừ,  không chịu mau chóng cải cách chính trị thì, nó sẽ đến với cách mạng hoa cam, hoa nhài, như ở Ucraina. Dù không đổ máu, nhưng nó cũng gây xáo trộn, ngưng trệ sự phát triển đất nước . Sẽ rất may mắn nếu như đất nước có những  nhà cầm quyền sáng suốt cùng nhân dân cải cách chính trị, thực hiện tự do, dân chủ  thì "cái tất yếu" sẽ  đến với nụ cười và niềm vui hòa hợp, hòa giải. Đó là  cuộc Đổi mới kinh tế,( có thể gọi là  "cải cách một nửa"! ) của  Đại hội 6  ở Việt Nam và cải cách triệt để như Myanmar mới đây.  Cải cách  triệt để, toàn diện để đất nước không phải qua  cách mạng hoa cam, hoa nhài đang là tâm nguyện của người Việt Nam yêu nước. Có thể  tin rằng, cuối cùng  các nhà lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam hôm nay sẽ vận dụng tốt nhất  bài học từ Đại hội 6 của Đảng cộng sản Việt Nam để  đón "cái tất yếu" đang hòa bình đi tới với nụ cười hòa hợp, hòa giải, đại đoàn kết dân tộc!

Ngày 17-12- 2013

T.V.C.

* Ông Tống Văn Công nguyên là Tổng biên tập báo Lao động.

Nguyễn Thu Trâm : Thoái đảng, triển vọng mới cho quê hương

Nguồn danchimviet


thoai dang 1Trong những ngày qua, dư luận của người Việt trong và ngoài nước xôn xao trước hiện tượng thoái đảng, bỏ đảng của một số đảng viên đảng cộng sản Việt Nam. Nếu so sánh với trào lưu thoái đảng ở Trung Quốc với con số 100 triệu đảng viên đã công khai tuyên bố từ bỏ đảng cộng sản, thì số lượng những người Việt tuyên bố ly khai khỏi đảng cộng sản Việt Nam quả thực chỉ là một con số quá ư ít ỏi, ấy vậy mà đã tiêu tốn không ít giấy mực của các báo chí lề dân, cũng như khá nhiều thời gian bàn qua tán lại của nhiều người đang nặng lòng với quê hương, với đất nước và với tiền đồ của dân tộc.

Thực ra không phải ông Lê Hiếu Đằng là người đầu tiên ly khai khỏi đảng cộng sản, mà trước đó, từ những năm cuối thập niên 1980s và đầu thập niên 1990s cũng đã có nhiều đảng viên, từng giữ các trọng trách trong bộ máy quyền lực của nhà nước cộng sản như các ông Huỳnh Nhật Hải sinh năm 1943, ông Huỳnh Nhật Tấn sinh năm 1946, hai anh em ruột, là những người đã công khai từ bỏ đảng cộng sản vào cuối năm 1988, đồng thời hai ông Hải và Tấn cũng từ bỏ luôn những chức vụ đang đảm nhiệm kèm theo những tiềm năng rất lớn về quyền lực và quyền lợi:  Vào thời điểm đó, ông Hùynh Nhật Hải đang là Phó Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Thành phố Đà Lạt kiêm Thành ủy viên Thành ủy Đà Lạt, còn ông Huỳnh Nhật Tấn đang giữ chức vụ Phó Giám đốc Trường Đảng tỉnh Lâm Đồng kiêm Tỉnh ủy viên dự khuyết. Và một đảng viên kỳ cựu khác mà không ít người quen tên biết tuổi, cũng đã công khai tuyên bố từ bỏ đảng cộng sản vào cuối năm 2009 đó là nhà văn, Ðại tá quân đội cộng sản bắc Việt Phạm Ðình Trọng. Nhưng trong thực tế đã có khá nhiều đảng viên cộng sản khác âm thầm từ bỏ đảng mà không cần tuyên bố.

Trở lại với hai ông cộng sản nòi Huỳnh Nhật Hải và Huỳnh Nhật Tấn, điều gì đã khiến hai đảng viên cộng sản đầy tiềm năng của một gia đình có truyền thống cách mạng từ trước năm 1945 lại có quyết định cao cả và quả cảm, ly khai khỏi đảng cộng sản khi đang trên đà danh vọng và quyền lợi cho bản thân, cho gia đình, cho con cháu đang ở trong tầm tay?

Đây chúng ta hãy lắng nghe tâm sự của hai ông trong một dịp trải lòng với Bác Sỹ Phạm Hồng Sơn, Hội trưởng Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Và Tôn Giáo Việt Nam trong chuyến Nam du vào đầu tháng 12 vừa qua:

thoai dang 2Huỳnh Nhật Hải: "Có thể nói hai anh em chúng tôi đã được "nhuộm đỏ" từ bé. Chúng tôi đã có thiện cảm, tinh thần ủng hộ, và làm những việc có lợi cho những tổ chức của cách mạng như Việt Minh hay Mặt trận Dân tộc Giải Phóng miền Nam Việt Nam ngay từ khi còn rất nhỏ tuổi. Vì ba má tôi là một gia đình tư sản ủng hộ Việt Minh tại Đà Lạt từ trước năm 1945. Ba tôi là hội viên Công hội Đỏ và tham gia cướp chính quyền tại Đà Lạt vào năm 1945 và sau đó trở thành đảng viên bí mật của Đảng Cộng sản Đông Dương. Hai anh trai tôi là những người đi tập kết ra Bắc sau năm 1954. Một yếu tố nữa cũng làm cho chúng tôi ủng hộ Mặt trận là sự xuất hiện của quân đội Mỹ tại miền Nam. Sự xuất hiện đó làm cho những người như chúng tôi cảm thấy bị xúc phạm về chủ quyền dân tộc. Chúng tôi cảm thấy là miền Nam đang bị người Mỹ xâm lăng và cần phải chống lại họ và chính quyền thân Mỹ tại miền Nam."

Huỳnh Nhật Tấn: "Tôi còn nhớ trong lá đơn xin ra khỏi Đảng lúc đó tôi có viết một câu: "Tôi không tin ĐCSVN có thể lãnh đạo đưa đất nước đạt được những điều tốt đẹp như Đảng thường nói."

Huỳnh Nhật Hải: "Còn trong lá đơn của tôi viết sau ông em tôi một vài tháng, tôi nhớ đã viết là: "Tôi không còn động cơ để phấn đấu cho mục tiêu và lý tưởng của Đảng nữa." Nhưng thực sự trong thâm tâm thì cũng giống như ông em tôi đã nói ở trên. Tôi không tin ĐCSVN nữa. Đó là một quãng thời gian kéo dài khoảng 5-7 năm, thông qua những quan sát, tìm hiểu, trao đổi, bàn bạc và trằn trọc từ mỗi bản thân và gần như chỉ giữa hai anh em chúng tôi.

Huỳnh Nhật Tấn: Có thể nói chúng tôi đi đến sự bất tín vào ĐCSVN là dựa vào những gì chúng tôi thấy, chúng tôi gặp trên thực tế hơn là từ vấn đề lý luận. Đó chính là những chính sách về quản lý xã hội, điều hành kinh tế và việc tôn trọng các quyền tự do, dân chủ của người dân của ĐCSVN. Về quản lý xã hội, ĐCSVN đã không quản lý bằng pháp luật mà bằng sự tùy tiện, áp đặt, gần như hoàn toàn chỉ dựa theo các chỉ thị, ý muốn từ lãnh đạo Đảng. Ví dụ việc tịch thu nhà cửa, tài sản hay đưa đi "học tập cải tạo", thực chất là bỏ tù con người, đều không dựa trên pháp luật hay xét xử của tòa án. Điều hành kinh tế thì lúc đó chúng tôi thấy những chính sách rất kỳ cục và phản khoa học, ví dụ như có những chỉ thị là Đà Lạt phải sản xuất bao nhiêu rau hay các huyện khác phải sản xuất bao nhiều mì[i] mà không cần  biết khả năng và lợi thế về thổ nhưỡng, thói quen canh tác của người dân hoặc việc giao quyền lãnh đạo kinh tế không dựa vào chuyên môn, kinh nghiệm mà lại dựa vào thành phần giai cấp và sự gắn bó với Đảng. Về các quyền tự do dân chủ của người dân, càng ngày chúng tôi càng thấy thực tế lại tồi tệ và khó khăn hơn rất nhiều so với thời Việt Nam Cộng hòa. Ví dụ như khi hoạt động trước 1975, chúng tôi đã từng cho một số viên chức chính quyền đọc cả cương lĩnh của Mặt trận nhưng những người đó không coi chúng tôi là thù địch, họ coi việc khác biệt quan điểm là chuyện hết sức bình thường. Nhưng sau năm 1975 mọi thứ không như thế nữa, tất cả mọi hoạt động, kể cả trong tư tưởng, mà khác với quan điểm của ĐCSVN thì đều không được chấp nhận. Báo chí tư nhân, biểu tình, bãi công, bãi thị đã hoàn toàn bị cấm ngặt mặc dù những bất công, nhu cầu lên tiếng của xã hội hết sức bức bối. Có thể nói điều lớn nhất để chúng tôi nhận thức lại ĐCSVN là sự độc tài toàn trị dựa trên bạo lực và không tôn trọng những quyền căn bản của người dân.

Huỳnh Nhật Hải: Sau khi cùng tìm hiểu, trao đổi, bàn luận chúng tôi nhận thấy tình trạng mất tự do, phi dân chủ hay có thể nói là cuộc sống kìm kẹp, đau thương của nhân dân, của giới trí thức sau chiến thắng 30/04/1975 ở miền Nam hoàn toàn là sự lặp lại y nguyên tình trạng ở miền Bắc sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 – thời kỳ mà ông Hồ Chí Minh vẫn hoàn toàn ở trên đỉnh cao quyền lực.

…Và khi nhắc đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi cả hai ông đều được trở lại thành, được sum họp với gia đình, bạn bè và họ mạc, sau khi đoàn quân của đảng các ông đã cưỡng chiếm được toàn miền Nam, thì cả hai ông Huỳnh Nhật Hải và Huỳnh Nhật Tấn đều có chung một tâm trạng là BUỒN.

Huỳnh Nhật Hải: Buồn. Nếu không có cuộc chiến tranh tương tàn giữa hai miền trước 1975 thì dân tộc này không có cái bất hạnh, đau khổ như ngày hôm nay.

Huỳnh Nhật Tấn: Buồn. Một ngày quá buồn. Cái chiến thắng 30/04 chỉ đem lại một sự áp bức trên mọi phương diện cho nhân dân, đất nước và lại nặng nề hơn cả thời Pháp thuộc.

Và lý do mà cả hai ông Huỳnh Nhật Hải và Huỳnh Nhật Tấn đã từ bỏ đảng cộng sản khi đang còn trên đỉnh cao của danh vọng và quyền lực bởi cả hai đều đã nhận ra được lầm lỗi của mình qua những tâm sự đắng cay thế này:

Huỳnh Nhật Tấn: Tôi có lỗi với dân tộc. Chính cái hăng hái, nhiệt huyết của tôi đã góp phần dựng nên chế độ độc tài hiện nay, đã vô tình đem lại sự đau khổ hiện nay. Và nếu xét về những căn bản để bảo đảm tự do cho nhân dân và độc lập cho dân tộc thì tôi cũng đã vô tình góp công sức đưa những người mang danh là "cách mạng" nhưng thực chất là vì quyền lực tới phá bỏ một chế độ đã được xây dựng trên những căn bản về tự do, dân chủ và nhân bản tại miền Nam Việt Nam.

Huỳnh Nhật Hải: Bây giờ nhìn lại, con đường chúng tôi đã đi trước 1975 là một con đường sai lầm. Sự nhiệt huyết lúc đó của chúng tôi đã đem lại bất hạnh hơn là hạnh phúc cho dân tộc.

…Trở lại với trường hợp thoái đảng của ông Lê Hiếu Đằng, khác hẳn với bối cảnh ly khai khỏi đảng cộng sản của hai ông Hải và Tấn, Ông Lê Hiếu Đằng thoái đảng trên giường bệnh, khi biết mình đã gần đất xa trời, khi biết mình chắc chắn sẽ không còn nhận được chút ân sủng gì nữa của đảng, và điều đáng tiếc là ông Đằng vẫn chưa nhận ra tội lỗi của mình đối với đồng bào, với dân tộc khi đi theo cộng sản để mang lại đau thương, tang tóc cho quê hương cho nòi giống, thậm chí ông Đằng vẫn còn ngộ nhận hành động xâm lược miền Nam của cộng sản Bắc Việt là "Giải Phóng Dân Tộc" nên dẫu đã từ bỏ đảng nhưng vẫn chưa hề ăn năn: "Tôi tên Lê Hiếu Ðằng là đảng viên đảng CSVN, hơn 40 tuổi đảng. Nay tôi tuyên bố công khai ra khỏi đảng CSVN vì: Ðảng CSVN bây giờ không còn như trước (đấu tranh giải phóng dân tộc) mà đang suy thoái biến chất, thực chất chỉ là đảng của những tập đoàn lợi ích, trở thành lực cản cho sự phát triển đất nước, dân tộc. Ði ngược lại lợi ích dân tộc, nhân dân. Tôi xin xác định đây là quyết định của tôi".​… Và khi ngồi viết những lời này thì chúng tôi nhận được thông tin ông Lê Hiếu Đằng đã bị hôn mê sâu sau nhiều tháng dài điều trị tại bệnh viện. Chắc chắn là sự tồn tại của ông Đằng trên thế gian này chỉ còn tính bằng giờ, bằng khắc ngắn ngủi mà thôi. "Hổ tử lưu bì, nhân tử lưu danh": Vâng hổ chết để da, người ta chết để tiếng… Sinh ra và lớn lên ở miền Nam tự do, được hưởng thụ nền giáo dục khai phóng và nhân bản của Việt Nam Cộng Hòa với đầy đủ và trọn vẹn những quyền làm người mà Thượng Đế đã ban cho, nhưng như loài dơi không chấp nhận ánh sáng mà chỉ thích nghi với đời sống nơi tối tăm, u trệ, Lê Hiếu Đằng cùng một số nhân sỹ trí thức Miền Nam từng ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản đã chối bỏ ánh sáng của Tự Do, Dân Chủ của Miền Nam mà đi tìm sự tăm tối u mê nơi chế độ cộng sản và cũng chính Lê Hiếu Đằng cùng đồng đảng đã mang cái tối tăm u trệ và đau thương tang tóc cho quê hương, cho dân tộc. Chẳng biết sự quay đầu quá muộn màng của Lê Hiếu Đằng có giúp rửa đi phần nào những vết dơ tội lỗi của ông đối với người dân Nam, đối với chính thể Việt Nam Cộng Hòa hay không, bởi chắc chắn với những tội lỗi của ông và của những kẻ ăn cơm quốc gia mà thờ ma cộng sản, tuổi tên của ông và của đồng đảng sẽ phải lưu xú muôn đời. Chỉ mong rằng, những kẻ cùng thuyền cùng hội với Lê Hiếu Đằng sớm quay đầu trước khi quá muộn.

thoai dang 4Dù vậy, cũng phải khách quan mà thừa nhận rằng việc thoái đảng của ông Lê Hiếu Đằng ít nhiều đã tạo được hiệu ứng đối với một số đảng viên trẻ như tiến sỹ Phạm Chí Dũng và Nha Sỹ Nguyễn Đắc Diên… là hai đảng viên đã công khai từ bỏ đảng cộng sản với những tuyên bố mà ở một chừng mực nào đó cũng có thể giúp làm thức tỉnh lương tri của những người cộng sản, những người đang đặt quyền lợi của giai cấp, của bản thân lên trên quyền lợi của tổ quốc, của dân tộc, rằng: "Tôi chính thức từ bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam bởi tất cả những gì mà Đảng Cộng sản thể hiện vai trò 'lãnh đạo toàn diện' trong ít nhất một phần tư thế kỷ qua đã khiến cho tôi, cũng như nhiều đảng viên khác, đi từ thất vọng đến tuyệt vọng về lý trí lẫn tình cảm vì đảng Cộng sản hiện thời chỉ còn mang bóng hình và hơi thở của các nhóm lợi ích" (Tiến Sỹ Phạm Chí Dũng). Và "Khi vào đảng tôi đã từng thề, rằng tuyệt đối trung thành với đảng. Nay, tôi thà phản bội lời thề trung thành với đảng còn hơn phải theo đảng mà phản bội lại quyền lợi dân tộc, dân sinh, dân chủ, dân quyền mà lẽ ra dân tộc tôi phải được hưởng từ 38 năm về trước." (Bác Sỹ Nguyễn Đắc Diên). Hy vọng cùng với những tâm tư đó, những người con một thời lầm lạc của dân tộc sẽ nhận ra "con đường bác đi là con đường bi đát", mà sớm quay về để chung tay cùng cả dân tộc trong công cuộc Khai Dân Trí, Chấn Hưng Khí và Hậu Dân Sinh vì sự tồn vong của giống nòi Lạc Việt.

Mong lắm thay.

© Nguyễn Thu Trâm, 8406

© Đàn Chim Việt