Thứ Bảy, 28 tháng 6, 2014

VOA. GS Thayer: 'Việt Nam phải lên tiếng bây giờ nếu không sẽ mất cơ hội mãi mãi'

Nguồn VOA

27.06.2014
bởi Hoài Hương-VOA

Đây là một trường hợp phải lên tiếng bây giờ, nếu không sẽ mất cơ hội mãi mãi. Trung Quốc muốn tăng mức độ uy hiếp các nước ở Á Châu, bằng cách trừng phạt và áp lực các nước này, để họ đừng lên tiếng phản đối những gì mà Trung Quốc đang làm. Nếu ngoan ngoãn im lặng thì có thể làm ăn hợp tác với Trung Quốc, nhưng đây không phải là một quan hệ ngang hàng giữa hai quốc gia ngang nhau, mà phải trở về quan hệ giữa một nước lớn và chư hầu như thời phong kiến khi xưa.
Giáo sư Carl Thayer

​​Giáo sư Carl Thayer nói việc Trung Quốc điều máy bay quân sự tới gần giàn khoan có thể là để thử nghiệm trước khi tuyên bố một khu phòng không trên Biển Đông. 

Một giới chức hàng hải cao cấp của Việt Nam tiết lộ rằng cho tới thời điểm này, hơn 27 tàu của lực lượng kiểm ngư Việt Nam đã bị tàu Trung Quốc cố ý đâm va hơn 100 lần, gây thiệt hại nặng cho các tàu kiểm ngư Việt Nam.

Trong một cuộc họp báo của Bộ Ngoại giao Việt Nam chiều hôm qua, Phó Cục Trưởng Cục Kiểm Ngư Việt Nam Hà Lê còn cho biết là từ khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế Việt Nam, các tàu của Trung Quốc thường xuyên có hành động nguy hiểm để "tấn công và uy hiếp" nhân viên của lực lượng kiểm ngư và cảnh sát biển Việt Nam, ngăn cản không cho họ thi hành phận sự, và vì những hành động này mà từ hồi đầu tháng 6 tới giờ, 15 nhân viên của lực lượng kiểm ngư Việt Nam bị thương.

Trang mạng Đời sống Pháp luật.com đăng tải nội dung của buổi họp báo, nêu lên những vụ điển hình gần đây nhất, xảy ra hôm 17 tháng 6, 18 tháng 8, và đáng chú ý nhất, theo bài báo là vụ xảy ra hôm 23 tháng Sáu, khi tàu kiểm ngư Việt Nam mang số hiệu KN-951 đang thi hành nhiệm vụ thực thi pháp luật trên biển, thì bị 4 chiếc tàu Trung Quốc bao vây, đâm va, gây hư hỏng nặng.

Phía Việt Nam cáo buộc rằng hành động hung hăng nguy hiểm đó của Trung Quốc cho thấy một sự tính toán trước, cố tình đâm vào chiếc tàu kiểm ngư 951 của Việt Nam để gây thiệt hại nặng cho tàu này.

Tin của VnExpress hôm nay tường trình rằng Trung Quốc đã điều thêm máy bay chiến đấu tới giàn khoan HD 981. VnExpress nói rằng chiều ngày 26 tháng từ 6 giờ tới 7g 40, Trung Quốc đã cho máy bay trinh sát bay ba lượt qua khu vực các tàu Việt Nam, và từ 8 g 45 tới 8g 55, lực lượng kiểm ngư phát hiện hai chiến đấu cơ Trung Quốc lượn ở độ thấp cách giàn khoan 12 hải lý.

Nói chuyện với Ban Việt ngữ –Đài VOA, giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về Việt Nam, từng làm việc cho Học viện Quốc phòng Australia, nhận định về những diễn biến này và những vụ đụng độ trên biển giữa tàu Việt Nam và tàu Trung Quốc hồi gần đây.

Giáo sư Thayer nói: "Dường như đây là dấu hiệu cuộc tranh chấp đang được quân sự hóa. Trung Quốc đã điều nhiều phi cơ, phần lớn là phi cơ dân sự nhưng cũng có các máy bay quân sự khi nước này băt đầu triển khai giàn khoan dầu Hải Dương 981, và từ đó đã có nhiều máy bay quân sự khác được báo cáo trong khu vực này. Gửi thêm máy bay tới khu vực chỉ quân sự hóa cuộc tranh chấp, nhưng điều đó cho thấy là có thể Trung Quốc đang thử nghiệm khả năng của họ để thiết lập một khu phòng không, buộc các máy bay khác phải báo cáo khi bay ngang qua một vùng không phận giới hạn trên Biển Đông, từ phía Nam đảo Hải Nam và đảo Hoàng Sa, rồi hướng về phía Tây dọc theo bờ biển tới khoảng Đà Nẵng."

Nhận định về phản ứng có phần không mấy quyết liệt của giới lãnh đạo Việt Nam trước những hành động leo thang và đụng độ trên biển hồi gần đây, Giáo sư Thayer nói:

"Dựa vào những báo cáo đến được tay tôi, thì Bộ Chính Trị hoàn toàn chia rẽ về liệu có nên ra mang vấn đề ra trước tòa án để thách thức Trung Quốc, hay là cứ tiếp tục phản ứng một cách không ồn ào. Giới lãnh đạo Việt Nam rất sợ rằng nếu họ tỏ thái độ quyết liệt hơn phản đối Trung Quốc, thì Trung Quốc sẽ lại leo thang vấn đề lên hơn bây giờ nữa, và trừng phạt Việt Nam phải chịu những  hậu quả nặng nề hơn nữa, và có thể phơi bày ra trước ánh sáng công luận Việt Nam rằng giới lanõn đạo Việt Nam không có khả năng hành động một cách cương quyết. Đó là thực tế của tình hình. Quả thực, chính phủ Việt Nam không có khả năng hành động một cách cương quyết."

Giáo sư Thayer nói trong giới lãnh đạo hàng đầu trong Bộ Chính Trị Việt Nam, sự lo sợ cao tới mức khi Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ John Kerry mời Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh sang Washington để thảo luận về vấn đề Biển Đông, Bộ Chính Trị đã quyết định phái một Thứ Trưởng Ngoại giao đi thay vì ông Phạm Bình Minh, bởi vì Hà nội sợ phái Bộ trưởng Ngoại giao tới Washington sẽ là hành động quá nhạy cảm vào thời điểm này, và điều đó cho thấy là có một số ủy viên Bộ Chính Trị muốn hòa hoãn, và nhượng bộ Trung Quốc, với hy vọng sẽ có thể giải quyết được cuộc tranh chấp này.

Được hỏi liệu hòa hoãn quá có làm cho tình hình xấu đi hơn nữa hay không, Giáo sư Thayer trả lời:

"Vâng, theo tôi đây là một trường hợp phải lên tiếng bây giờ, nếu không sẽ mất cơ hội mãi mãi. Trung Quốc muốn tăng mức độ uy hiếp các nước ở Á Châu, bằng cách trừng phạt và áp lực các nước này, để họ đừng lên tiếng phản đối những gì mà Trung Quốc đang làm. Nếu ngoan ngoãn im lặng thì có thể làm ăn hợp tác với Trung Quốc, nhưng đây không phải là một quan hệ ngang hàng giữa hai quốc gia ngang nhau, mà phải trở về quan hệ giữa một nước lớn và chư hầu như thời phong kiến khi xưa. Trung Quốc muốn mình là số Một, các nước khác phải thừa nhận điều đó, và không muốn các nước khác liên kết với các thế lực bên ngoài khác."

Mới đây Ủy viên Quốc Vụ Viện Trung Quốc đã đến Việt Nam, và đòi hỏi Việt Nam với thái độ khá gay gắt phải ngưng leo thang những lời tố cáo Trung Quốc về vấn đề tranh chấp Biển Đông.

​Giáo sư Thayer khuyến cáo rằng nếu các nước nhỏ tiếp tục nhượng bộ, Trung Quốc dần dà sẽ thực hiện ý định chiếm thêm biển đảo, xây cất trên biển, và tất cả những gì mà Bắc Kinh muốn làm, và càng để lâu sẽ càng khó giải quyết một cách có lợi cho các nước nhỏ hơn.

Thứ Sáu, 27 tháng 6, 2014

Phạm Ngọc Cương : TUYÊN BỐ CỦA QUỸ NGÒI BÚT TỰ DO

Nguồn anhbasam

26-06-2014

Chế độ cai trị độc đảng chuyên chế của nhà cầm quyền Việt Nam đã gây ra những tổn thất vô cùng nghiêm trọng trong lịch sử Việt Nam gần một thế kỷ qua.

Con thuyền Việt Nam luôn bị những kẻ cầm lái tự phong dẫn vào thác ghềnh, chịu đựng muôn vàn phong ba bão tố, trồi sụt giữa các con sóng dữ. 

Đảng Cộng sản Việt Nam không ngớt khoe khoang về công lao giành độc lập và thống nhất đất nước, nhưng chưa giai đoạn nào trong lịch sử dân tộc ta bị lâm vào rất nhiều cuộc chiến với đủ loại kẻ thù, tổn thất núi xương sông máu mà vẫn liên tục mất đất, mất đảo, mất biển. 

Đảng Cộng sản Việt Nam không ngưng nghỉ rao giảng về chủ trương đại đoàn kết, hoà hợp dân tộc, nhưng không làm gì thực tế theo hướng đó, làm lòng dân ngày càng ly tán, đau lòng nhất là việc nhiều triệu người phải bỏ nước ra đi với nhiều sinh mạng bỏ mình trên đường tìm tự do.

Vay mượn hệ tư tưởng bạo lực và không tưởng Mác-Lê-Mao, đảng Cộng sản Việt Nam không làm được gì hơn là làm thui chột và kiệt quệ sinh lực tự cường của một dân tộc giàu truyền thống hào hùng bất khuất.

Nhằm củng cố quyền lực cai trị, đảng Cộng sản Việt Nam một mặt hô hào toàn dân đoàn kết để "Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội", mặt khác tiến hành mọi quỷ kế  "cải cách ruộng đất", "cải tạo tư sản tư doanh", ra luật "trừng trị các tội phản cách mạng", "tập trung cải tạo các phần tử có hại cho an ninh"… với mục đích làm cạn kiệt sức dân. Khi đã kéo đất nước sa vào tình trạng phá sản về kinh tế thì đảng này vội vã sáng tạo ra cái "đổi mới" nửa vời, kết quả làm cho đất nước bị lê lết hết từ khủng hoảng này đến khủng hoảng khác, về mọi mặt kinh tế cũng như xã hội.

 Nhìn chung, dưới sự cai trị "vô cùng sáng suốt" và "duy nhất đúng đắn" của đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta liên tiếp hụt hơi và tụt hậu so với bước tiến chung của các nước trong khu vực cũng như của cộng đồng nhân loại.

Trong bối cảnh đó, những kẻ cầm quyền tự phong lại rất mực trung thành với đường lối làm chư hầu "bốn nghe lời" và "mười sáu vâng dạ" của Tàu để giang sơn gấm vóc bị lệ thuộc, xâm hại và thôn tính.

Xét rằng một đảng mà Cương lĩnh chính trị từ những năm 30 của thế kỷ trước là người cầy có ruộng mà tệ nạn dân oan mất đất đang hàng ngày diễn ra trên khắp nước, từ Ải Nam Quan tới Mũi Cà Mau.

Xét rằng một đảng luôn tuyên thệ là lực lượng tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam mà chỉ làm cho giai cấp đó ngày càng bần cùng và tha hoá.

Xét rằng lợi ích cao cả nhất của các cơ quan công quyền quốc gia là phục vụ và thoả mãn tối đa các nhu cầu chính đáng của dân chúng, nhưng trong thực tế lại  hành hạ, bóc lột, và đàn áp dân chúng.

Xét rằng bản chất của nhà nước là không chỉ xác lập và tôn trọng các quyền thiêng liêng mà tạo hoá đã ban tặng là "quyền bình đẳng", "quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc" mà còn phải kiến tạo tối đa các cơ chế vận hành xã hội để các quyền đó sớm hội tụ, đâm hoa và kết trái cho từng công dân.

Một chế độ ăn trên ngồi trốc trên đầu trên cổ dân chúng, hàng ngày hàng giờ áp đặt sự thống trị lưu manh, hà khắc và tham nhũng trên toàn cõi Việt Nam, không một lần được toàn dân trực tiếp bầu ra, không thể là một chế độ của dân và  vì dân.

Một cơ cấu mục rỗng mua quan bán chức tràn lan từ trên xuống dưới một cách hệ thống không thể là một chính quyền từ dân.

Hành xử của những kẻ cầm quyền trong đảng Cộng Sản Việt Nam luôn thể hiện rõ bản chất của chúng: dê cừu với giặc, lang sói với dân.

U mê, bạc nhược trong quan hệ với Trung Quốc bao nhiêu thì đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước tay sai của nó lại sắc bén, quyết liệt và tàn bạo trong đàn áp dân chúng bấy nhiêu! 

Liên tục bắt bớ người biểu tình chống Trung Quốc xâm lược, tống giam các blogger dám lên tiếng trước những việc làm sai trái của chế độ, hàng ngày hàng giờ nhà cầm quyền đang ghi thêm tội ác mới với nhân dân Việt Nam.

Căn cứ cách hành xử mang tính truyền thống của nhiều triều cộng sản, nhân dân Việt Nam đã quá hiểu rằng không có hy vọng gì để họ tự phủ định, tự chuyển đổi, hoá thân và thăng hoa. Bộ máy độc tài đảng trị ngày nay chỉ tồn tại trong tình thế câu giờ, sử dụng tối đa hiệu suất của cỗ máy quyền lực còn tậm tịt chạy được trong buổi hoàng hôn cộng sản, nhằm vét nhẵn tài sản quốc gia cho gia đình và phe nhóm.

Mặt thật của đảng Cộng sản Việt Nam hôm nay là phản dân, hại nước.

Bản án mà nhà cầm quyền Hà Nội tự dệt ra cho họ đã quá dầy và nặng, vượt mọi chịu đựng của dân tộc. Trước sự thật đang diễn ra trong lịch sử cận, hiện đại của Việt Nam, không một công cụ tuyên truyền lừa bịp và dối trá nào có thể che đậy. 

Nếu mỗi người Việt Nam hôm nay không thức tỉnh nhanh chóng và khẩn trương hành động, thì quán tính đen tối của nhà cầm quyền cộng sản sẽ còn tiếp tục, với mức độ khẩn trương hơn, huỷ diệt toàn bộ những gì làm nên dân tộc này, nghiền nát tương lai của mỗi người Việt Nam không còn Tổ quốc.

Là những ký sinh trùng bám trên đầu, trên cổ nhân dân Việt Nam, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đang tranh thủ hút lấy chất dinh dưỡng và năng lượng từ các tế bào Việt, đồng thời bơm độc tố và các chất cặn bã vào trong cơ thể Việt, gây cho quốc gia đủ loại bệnh cấp tính, là trở lực lớn nhất cho sự phát triển khoẻ mạnh của giống nòi.

Vì vậy chúng tôi long trọng tuyên bố phủ nhận sự cai trị của đảng Cộng sản Việt Nam, cũng như nhà nước tay sai của nó. Chưa hề có và không bao giờ có hai phe "đảng quyền" và "chính quyền " như người ta muốn nhân dân mờ mắt trong hi vọng ở sự chuyển biến nền cai trị chuyên chế sang dân chủ.

Để tồn tại, chính thể độc tài đảng trị Việt Nam trước sau như một dùng hai gọng kìm kẹp cổ dân chúng: 1/tuyên truyền bịp bợm, dối trá, nhằm tẩy não để ngu hoá dân chúng; 2/gieo rắc khủng bố và trấn áp, tạo nên nỗi sợ hãi bao trùm toàn xã hội. Tháo được gọng kìm về tư tưởng là điều kiện tiên quyết dẫn tới vô hiệu hoá cả hai gọng kìm mà lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam đang xiết vào cổ nhân dân Việt Nam.

Chúng tôi kêu gọi những đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam hãy nhanh chóng rời bỏ đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên nhân của mọi nguyên nhân làm cho đất nước ta lâm nguy trước tiền đồ mất nước đen tối, làm cho dân tộc ta trở nên suy nhược, đớn hèn, mất hết sức chiến đấu để tồn tại như cha ông ta từng chiến đấu. Người Việt yêu nước chống lại sự tàn bạo hèn hạ của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, nhưng hết lòng ủng hộ các đảng viên thức tỉnh.

Cũng như thế, người Việt yêu nước chống chính sách bá quyền của bọn đầu lĩnh Trung Nam Hải chứ không chống nhân dân Trung Quốc.

Chúng tôi kêu gọi mỗi người con của dòng giống Lạc Hồng hãy bằng tất cả khả năng, và cơ hội có được, cùng nhau tìm ra và thực hành mọi phương án khả thi đặng xoá bỏ đến tận gốc sự cai trị của đảng Cộng sản Việt Nam.

Hãy cùng thắp sáng lên ngọn đuốc của tư tưởng tự do, chính nghĩa, công lý và lương tri.

Hãy tự thay đổi và giúp người khác cùng thay đổi.

Chúng tôi trân trọng thông báo Quỹ Ngòi Bút Tự Do ra đời với mục đích toàn tâm toàn ý ủng hộ mọi tiếng nói dũng cảm đấu tranh cho sự thay đổi và đa dạng hoá tư duy.

Tất cả những tiếng nói với mục tiêu "nâng dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh" bị nhà cầm quyền Hà Nội đàn áp, bắt giữ và giam cầm đều đáng được lắng nghe, cổ vũ, trân trọng và nhiệt thành ủng hộ.

Quỹ Ngòi Bút Tự Do sẽ trợ giúp và vinh danh những cá nhân và tổ chức có đóng góp tích cực vào việc khai mở dân trí, lên tiếng tranh đấu không mệt mỏi vì quyền của mỗi người Việt Nam phải được sống trong một nước Việt Nam thực sự bình đẳng về quyền làm người, dồi dào tự do, dân chủ thịnh vượng, trong một nền chính trị cạnh tranh đa nguyên và đa đảng, trong một nhà nước triệt để pháp quyền, trong một môi trường xã hội công bằng, lành mạnh, hừng hực khí thế phát triển sánh vai các chuẩn mực của nhân loại văn minh hôm nay.

Chương trình hành động cụ thể của Quỹ sẽ được công bố theo quá trình hoạt động. Mọi liên lạc xin gửi về theo email: ngoibuttudo@yahoo.com; hoặc freedomofexpression0123@gmail.com

Độc tài nhất thời có thể dập được vài đốm lửa, nhưng họ không thể dập được hàng triệu bó đuốc được thắp lên liên tục, vì chính nghĩa, vì sự trường tồn và hùng mạnh của dân tộc Việt trên giang sơn đau thương và thiêng liêng này.

Chúng tôi đặt trọn niềm tin vào nội lực dân tộc ta. Một dân tộc chưa từng khuất phục, hoàn toàn có khả năng chế ngự và hoá giải bất kỳ thù trong giặc ngoài nào.

Nhiều đốm lửa tụ lại sẽ ra nhiều bó đuốc. Nhiều bó đuốc càng to, càng sáng thì nhân dân sẽ nhanh chóng thức tỉnh và đứng dậy.

Khi chúng ta cùng mở miệng, ấy là lúc chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam sẽ cáo chung nhanh chóng đến không ngờ!

Sự thay đổi phải đến và đang đến từ chính mỗi người dân Việt hôm nay!

26/06/2014

Thay mặt Quỹ Ngòi Bút Tự Do

Phạm Ngọc Cương

Trần Kỳ Trung : DỰ PHIÊN XỬ PHÚC THẨM TRƯƠNG DUY NHẤT – Ghi chép

Nguồn trankytrung

Ảnh chụp qua màn hình


    Nguyên (1) điện cho mình: " Ra sớm nhé! Trước 6h30, Phượng đã xin được cho ông  và tôi cùng anh Lợi (2) vào dự phiên phúc thẩm của Nhất rồi. " Thế là hôm trước vội chuẩn bị áo quần cho tươm tất, làm hết mọi việc vợ nhờ, rồi để sáng hôm sau, mới bảnh mắt mình phóng ô tô ra Đà Nẵng.

         Đến trước cổng tòa Phúc thẩm, mình thấy Phượng , vợ của Nhất cùng con gái và luật sư Trần Vũ Hải đã đứng chờ. Ở đây mình gặp Nguyên cùng anh Lợi. Người dự cũng không đông, chỉ lèo tèo vài mống, việc này mình không ngạc nhiên. Đang mùa World Cup, thức cả đêm, còn sức đâu mà đến dự. Lại có người nói, y án, đến làm gì! Mình không hiểu họ lấy tin này ở đâu hay từ vụ án Phạm Viết Đào rồi suy diễn. Có một điều giống phiên sơ thẩm lần trước, là đông công an quá, công an ngồi trong quán cà phê,  dọc ngã tư, cạnh hàng rào tòa phúc thẩm… Mình nghĩ có cần đông công an thế không ? khi chỉ xử một mình Trương Duy Nhất, mà tội trạng của Nhất chỉ là cái tội: " dám nói", một cái tội không động đến lông chân của một ai đó, nếu như người đó không muốn nghe.

             Qua cổng vào tòa án, y như qua cửa kiểm tra an ninh sân bay. Máy ảnh, điện thoại, máy ghi âm… phải bỏ lại, trình chứng minh thư cho người gác cổng xem có đúng họ tên với họ tên đã đăng ký xin vào dự không? Rồi qua cửa kiểm tra an ninh, nếu nghi ngờ có mang vật lạ, một người công an nữa sẽ đến kiểm tra. Đây là lần đầu tiên được trực tiếp dự một phiên phúc thẩm, xử người " bất đồng chính kiến" hơn nữa, mấy người công an làm nhiệm vụ kiểm tra an ninh khuôn mặt lạnh như tiền, ít nói, nguyên tắc… làm cho mình hơi căng thẳng. Nhưng phút căng thẳng này cũng qua nhanh, vì mọi thủ tục mà tòa án yêu cầu đối với người đến dự, mình, Nguyên và anh Lợi đều đáp ứng gọn, đủ.

         Cũng tưởng sẽ vào được phòng xử án để nghe Nhất , tòa, luật sư tranh tụng, không ngờ…! Những người có trách nhiệm của tòa Phúc thẩm mời mọi người đến dự vào phòng báo chí, xem xử án qua một màn hình lớn. Mình nhìn quanh, cũng chỉ thấy có một vài phóng viên một số tờ báo quen mặt, rồi thì… đông công an.

       Công an đông, thái độ vui, bình thản, có một vài người mặc áo giáp chống đạn, đội mũ sắt, đôi ba người cầm cái gậy ( dùi cui) đi đi, lại lại tung tẩy, chào người này, hỏi người kia… có mấy nữ công an mặc thường phục, nét mặt xinh, duyên dáng… gần như có cảm tưởng họ không để ý đến ai. Ây vậy một lần Nguyên vô ý khẽ để hai chân lên ghế trước, lập tức một người công an trẻ đến nhắc: " Anh bỏ chân xuống!". Nguyên chấp hành nghiêm túc.

        Khi phiên tòa bắn đầu xử, màn hình hiện lên khung cảnh bên trong, Nhất bị còng tay, ngồi hai bên là hai người công an. Khi thẩm phán Nguyễn Văn Bường, chủ tọa phiên tòa tuyên bố phiên tòa phúc thẩm xử Trương Duy Nhất bắt đầu, mình thấy mọi người trong phiên tòa đều đứng lên, rồi lại ngồi xuống. Duy chỉ có Nhất được tháo còng đứng để nghe chủ tọa phiên tòa tiến hành tố tụng. Thái độ, nét mặt của Nhất bình tĩnh tự tin, ánh mắt lúc nào cũng nhìn thẳng. Cũng như bao lần khác, tòa hỏi lý lịch, rồi đọc cáo trang…tiếng truỳền qua loa rõ, màn hình hiện hình rõ nét. Mình yên tâm, Nguyên ngồi cạnh cũng yên tâm, như vậy tuy ở bên ngoài, nhưng với cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại như thế này có thể theo dõi từ đầu đến cuối phiên tòa. Thẩm phán đọc cáo trạng của Nhất giọng rất to, khúc chiếc, rõ ràng ai cũng nghe thấy nhưng đến khi tòa hỏi Nhất " Anh có nghe rõ bản cáo trạng không ?" . Nhất trả lời: " Bị cáo nghe rõ nhưng bị cáo không đồng ý một số ý trong bản cáo trạng, như…" thì tự nhiên loa tắt tiếng, trên màn hình chỉ thấy miệng của Nhất  lên xuống, mở ra, thu lại… tuyệt nhiên mọi người ngồi cùng xem với mình không biết Nhất đang nói gì? Có lẽ do trục trặc kỹ thuật!!! Một lúc sau, tự nhiên lại nghe tiếng của thẩm phán : " Được rồi, mọi yêu cầu của anh chúng tôi ghi nhận, anh nghe tòa hỏi tiếp đây! " Rồi ông thẩm phán lại hỏi, đại ý, những việc làm như vậy, Nhất có thừa nhận đúng với cáo trạng không? Nhất trả lời thì… không nghe được vì…trục trặc kỹ thuật!!! Rồi đến lời bào chữa của luật sư Trần Vũ Hải, lúc nghe được, lúc thì không? Chỉ thấy hình ông giơ tay chỉ chỗ này, chỉ chỗ kia, rồi cúi xuống đọc. Mình chú ý một đoạn hình, may có cả tiếng lẫn hình khi luật sư Trần Vũ Hải đang vận dụng các điều khoản trong bộ luật hình sự để chứng minh Nhất không phạm tội thì thấy tiếng ông Thẩm phán Bường cắt ngang: " Những điều đó đề nghị luật sư không trình bày, chấm dứt tại đây, luật sư trình bày sang điều khác đi…còn tôi đề nghị thái độ luật sư cần nghiêm túc, nếu còn như vậy tôi sẽ yêu cầu luật sư ra khỏi phòng xét xử". Nét mặt luật sư Trần Vũ Hải nhẫn nhục một cách tội nghiệp rồi luật sư trình bày… Lại không nghe được tiếng vì… trục trặc kỹ thuật!!! Trên màn hình mình thấy hình ảnh đôi ba lần một anh công an trẻ đến ngăn luật sư Hải đừng đọc một điều gì đó trong bài viết mà luật sư đang đọc giữa tòa.

         Nghĩa là….

         Mình, Nguyên, anh Lợi cùng một số người khác được vào tòa phúc thẩm xem xử Trương Duy Nhất nhưng… thực trên thực tế, chiếm gần hết thời gian là xem " Phim câm" Nguyên nói với mình: " Nên đào tạo phòng viên báo chí, truyền hình nước mình thêm bộ môn khẩu ngữ, nghĩa là nhìn miệng  mấp máy biết họ đang nói gì.". Còn mình lại nghĩ :"… Bên trong cứ xử kín Trương Duy Nhất không cho ai vào dự còn bên ngoài với phòng đẹp, thoáng mát, màn hình hình rõ như thế này, tòa phát lại các trận của World Cup tối qua cho tất cả mọi người tới xem, người đến xem chắc chắn sẽ đến rất đông. Rồi chỉ thị cho báo chí, đài, ti vi… ghi lại hình ảnh này, tuyên truyền với dư luận trong và ngoài nước rằng  phiên tòa được " xét xử  công khai có đông người đến dự". Thế lại hóa hay! ".

        … Phiên tòa kết thúc chóng vánh, từ lúc bắt đầu diễn ra đến lúc kết thúc phiên xử phúc thẩm Trương Duy nhất chỉ gần hai tiếng đồng hồ. Có nhiều lý do, rõ nhất hễ Luật sư trình bày điều gì, thẩm phán đều ngăn lại: " Điều này tòa đã biết, luật sư không cần trình bày." Còn một điều nữa, tòa cho phép Trương Duy nhất nói lời cuối cùng,trước khi tuyên án hai năm tù giam, y án sơ thẩm. Nhưng thật lạ, khi Trương Duy nhất định nói, lại bị tòa ngăn lại, không cho nói!!!

         Nhất lắc đầu nhẹ, nở một nụ cười… chẳng biết tả thế nào!

         Cùng lúc đó có hai người công an đến áp giải Nhất đi ra ngoài, thấy rõ tấm lưng của Nhất đẫm mồ hôi.

        Trên màn hình, mình và mọi người không nghe thấy tiếng, nhưng thấy hình con gái của Nhất, sinh viên năm cuối một trường đại học ở Đà Nẵng đứng lên nói to một điều gì đó như quát vào mặt các quan tòa.

         Mình không hiểu.

         Mình gặp Phượng, vợ Nhất ngoài cổng, hỏi: " Lúc này con gái em nói điều gì thế ?".

         Phượng trả lời:

         - Cháu nói: " Bố tôi là người yêu nước tại sao các ông lại bắt giam?".

===

(1) – Phạm Xuân Nguyên – Nhà phê bình văn học.

(2) – Thái Bá Lợi – Nhà Văn

BBC. Rủi ro gì từ 'đặc khu kinh tế' Vũng Áng?

Nguồn BBC

Cập nhật: 09:46 GMT - thứ năm, 26 tháng 6, 2014

Giới quan sát nói khu kinh tế Vũng Áng có ý nghĩa quốc phòng quan trọng

Giới chuyên gia cho rằng Việt Nam sẽ đối mặt với những nguy cơ tiềm ẩn nếu phê chuẩn dự thảo đặc khu kinh tế ở Vũng Áng của tập đoàn Formosa.

Hôm 25/6, lãnh đạo một chi nhánh tại Việt Nam của Formosa - tập đoàn có 100% vốn Đài Loan, đã gửi văn bản đến chính phủ Việt Nam đề nghị thành lập một đặc khu kinh tế ở Vũng Áng để phục vụ cho việc xây dựng cảng nước sâu Sơn Dương và các ngành công nghiệp liên quan như gang thép, điện, theo truyền thông trong nước.

Đề xuất được gửi đi từ ông Dương Hồng Chí Lý, Tổng giám đốc Hưng Nghiệp Formosa, yêu cầu chính quyền Việt Nam có các cơ chế ưu đãi cho đặc khu như bảo hộ ngành thép, ưu đãi thuế.

Bên cạnh đó, Formosa cũng đề nghị được xây căn hộ để cho thuê hoặc bán lại cho nhân viên và thành lập các cơ sở hậu cần như bệnh viện, trường học trong đặc khu.

Phía Việt Nam vẫn chưa có phản hồi chính thức về yêu cầu này.

Trong tin đăng ngày 25/6, báo điện tử VnExpress dẫn lời ông Ngô Đình Vân, Phó trưởng ban quản lý khu kinh tế Vũng Áng, nói đề xuất của Formosa "quá mới" và không thể giải quyết "ngày một ngày hai".

VN bồi thường bạo động

Bộ Tài chính ngày 23/6 cho biết đã thực hiện hoàn thuế với các doanh nghiệp bị thiệt hại với tổng số tiền 487 tỷ đồng (khoảng 23 triệu đôla).

Trong đó, TP. Hồ Chí Minh hoàn thuế gần ba tỷ đồng cho hai doanh nghiệp, và Hà Tĩnh hoàn thuế giá trị gia tăng với số tiền lên đến 483 tỷ đồng.

Trước đó vào ngày 22/6, bộ này cũng cho biết bảo hiểm đã 'tạm bồi thường' hơn 165 tỷ đồng (7,8 triệu đô la) cho các doanh nghiệp bị thiệt hại ở Đồng Nai và Bình Dương.

Cụ thể, 114,7 tỷ đồng là tiền 'bồi thường bước đầu' cho 113 doanh nghiệp ở Bình Dương, trong khi 35 doanh nghiệp bị thiệt hại được tạm ứng 39,65 tỷ đồng ở Đồng Nai. Trong đó, 30 doanh nghiệp Đài Loan nhận 38,5 tỷ đồng, hai doanh nghiệp Trung Quốc nhận 700 triệu đồng, và ba doanh nghiệp Việt Nam nhận tạm ứng 400 triệu đồng.

Ngoài ra, chính quyền tỉnh Bình Dương còn cho biết đã hỗ trợ bằng tiền lên đến 287 tỷ đồng (13,5 triệu đôla) cho 37 doanh nghiệp trong ngày 18/6.

Các doanh nghiệp bị thiệt hại cũng được gia hạn nộp đối với số thuế còn nợ, với giá trị gần 214 tỷ đồng (10,5 triệu đôla).

Hiện chưa có con số chính thức về thiệt hại kinh tế của các doanh nghiệp sau bạo động.

Động thái mới nhất diễn ra hơn một tháng sau khi các cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Tĩnh leo thang thành bạo động, khiến nhiều cơ sở của doanh nghiệp nước ngoài, trong đó có khu công trường của Formosa Plastics, bị hư hại.

Vào cuối tháng Năm, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã cam kết Hà Nội sẽ có biện pháp đồng bộ để hỗ trợ doanh nghiệp nước ngoài sau khi chính phủ Đài Bắc đã yêu cầu Hà Nội bồi thường thiệt hại cho các doanh nghiệp Đài Loan bị ảnh hưởng.

Những hỗ trợ đó bao gồm miễn giảm thuế, miễn giảm tiền thuê đất, và trợ giúp về vấn đề lao động.

Đài Loan cho biết vụ bạo loạn ảnh hưởng đến 425 doanh nghiệp nước này, trong đó 25 doanh nghiệp bị thiệt hại nặng nề.

Tổng giá trị thiệt hại ước tính dao động trong khoảng 150-500 triệu đôla, và các thiệt hại kinh tế có liên quan là một tỷ đôla.

Khu công nghiệp Vũng Áng, dù là nơi hoạt động của nhiều doanh nghiệp có vốn Đài Loan, nhưng lại sử dụng một lượng lớn lao động Trung Quốc.

Hồi tháng Năm, Bắc Kinh đã cử tàu đến Hà Tĩnh sơ tán hàng nghìn công dân ra khỏi Việt Nam sau các vụ bạo động.

'Yêu cầu rất cao'

Trung Quốc đã sơ tán hàng nghìn công dân ra khỏi Việt Nam sau các vụ bạo động

Trả lời BBC ngày 26/6, kinh tế gia Lê Đăng Doanh cho rằng đề nghị của Formosa là "rất cao so với các tiêu chuẩn quốc tế bình thường và cao hơn hẳn khung pháp luật của Việt Nam".

"Formosa đưa ra yêu cầu này sau vụ đụng độ ở Vũng Áng. Đó là điều đáng xem xét", ông nói.

"Cần phải rất thận trọng vì nếu chấp nhận yêu cầu này của Formosa thì các doanh nghiệp khác cũng lại theo gương Formosa đề ra những yêu cầu tương tự."

"Lúc đó thì chính phủ Việt Nam sẽ phải nhân nhượng và cấp những ưu đãi quá đáng."

Ông khẳng định việc thành lập đặc khu kinh tế "không có lợi gì cho Việt Nam" ngoài việc Formosa sẽ tiếp tục dự án đầu tư hiện nay.

"Tôi cho rằng cần sự giám định, phân tích độc lập, nghiêm túc, không nên dễ dàng chịu sức ép này của Formosa."

'Cắt đôi Việt Nam'

Ông Doanh cũng nói về mặt quốc phòng, Vũng Áng "là một địa điểm hết sức nhạy cảm".

"Ở trên mạng Trung Quốc đã lưu hành kịch bản tấn công Việt Nam trong 32 ngày, trong đó nói Trung Quốc sẽ đánh vào miền trung, chia cắt Việt Nam ra."

"Vũng Áng hay Quảng Trị là những vùng hẹp nhất trên đất liền của Việt Nam, vì vậy tôi hy vọng những nhà chiến lược quốc phòng của Việt Nam sẽ quan tâm và thận trọng trước những yêu cầu này."

Trong một cuộc phỏng vấn gần đây với BBC, chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành cũng cảnh báo về những nguy cơ nảy sinh từ việc Việt Nam cho Trung Quốc thuê hàng chục cây số dọc bờ biển Hà Tĩnh và vùng cửa khẩu Vũng Áng.

"Từ Vũng Áng ngó qua Hải Nam không bao xa, nếu ngày nào đó, Trung Quốc đưa một hạm đội từ Hải Nam sang Vũng Áng thì cả Vịnh Bắc Bộ sẽ không giao thông được nước ngoài, không giao thông được với miền Nam Việt Nam, bị biến thành một cái hồ riêng của Trung Quốc", ông nói.

"Hạm đội trên biển của Trung Quốc đã rất mạnh rồi, nếu bây giờ họ có một điểm tựa trên đất liền nữa thì đó sẽ là nguy cơ rất lớn."

Căng thẳng trên Biển Đông gia tăng từ khi Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng biển mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền.

Cục Hải sự Trung Quốc gần đây thông báo đã dịch chuyển giàn khoan Nam Hải số 9 đến gần cửa vào Vịnh Bắc Bộ.

Cơ quan này cũng cho biết Trung Quốc sẽ sớm đưa thêm ba giàn khoan khác vào hoạt động trên Biển Đông.

Thứ Năm, 26 tháng 6, 2014

Với giàn khoan 981, Trung Quốc thực sự muốn gì?

Nguồn phamdoantrang

Thursday, June 26, 2014

Từ khi vụ giàn khoan Haiyang 981 xảy ra (2/5/2014) đến nay, RSIS – Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, trực thuộc ĐH Công nghệ Nanyang, Singapore – vẫn là một think-tank (viện tư tưởng) rất có ảnh hưởng đối với dư luận quốc tế quan tâm đến tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông.

Sau khi RSIS đăng bài của học giả thân Trung Quốc Sam Bateman, theo hướng "khuyên" Việt Nam chấp nhận chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa và cùng hợp tác vì lợi ích chung, TS. Dương Danh Huy (từ Anh quốc) và TS. Phạm Quang Tuấn (từ Úc) đã có bài viết phản biện. Cuộc bút chiến giữa Sam Bateman và hai chuyên gia người Việt ở nước ngoài kéo dài từ 15/5 đến 5/6.

Ngày 9/6, một trong số rất ít học giả trong nước chuyên về công pháp quốc tế và vấn đề Biển Đông, TS. Nguyễn Thị Lan Anh (Học viện Quan hệ Quốc tế), đã có bài viết đăng trên RSIS, chỉ ra rằng: Trung Quốc cố ý đặt giàn khoan dầu 981 vào vùng biển tranh chấp, tiến tới buộc Việt Nam phải cùng đàm phán với Trung Quốc để dàn xếp một thỏa thuận tạm thời.

Ngoài ra, cũng xin bạn đọc chú ý: Trung Quốc không chỉ cần chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, mà muốn nhiều hơn thế nhiều: Toàn bộ vùng biển nằm trong đường 9 đoạn (đường lưỡi bò).

* * *

HOÀNG SA 40 NĂM QUA

  • Nguyễn Thị Lan Anh

Tóm tắt

Hành động của Trung Quốc – đặt giàn khoan dầu vào vùng biển Hoàng Sa đang bị tranh chấp – còn hơn là một sự tranh cãi về chủ quyền. Nó là sự kháng lại luật biển quốc tế.

Bình luận

Một tháng đã qua (bài viết đăng ngày 9/6  ND) kể từ khi Biển Đông, vùng gần quần đảo Hoàng Sa, lại một lần nữa xáo trộn. 40 năm về trước, vào tháng 1/1974, Hoàng Sa là chiến trường giữa Trung Quốc và lực lượng khi đó là quân đội miền Nam Việt Nam.

Khi giành quyền kiểm soát quần đảo từ tay miền Nam Việt Nam, Trung Quốc đã đánh chìm một tàu hải quân Nam Việt và phá hỏng bốn tàu khác, làm 53 lính Việt Nam chết, 16 người bị thương. Trận chiến đưa đến việc Trung Quốc lần đầu tiên giành quyền kiểm soát hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa.

Còn hơn cả tranh chấp chủ quyền

Yêu sách chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa dựa vào việc triều đình nhà Nguyễn đã chiếm hữu Hoàng Sa và Trường Sa ít nhất từ thế kỷ 17, khi các đảo này không thuộc về ai cả (vô chủ). Trong suốt thời kỳ thực dân phương Tây, Pháp – nước bảo hộ Việt Nam – đã thực thi liên tục chủ quyền đối với Hoàng Sa.

Sau đó, chủ quyền ấy được chuyển từ Pháp sang miền Nam Việt Nam theo Hiệp định Geneva 1954, và sau đó được kế tục bởi Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khi Bắc Việt và Nam Việt thống nhất vào năm 1975. Việt Nam đã tiếp tục khẳng định yêu sách chủ quyền của mình bằng việc phản đối các hoạt động của Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa.

Mặc dù yêu sách chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa có cơ sở pháp lý rất mạnh, nhưng Trung Quốc vẫn khẳng định họ có chủ quyền "không tranh cãi". Trung Quốc không chịu thừa nhận rằng chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa hiện còn đang tranh chấp, và họ từ chối thảo luận vấn đề chủ quyền với Việt Nam trong các cuộc đàm phán song phương. Bên cạnh đó, họ cũng không đồng ý đưa tranh chấp chủ quyền này ra một tòa án quốc tế.

Hành động khiến cho Hoàng Sa trở thành điểm nóng mới nhất trên Biển Đông là việc Trung Quốc đặt giàn khoan dầu Haiyang Shiyou 981 vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa của Việt Nam, gần quần đảo Hoàng Sa.

Ban đầu, tranh cãi xoay quanh giàn khoan dầu có vẻ giống như tranh cãi về việc ai có chủ quyền đối với Hoàng Sa. Tuy nhiên, nhìn sâu hơn vào vấn đề này, sẽ thấy đó cũng là một sự đối đầu xung quanh luật biển quốc tế.

Khoảng cách địa lý không phải vấn đề

Đảo Tri Tôn, thuộc quần đảo Hoàng Sa, nơi Trung Quốc đặt giàn khoan dầu nước sâu Haiyang Shiyou 981, là một đảo san hô và cát rộng 1,6 km2, không thích hợp cho con người ở cũng như không thể tự nó có đời sống kinh tế. Do đó, theo Công ước về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, nó là "đá" và không thể được hưởng nhiều hơn lãnh hải 12 hải lý. (Xem Chú thích). Ngay cả khi một số đảo thuộc Hoàng Sa, trên nguyên tắc, được hưởng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa đi chăng nữa, thì giàn khoan vẫn đang nằm trên "vùng biển tranh chấp", vì hai lý do sau.

Thứ nhất, bởi vì cả Việt Nam và Trung Quốc đều tuyên bố chủ quyền đối với Hoàng Sa, cho nên bất kỳ vùng đặc quyền kinh tế nào phát sinh từ Hoàng Sa cũng là khu vực tranh chấp.

Thứ hai, giàn khoan được đặt trong một khu vực có những yêu sách chồng lấn, bởi lẽ nó nằm trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam tính từ đất liền, cũng như nằm trong vùng đặc quyền kinh tế mà Trung Quốc nhận là của họ, tính từ quần đảo Hoàng Sa.

Khu vực đặt giàn khoan sẽ vẫn là khu vực tranh chấp cho tới khi nào Trung Quốc và Việt Nam nhất trí được với nhau về cách phân định biên giới trên biển ở nơi này. Theo thông lệ của các nước trong việc phân định biên giới trên biển, đảo Tri Tôn và các đảo khác thuộc Hoàng Sa chỉ được hưởng "hiệu lực thấp" khi xác định ranh giới hàng hải, bởi vì đường bờ biển của những hòn đảo nhỏ như vậy ngắn hơn nhiều so với đường bờ biển của Việt Nam. (Xem Chú thích).

Trung Quốc và Việt Nam từng làm theo thông lệ này khi đàm phán biên giới trên biển. Khi xác định biên giới biển của họ trên vùng cực bắc của Vịnh Bắc Bộ, hai nhà nước đã nhất trí chỉ cho Bạch Long Vĩ – một hòn đảo của Việt Nam nằm trong Vịnh Bắc Bộ – 25% hiệu lực. Điều này đã được áp dụng mặc dù Bạch Long Vĩ có diện tích 2,33 km2 và có dân định cư trên đảo.

Dù thế nào đi chăng nữa, do trong khu vực tranh chấp hiện nay không có thỏa thuận nào về biên giới biển, nên quan điểm cho rằng giàn khoan nằm gần Hoàng Sa hơn gần bờ biển Việt Nam là quan điểm sai. Giàn khoan đang được đặt trong vùng biển tranh chấp, nơi Trung Quốc không thể thực thi độc quyền nào.

Đường 9-đoạn của TQ rất khó vẽ vì nó... không có tọa độ.
(Nguồn: RFA)

Hành động triển khai giàn khoan của Trung Quốc đã vi phạm DOC

Thật ra căn cứ để Trung Quốc đòi sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam không phải là chuyện họ tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế cho quần đảo Hoàng Sa, mà (căn cứ đó) là những yêu sách của Trung Quốc, đòi quyền lợi và quyền tài phán đối với toàn bộ tài nguyên trong một vùng biển rộng, được bao quanh bởi đường 9 đoạn mà Trung Quốc đã vạch ra trên bản đồ Biển Đông của họ. (Ảnh trên)

Mặc dù không đưa ra một tài liệu chính thức nào biện hộ cho yêu sách hoặc cơ sở pháp lý của mình theo luật quốc tế, nhưng Trung Quốc vẫn dùng bản đồ đường 9 đoạn để tuyên bố quyền sở hữu đối với tất cả tài nguyên của khu vực biển nằm nằm trong đường 9 đoạn, ngay cả khi khu vực biển ấy thuộc vùng đặc quyền kinh tế của các nước khác.

Trung Quốc dùng bản đồ đường 9 đoạn làm căn cứ đòi chủ quyền, bởi vì khu vực biển có tiềm năng dầu khí lớn ngoài khơi Việt Nam hoàn toàn không nằm trong vùng biển mà Trung Quốc có thể tuyên bố chủ quyền theo công pháp quốc tế về luật biển. Do đó, Trung Quốc quyết định phớt lờ luật biển quốc tế, và khẳng định chủ quyền của họ dựa vào bản đồ đường 9 đoạn, chiếm tới 85% diện tích Biển Đông.

Đối với Trung Quốc, điều rất quan trọng là phải đặt được giàn khoan vào vùng biển đang tranh chấp. Theo luật biển, chừng nào Trung Quốc và Việt Nam chưa đạt được một thỏa thuận về phân định ranh giới trên biển, thì chừng đó hai nhà nước vẫn có nghĩa vụ pháp lý là phải nỗ lực để xác lập những dàn xếp tạm thời, có tính thực tiễn(Điều 74 UNCLOS – ND). Luật biển quốc tế cũng buộc Trung Quốc và Việt Nam không được có các hoạt động đơn phương có thể gây hại hoặc cản trở việc đàm phán về một hiệp định biên giới cuối cùng.

Các tòa án quốc tế đã từng có phán quyết rằng, trong khu vực có nhiều yêu sách hàng hải chồng lấn, sẽ là bất hợp pháp nếu một nước tìm cách thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên, bởi vì hành động đơn phương như vậy sẽ làm thay đổi vĩnh viễn hiện trạng khu vực, và do đó, gây hại hoặc cản trở việc đàm phán về một hiệp định biên giới chung cuộc.

Khi thảo luận với ASEAN về Bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông (COC), vốn có tính ràng buộc pháp lý, Trung Quốc đã liên tục nói rằng phải thực thi đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố năm 1992 về Cách Ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC). Tuy nhiên, việc Trung Quốc đơn phương triển khai giàn khoan là sự vi phạm rõ ràng các điều khoản của DOC – văn kiện quy định rằng các bên liên quan phải tự kiềm chế, không tiến hành những hoạt động gây phức tạp tình hình hoặc làm tranh chấp leo thang.

Hy vọng Trung Quốc sẽ sớm hiểu ra rằng, bắt nạt các nước láng giềng, vi phạm luật quốc tế, không phải là cách hành xử của một siêu cường có trách nhiệm trên trường quốc tế.


-------

Chú thích:

Điều 121 UNCLOS định nghĩa đảo là "một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên, vùng đất này vẫn ở trên mặt nước". Khoản 3, Điều 121 quy định: "Các đảo đá không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng thì chỉ được phép có lãnh hải tối đa 12 hải lý, không được phép có thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế". 

Theo tác giả - TS. Nguyễn Thị Lan Anh, do không thích hợp cho con người ở, không có đời sống kinh tế riêng, Tri Tôn (diện tích 1,6 km2) không phải đảo mà chỉ là đá, và vì vậy chỉ có lãnh hải 12 hải lý. Trung Quốc đặt giàn khoan 981 ở tọa độ cách Tri Tôn 17 hải lý (ngày 2/5) tức là đã không còn trong lãnh hải của Tri Tôn. 

Ngoài ra, ngay cả khi Tri Tôn hay một số cấu trúc địa lý khác thuộc Hoàng Sa có được coi là "đảo" đi chăng nữa, thì chúng cũng không thể có hiệu lực đầy đủ trong phân định biên giới trên biển (hiệu lực đầy đủ nghĩa là được chọn là điểm cơ sở khi phân định biên giới.

Trong luật pháp quốc tế, từng có những án lệ theo đó, nếu so giữa bờ biển đất liền và đảo thì bờ biển đất liền có giá trị hơn là đảo trong việc phân định nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Lý do có thể là bởi các đảo đó quá nhỏ, không thích hợp cho con người ở… Chẳng hạn, trong Hiệp định phân định biên giới trên Vinh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc, đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam chỉ được 25% hiệu lực chứ không được hưởng hiệu lực đầy đủ, dù đảo này rộng tới 2,33 km2 và có người ở.

Đoan Trang dịch và chú thích

Phiên phúc thẩm vụ án Trương Duy Nhất xử nhanh như chớp- Y án!

Nguồn huynhngocchenh

Xe chở TDN vào cổng toà
Nhà văn Nguyễn Quang Lập: Theo tin từ một số bạn bè Trương Duy Nhất, phiên phúc thẩm vụ án Trương Duy Nhất đã diễn ra tại tòa án tối cao Đà Nẵng sáng nay, ngày 26/6/2014. Phiên tòa bắt đầu từ 8h30, gần như không có tranh biện và kết thúc chóng vánh vào lúc 10h kém 15. Trương Duy Nhất vẫn bị tòa phúc thẩm tuyên y án với 2 năm tù giam theo điều 258 Bộ luật hình sự.
Không có gì lạ, không có gì bất ngờ ở  các phiên tòa lấy án bỏ túi làm căn bản.
Phiên toà phúc thẩm nhà báo Trương Duy Nhất tại Toà án nhân dân tối cao ở Đà Nẵng bắt đầu lúc 8h, kết thúc lúc 9h45, ngày 26/6/2014, với bản án tuyên y án sơ thẩm, tức là tù giam 2 năm tính từ ngày bị bắt.  
Con gái TDN cầm món đồ ba làm trong trại giam cho con.
Tui ngây thơ rồi, kết quả là y án 2 năm cho Truong duy Nhất. Luật sư Trần Vũ Hải kể, khi anh đang bào chữa thì công an ấn vai anh ra hiệu ngồi xuống. Ô hô.

Sau đây là bài bào chữa của luật sư Trần Vũ Hải.
BÀI BÀO CHỮA CHO BỊ CÁO TRƯƠNG DUY NHẤT TRONG PHIÊN TÒA XÉT XỬ PHÚC THẨM NGÀY 26/6/2014 TẠI TÒA PHÚC THẨM - TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG
(Những nội dung chính)
           Luật sư Trần Vũ Hải
A.    Tóm tắt vụ án:
Ông Trương Duy Nhất (TDN) là chủ trang web truongduynhat.vn từ ngày 01/12/2010 (trước đó có một số trang blog khác). Trang truongduynhat.vn đã đăng tải  trên 1000 bài viết của TDN và một số người khác cho đến khi TDN bị Cơ quan An ninh điều tra (ANĐT) - Bộ Công An bắt khẩn cấp vào ngày 26/5/2013 theo điều 258 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Ngày 19/11/2013, Cơ quan ANĐT có bản Kết luận điều tra số 14/ANĐT và ngày 17/12/2013, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao (VKSTC) có Cáo trạng số 03/VKSTC-V2 cáo buộc TDN tội "lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân" qui định tại điều 258 BLHS.  Ngày 04/3/2014, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng (TAND ĐN) đã đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm và tuyên bị cáo TDN 2 năm tù giam theo khoản 2, điều 258  BLHS. Bị cáo TDN đã có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, kêu oan.
    B. Quan điểm của luật sư Trần Vũ Hải về vụ án:
I. Việc điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đối với TDN chưa thực hiện đúng theo Bộ luật Tố tụng Hình sự (BL TTHS), chưa theo đúng những quy định của Hiến pháp 2013.
1. Cơ quan ANĐT không có thẩm quyền điều tra ông TDN về điều 258 BLHS
          Điều 12 Pháp lệnh về Tổ chức điều tra hình sự 2004 (sửa đổi năm 2006, 2009) quy định về thẩm quyền điều tra của Cơ quan An ninh điều tra trong Công an nhân dân:
   1. Cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại Chương XI, Chương XXIV và các tội phạm quy định tại các điều 180, 181, 221, 222, 223, 230, 231, 232, 236, 263, 264, 274 và 275 của Bộ luật hình sự khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp tỉnh.
     2. Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an điều tra các vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh quy định tại khoản 1 Điều này nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.
Như vậy, Cơ quan ANĐT - Bộ Công an không có thẩm quyền điều tra các vụ án hình sự quy định tại điều 258 BLHS. Việc Cơ quan này đã khởi tố và điều tra đối với ông TDN theo điều 258 BLHS là trái thẩm quyền điều tra, vi phạm pháp luật nghiêm trọng, nên Kết luận điều tra của cơ quan này đối với ông TDN không có giá trị pháp lý.
2. Về việc bắt khẩn cấp ông TDN là không có căn cứ
TDN bị bắt theo lệnh bắt khẩn cấp của Cơ quan ANĐT.
Theo quy định tại khoản 1 điều 81 BL TTHS, những trường hợp sau đây thì bị  bắt khẩn cấp:
a) Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
b) Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;
c) Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ.
Trường hợp ông TDN không thuộc các đối tượng trên, do vậy việc Cơ quan ANĐT bắt khẩn cấp đối với ông TDN là không có căn cứ, vi phạm quy định trên của BL TTHS.
3. Về bản Kết luận Giám định (KLGĐ) ngày 04/11/2013 của Bộ Thông tin - Truyền thông (TT-TT): Những người ký KLGĐ không phải là những giám định viên hợp lệ theo quy định của pháp luật.
            a. Kết luận điều tra của Cơ quan ANĐT và Cáo trạng của VKSTC đều căn cứ vào KLGĐ ngày 04/11/2013 của các thành viên giám định tập thể, Bộ TT-TT, trong đó có ông Đặng Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Pháp chế Bộ này ký, điều phối việc giám định tập thể.
 b. Theo điều 20 Luật Giám định Tư pháp:"…Bộ Thông tin và Truyền thông… có trách nhiệm lựa chọn, lập và hằng năm công bố danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc ở lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý để đáp ứng yêu cầu giám định của hoạt động tố tụng. Danh sách kèm theo thông tin về chuyên ngành giám định, kinh nghiệm, năng lực của người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc được đăng tải trên cổng thông tin điện tử của bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đồng thời gửi Bộ Tư pháp để lập danh sách chung".
Theo khoản 1 điều 23 Nghị định 85/2013/NĐ-CP: "Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại Khoản 1 Điều 20 của Luật Giám định tư pháp có trách nhiệm rà soát, lựa chọn, lập và công bố danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc trước ngày 30 tháng 11 hàng năm".
      Chúng tôi đã tra cứu trên trang điện tử của Bộ TT-TT nhưng không thấy đăng tải danh sách giám định viên vụ việc, tổ chức giám định viên vụ việc, do vậy ngày 12/12/2013, chúng tôi đã gửi thư tới Bộ TT - TT để hỏi thông tin và ông Đặng Anh Tuấn đã có văn bản số 3765/BTTTT-PC ngày 23/12/2013 thừa nhận Bộ TT-TT chưa thực hiện theo quy định trên. Ông Tuấn cũng cho biết, khi lựa chọn người có đủ điều kiện theo quy định của Pháp lệnh Giám định tư pháp để giới thiệu thực hiện giám định theo trưng cầu trong trường hợp không đủ giám định viên tư pháp, Bộ TT-TT đều có văn bản đề nghị Bộ Tư pháp công bố danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc trong lĩnh vực thông tin và truyền thông. Tuy nhiên, đến nay (ngày 24/06/2014), tra cứu trên trang điện tử của Bộ TT-TT, chúng tôi vẫn không thấy đăng tải danh sách giám định viên vụ việc.
c. Theo khoản 1 điều 157 BL TTHS: "Nội dung kết luận giám định phải ghi rõ: thời gian, địa điểm tiến hành giám định; họ tên, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn của người giám định; những người tham gia khi tiến hành giám định; những dấu vết, đồ vật, tài liệu và tất cả những gì đã được giám định, những phương pháp được áp dụng và giải đáp những vấn đề đã được đặt ra có căn cứ cụ thể". Tuy nhiên, tại KLGĐ không thấy nêu trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn của những người giám định. KLGĐ có liệt kê ra các phương pháp thực hiện giám định: tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh, đối chiếu, nhưng lại không thấy sử dụng những phương pháp này như thế nào để thu được kết quả giám định. Như vậy, KLGĐ này không phù hợp với quy định trên của BL TTHS nên không có giá trị pháp lý (Chúng tôi đề nghị những người được coi là giám định viên phải đến Tòa để trình bày về tư cách, chuyên môn và nội dung của KLGĐ. Tại phiên tòa sơ thẩm, chúng tôi đã yêu cầu nhưng chưa được đáp ứng, song Tòa án vẫn căn cứ vào KLGĐ để kết tội bị cáo).
4. Tòa án cấp sơ thẩm đã không đảm bảo nguyên tắc xét xử công khai, nguyên tắc tranh tụng, không công bố các tài liệu có trong hồ sơ vụ án tại phiên tòa xét xử.
          a. Không đảm bảo nguyên tắc xét xử công khai
            Khoản 1 điều 31 Hiến pháp 2013 quy định: "Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai."
            Điều 18 BL TTHS quy định: "Việc xét xử của Toà án được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền tham dự…"
          Tại Quyết định số 04/2014/HSST- QĐ về việc đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo TDN của TAND TP. Đà Nẵng ghi "vụ án được xét xử công khai". Vợ bị cáo TDN đã có đơn đề nghị Tòa tạo điều kiện cho nhiều người thân, bạn bè, đồng nghiệp tham dự phiên xử. Sáng ngày xét xử sơ thẩm, những người này có mặt đông đủ trước tòa, nhưng đều không được vào tham dự. Như vậy, Tòa cấp sơ thẩm đã không thực hiện đúng trình tự luật định, vi phạm những quy định nêu trên của Hiến pháp và BL TTHS.
          b. Không công bố các tài liệu có trong hồ sơ vụ án tại phiên tòa, không tạo điều kiện cho luật sư khi hỏi bị cáo.
         Điều 214 BL TTHS quy định:"Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đều phải được công bố tại phiên tòa".
        Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, tôi đã đề nghị Hội đồng xét xử công bố (hoặc cung cấp cho bị cáo TDN) những tài liệu được coi là căn cứ để buộc tội bị cáo là: 12 bài viết, đăng của TDN, Bản Kết luận giám định. Bà thẩm phán không chấp nhận, không thực hiện quy định trên của BL TTHS.
        Điều  209, khoản 3 BL TTHS qui định: Người bào chữa hỏi về những tình tiết liên quan đến việc bào chữa. Tại phiên tòa sơ thẩm, tôi hỏi bị cáo về từng bài viết, cùng động cơ, ý thức của bị cáo khi viết, ý kiến của bị cáo về KLGĐ. Tuy nhiên, chủ tọa chỉ cho luật sư hỏi 7 bài trong 12 bài TDN viết, đăng, không cho luật sư hỏi tiếp những tình tiết liên quan đến 5 bài còn lại, làm trái qui định trên của BL TTHS.
         c.  Không đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử
            Tại khoản 5 điều 103 Hiến pháp 2013 quy định: "Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm".
            Điều 218 BL TTHS quy định:
Bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến về luận tội của Kiểm sát viên và đưa ra đề nghị của mình; Kiểm sát viên phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến.
Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác. Chủ toạ phiên toà không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến, nhưng có quyền cắt những ý kiến không có liên quan đến vụ án.
Chủ tọa phiên tòa có quyền đề nghị Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận.
Tuy nhiên, nguyên tắc và những quy định này đã không được đảm bảo trong phiên tòa sơ thẩm. Ví dụ:
Khi vị đại diện Viện Kiểm sát thay đổi quan điểm so với bản Cáo trạng, cho rằng những bài viết và đăng của TDN xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước (tức không thuộc đối tượng xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân). Nhưng khi tôi cho rằng bị cáo không xâm phạm lợi ích Nhà nước và đề nghị vị đại diện Viện Kiểm sát nếu giữ quan điểm như vậy, phải xác định những lợi ích nào của Nhà nước bị xâm phạm trong vụ án này (những lợi ích Nhà nước được quy định trong điều khoản nào của văn bản pháp luật nào), vị đại diện Viện Kiểm sát đã không tranh luận lại, và chủ tọa cũng không yêu cầu vị đại diện Viện Kiểm sát đáp lại, mặc dù tôi đã đề nghị.
Phần tự bào chữa của bị cáo bị chủ tọa cắt ngang và đại diện Viện kiểm sát cũng không tranh luận lại với bị cáo.
II/   Không có căn cứ xác định 12 bài viết, đăng của TDN nêu trong Cáo trạng xâm phạm đến lợi ích Nhà nước và không có căn cứ xác định tình tiết nghiêm trọng đối với trường hợp TDN, nhưng tòa sơ thẩm vẫn kết tội TDN theo điều 258, khoản 2.
        Cho đến nay, chúng tôi chưa thấy định nghĩa về lợi ích Nhà nước. Tuy nhiên, Hiến pháp 2013 có những quy định sau về Nhà nước:
          Khoản 1 điều 2 Hiến pháp:
         Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân..
          Điều 3 Hiến pháp:
         Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.
          Như vậy, có thể xác định lợi ích Nhà nước là những lợi ích vì dân, vì dân giàu nước mạnh, dân chủ công bằng, văn minh, vì một nền pháp quyền (để đảm bảo quyền con người, quyền công dân, quyền làm chủ của nhân dân). 
12 bài viết, đăng của TDN nêu trong Bản án sơ thẩm gồm:
(1)  Bài "Trong Đảng và ngoài Đảng"
Bài viết kể lại 4 câu chuyện vui có thật về đảng và đảng viên mà ông TDN trực tiếp chứng kiến, nhân ngày thành lập Đảng.
(2)   Bài "Chấm điểm Thủ tướng"
Bài viết nêu lên những nhận xét của cá nhân TDN về Thủ tướng Chính phủ.
(3)  Bài "Chấm điểm bộ tứ nguyên thủ"
Bài viết nêu lên những nhận xét của cá nhân TDN về 04 vị lãnh đạo: Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng.
(4)  Bài "Tại sao chỉ là bóng đá"
Bài viết thể hiện quan điểm của TDN phê phán về tình trạng hiện nay của một số hội, đoàn
(5)  Bài "Bóng đá và Đảng"
Bài viết nêu một số thông tin về bóng đá và đặt vấn đề lãnh đạo hội, đoàn không nhất thiết phải là Đảng viên.
(6)  Bài "Việt Nam 2011"
Bài viết này, TDN đã nêu những số liệu chứng minh nền kinh tế Việt Nam năm 2011 đã không đạt nhiều chỉ tiêu, kế hoạch đã đề ra. Các nhà lãnh đạo và Quốc hội chưa tìm được giải pháp để khắc phục vấn đề này.
(7)  Bài "Chất lượng Chính phủ quá tệ"
Bài viết tổng hợp số liệu thông qua một cuộc khảo sát các bạn đọc trên trang truongduynhat.vn để đánh giá chất lượng Chính phủ.
(8)  Bài "Khi Chủ tịch nước tập làm văn"
Bài viết nêu nhận xét của cá nhân TDN về một bản thông điệp của Chủ tịch nước.
(9)  Bài "Từ Đồng Nọc Nạn đến Đoàn Văn Vươn"
Bài viết là những cảm tưởng, suy nghĩ của TDN về vụ Đoàn Văn Vươn và vụ Đồng Nọc Nạn.
          (10) Bài "Tổng Bí thư và Thủ tướng nên ra đi"
Bài viết là những nhận xét, suy nghĩ của TDN về tình hình kinh tế, chính trị của đất nước.
(11) Bài "Bỏ phiếu cùng Quốc hội"
Bài viết đưa ra số liệu thống kê trong một cuộc bỏ phiếu tín nhiệm cùng quốc hội qua "thùng phiếu điện tử" trên website Một góc nhìn khác.
(12) Bài "Những chiếc lồng son"
Bài viết này của một tác giả ký tên Nguyễn Dương gửi đến website truongduynhat.vn, có nội dung là những cảm nghĩ của tác giả về nghề báo, về thực trạng tại các bệnh viện, trường học….
            Không có căn cứ để xác định 12 bài này xâm phạm đến lợi ích Nhà nước và chính bản án sơ thẩm cũng không nêu được căn cứ nào.
          VKS truy tố TDN theo khoản 2, điều 258 (phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng), nhưng không nêu căn cứ nào để xác định tình tiết nghiêm trọng. Ngay trong Bản án sơ thẩm cũng không nêu căn cứ nào để chứng minh về tình tiết nghiêm trọng.
          Rõ ràng, Tòa sơ thẩm đã tùy tiện kết tội bị cáo theo điều 258, khoản 2, BLHS mà không chứng minh được hành vi của bị cáo xâm phạm lợi ích nhà nước, thuộc trường hợp nghiêm trọng.
          Thực tế 12 bài viết, đăng này là những ý kiến của bị cáo (và 1 bạn đọc khác), đánh giá về tình hình đất nước, một số cơ quan nhà nước, nhận xét về lãnh đạo Đảng, nhà nước, thực hiện quyền tự do ngôn luận, quyền giám sát của  công dân. Những quyền này được Đảng, nhà nước khuyến khích, pháp luật tôn trọng và bảo đảm, để góp phần xây dựng một nhà nước pháp quyến dân chủ.
C. Đề xuất của luật sư Trần Vũ Hải đề nghị Tòa án giải quyết vụ án:
       1.  Xác định Cơ quan ANĐT đã điều tra không đúng thẩm quyền, bắt khẩn cấp TDN không có căn cứ, Kết luận điều tra không có giá trị pháp lý.
       2. Những người ký vào KLGĐ không phải là những giám định viên hợp lệ, nội dung KLGĐ không phù hợp BL TTHS, KLGĐ không có giá trị pháp lý.
       3. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử chưa công khai và chưa đúng nhiều quy định theo BL TTHS, chưa đảm bảo nguyên tắc tranh tụng.
       4.  Xác định 12 bài viết, đăng của TDN nêu trong Bản án sơ thẩm không xâm phạm lợi ích nào của Nhà nước, không có căn cứ xác định thuộc trường hợp nghiêm trọng theo khoản 2, điều 258 BLHS.
       5. Xác định những bài viết của TDN thể hiện TDN thực hiện quyền tự do ngôn luận, quyền giám sát của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước (điều 53, 69 Hiến pháp 1992 tương ứng các điều 28, 25 Hiến pháp 2013), phù hợp với điều 19 khoản 2 và khoản 3 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966 (Việt Nam tham gia năm 1984). Những quan điểm cá nhân của TDN có thể đúng, có thể chưa chính xác nhưng TDN có quyền đưa ra và giữ quan điểm của mình, những người khác có quyền đánh giá, nhận xét, tranh luận về quan điểm của TDN để thể hiện Việt Nam là một nước thực sự dân chủ, xứng đáng là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc.
      6. Trương Duy Nhất không phạm tội Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân (điều 258 BLHS), ông phải được trả tự do ngay tại phiên tòa.