Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2012

TS. Phùng Liên Đoàn - TÔI MƠ GIẤC MƠ VIỆT NAM : MỘT XÃ HỘI THỊNH VƯỢNG, TỰ DO, DÂN CHỦ, VĂN MINH by bauxitevn

Nguồn boxitvn

Bài diễn văn tại Hội nghị Bác ái Á Châu - Thái Bình Dương, ngày 22 tháng 5, năm 2008, tại Hà Nội, Việt Nam

Phùng Liên Đoàn

 

TS Phùng Liên Đoàn và GS Nguyễn Huệ Chi tại Hoa Kỳ tháng 10-2010

 

Chúng tôi nhận được bài này từ một cộng tác viên gửi cho, sau khi đọc thấy không thể không đưa lên trang mạng để đông đảo bạn đọc trong nước, nhất là thế hệ trẻ Việt Nam, cùng chia sẻ với Giấc Mơ Việt Nam của TS Phùng Liên Đoàn mà theo chúng tôi biết, sau gần 5 năm suy nghĩ thận trọng, vượt qua rất nhiều khó khăn để hoàn tất một chương trình chi tiết, đến nay ông đã tiến hành những bước khởi đầu thuận lợi.

Dẫu đây là bài diễn văn đã được chuyền nhau trong nhiều giới, vẫn xin được coi lời mở đầu vắn tắt này như một thông điệp gián tiếp gửi đến tác giả để xin phép, và cũng là bày tỏ sự kính trọng đối với tấm lòng nhiệt huyết vì đất nước của ông.

Bauxite Việt Nam

Kính thưa quí vị,

Tôi là Phùng Liên Đoàn, 68 tuổi. Tôi đã đi học và làm việc ở Việt Nam 21 năm, ở Hoa Kỳ 47 năm.

Tôi xin phép đọc bài thơ của Nguyễn Bá Trác mà tôi đã thay đổi chút ít cho phù hợp với cuộc đời của tôi.

Trượng phu đã không hay xé gan chẻ cật phù cương thường

Hà tất tiêu dao bốn bể lưu lạc tha phương

Trời Nam nghìn dặm thẳm

Non nước một màn sương

Giấc mơ ngày lên đường.

Những dòng thơ kế tiếp đây cũng được tôi hiểu theo một cách đặc biệt

Chí chưa thành

Danh chưa lập

Tuổi trẻ bao lâu mà đầu bạc

Trăm năm thân thế bóng tà dương

Giấc mơ ngày lên đường!

Thưa quí vị, tất cả chúng ta đều có những giấc mơ khi ta lớn lên. Ta mơ ta sẽ là ai, mơ về những điều ta sẽ làm, những điều ta mong muốn, những gì làm cho ta hạnh phúc, và tương lai của gia đình con cái ta.

Tôi sinh ra ở làng Bát Tràng, chỉ cách đây 7 km xuôi nước sông Hồng. Các vị niên trưởng tại làng tôi rất tự hào về quá khứ huy hoàng của làng quê, nơi đã có nhiều người đỗ học vị Tiến sĩ vào những thế kỷ 15-17. Nhưng khi tôi lớn lên tại làng vào khoảng 1940 - 1949, tôi nhớ rõ là cả làng không có một nhà trẻ, một trường học, một thư viện, một bệnh xá; và trẻ con chúng tôi phải đi chân đất không có giầy. Người Pháp và người Nhật làm chủ chúng tôi. Họ sử dụng các viên chức người Việt để áp chế người Việt. Tôi nhớ sơ sơ về nạn đói kinh hoàng năm 1945 khi tôi mới 6 tuổi. Tôi nhớ bố tôi đã rời nhà để lên rừng tham gia kháng chiến do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Tôi nhớ rõ mẹ tôi chỉ được đi học 2 năm vì phải nuôi bố mẹ đau ốm và ở tuổi 24 đã phải một thân nuôi 6 anh em chúng tôi. Hai em của tôi đã chết vì bệnh tật rất thông thường.

Lúc đó, giấc mơ của tôi là thoát khỏi sự đô hộ của người Pháp, để bố tôi trở về với gia đình và tôi được đi học ở Hà Nội.

Năm 1951 bố tôi về nhà thật, nhưng không phải là người chiến thắng giặc Pháp mà là vì cụ quá yếu bởi sốt rét, và Việt Minh bảo cụ về nhà để cho mẹ tôi lo. Mẹ tôi đưa bố tôi đi khám ở nhà thương cách nơi tôi đang đứng đây chỉ vài ba dãy phố, và may thay, sau một thời gian chữa trị, bố tôi đã bình phục.

Sau khi vượt qua 2 kỳ thi hắc búa ở tuổi 11, tôi được nhận vào học Trường trung học Nguyễn Trãi cách khách sạn này có vài ba tòa nhà. Và như vậy tôi đã thực hiện được giấc mơ của tôi hồi thơ ấu. Tôi ở trọ gần ga Hàng Cỏ và phải cuốc bộ đi học hàng ngày qua ngang Hỏa Lò, bây giờ là Khách sạn Hanoi Tower, nhưng hồi đó là nhà tù khét tiếng vì đã là nơi giam hãm tra khảo nhiều người Việt Nam yêu nước kể cả Nguyễn Thái Học và Lương Ngọc Quyến mà ngày nay được đặt tên cho đường phố Hà Nội. Quý vị cũng rõ Hỏa Lò đã từng giam giữ nhiều phi công Mỹ bị bắn rơi, kể cả John McCain, ứng cử viên Tổng thống Hoa Kỳ năm 2008.

Giấc mơ của tôi lúc đó là có một chiếc xe đạp để đến trường học nhanh hơn và thú vị hơn. Tôi đã không thực hiện được giấc mơ này cho mãi đến 3 năm sau.

Nhưng tôi là một học sinh tồi, xếp hạng 37 trên 49 học sinh. Và tôi bị phạt "công xi" phải đến trường hai Chủ nhật liên tiếp vì tôi làm giả chữ ký của bố tôi trong sổ học bạ. Hiện tôi vẫn còn giữ sổ học bạ đó để luôn luôn ghi tạc rằng gian lận là không tốt. Bố mẹ tôi biết rằng tôi đang ở chỗ trọ không tốt và hai cụ đã thu xếp cho tôi ở với người bà con đáng tin cẩn ở phố Hàng Bát Sứ phía bên kia Hồ Hoàn Kiếm. Chúng tôi thuê một phòng 3m x 3m ở trên một căn bếp. Chúng tôi gồm 5 người, 3 người chú họ xấp xỉ tuổi của tôi, anh tôi và tôi. Chúng tôi dùng ba tấm ván làm bàn học ban ngày và giường ngủ ban đêm. Tôi học khá hẳn lên, được xếp vào năm học sinh có điểm cao nhất ở lớp 7.

Giấc mơ của tôi lúc đó là được ăn sáng trước khi đi học và một que kem trong giờ ra chơi.

Tôi thực hiện được giấc mơ này khi bố mẹ tôi cho 5 đồng mỗi tuần. Nhưng tôi mất 5 đồng đầu tiên khi bị người lớn ngoài công viên dụ chơi bài ba lá. Kể từ đó đến giờ tôi không đánh bạc nữa cho dù tôi hiện sinh sống ở Las Vegas.

Thế rồi cuộc đời tôi trôi theo số phận may mắn. Bố tôi tìm được việc làm nhân viên Sở Duyên hải thuộc Bưu điện chính ở Sài Gòn. Gia đình chúng tôi thu xếp vào Sài Gòn trên chiếc tàu mang tên Ville de Hai Phong. Đó là lần đầu tiên vào tuổi 13 tôi được nhìn thấy một chiếc tàu to lớn và được lướt sóng đại dương. Chúng tôi ngủ ở khoang dưới đáy tàu dành cho hành khách hạng tư. Nhưng vào ban ngày thì chúng tôi được phép lên boong cao nhất để xem tàu vượt sóng. Tôi nhìn thấy đại dương bên phía Đông và những rặng núi trải dài bên phía Tây. Tôi tự hỏi nước tôi thực sự như vậy sao. Tại sao cuộc sống của người dân Việt Nam lại không đẹp như núi rừng kia và huy hoàng như bình minh đó?

Giấc mơ của tôi là một ngày không xa nước Việt Nam sẽ độc lập và người Việt Nam được no ấm.

Như quý vị đã biết, một phần của giấc mơ đó đã là hiện thực. Nước Việt Nam bây giờ là một nước độc lập nhưng còn nhiều người Việt Nam chưa được no ấm.

Tôi may mắn được nhận vào Trường trung học Petrus Ký ở Sài Gòn, một trong bốn trường trung học lớn của thành phố. Tôi được ăn học bình thường 5 năm nhờ công việc ổn định của bố tôi và nhờ mẹ tôi cũng buôn bán thêm. Tôi có chiếc xe đạp đầu tiên vào năm 14 tuổi, một tài sản quan trọng mà gia đình tôi đã giữ 20 năm liền. Tôi có chiếc đồng hồ đeo tay đầu tiên khi tôi đỗ bằng Thành chung, một mốc quan trọng thời bấy giờ vì nếu không đỗ thì không được học cao hơn. Tôi chơi với các bạn ham học, và chúng tôi có nhiều Giáo sư rất ấn tượng. Tôi còn nhớ rõ có 3 Giáo sư tôi ngưỡng mộ nhất. Đó là ông Nguyễn Xuân Nghiên, dạy vật lý; ông Nguyễn Văn Phú, dạy toán; và ông Lê Xuân Khoa, dạy sử. Những Giáo sư này đã gây ảnh hưởng rất lớn với tôi. Tôi đã chọn toán và vật lý làm môn học chuyên trên đại học. Và tôi đã đạt một giải thưởng toàn quốc về lịch sử ở tuổi 16. Tôi rất hãnh diện giới thiệu Giáo sư Lê Xuân Khoa có mặt ngày hôm nay với chúng ta. Sau năm 1975, Giáo sư Khoa làm việc ở Washington với chức vụ Chủ tịch Trung tâm Hoạt động Giúp người tị nạn Đông Nam Á. Trong chức vụ này, Giáo sư Khoa đã làm việc với nhiều chính khách và các hội từ thiện khắp thế giới. Giống như Giáo sư đã dạy dỗ tôi, từ 1975 ông đã dẫn dắt nhiều thế hệ trẻ người Mỹ gốc Việt làm việc giúp ích cộng đồng. Một số những người này cũng có mặt ở đây hôm nay. Tôi xin giới thiệu:

o Diệp Vương, Chủ tịch Hội Vòng tay Thái Bình (Pacific Links) tại California,

o Quyên Vương, Chủ tịch Hội Quốc tế giúp đỡ trẻ em (International Children Assistance Network) tại California,

o Dee Dee Nguyễn, Giám đốc Phát triển của Hội Can thiệp Quốc tế (Impact International), và

o Binh Rybacki, Chủ tịch Hội Trẻ em hòa bình (Children of Peace) tại Colorado.

Mặc dầu đã về hưu từ lâu, Giáo sư Khoa vẫn hoạt động tích cực hơn bao giờ hết. Ông vừa xuất bản một cuốn sách quan trọng về lịch sử Việt Nam trong thời kỳ 1945-1975, một thời kỳ có nhiều biến động hơn bất cứ thời kỳ nào của lịch sử Việt Nam trong 1000 năm qua. Tôi xin cảm ơn thầy Khoa.

Khi theo học với giáo sư Khoa vào lúc 16 tuổi, tôi có nhiều thắc mắc về lịch sử Việt Nam. Nước tôi tiếng là có 4.000 năm văn hiến nhưng sự thực thì 2.000 năm chỉ là huyền thoại, 1.000 năm bị Trung Hoa thống trị với vài ba cuộc nổi dậy bởi các vị lãnh chúa muốn tự mình cai trị lãnh thổ. Còn 1.000 năm từ 937 tới giờ thì Việt Nam mang tiếng là độc lập nhưng người dân phải gánh chịu rất nhiều tang tóc bởi những cuộc chiến tranh với Trung Hoa ở miền Bắc, với người Chàm ở miền Nam và nội chiến liên miên. Chúng ta ai cũng biết rằng trong thời chiến 1945-1975 người Việt chịu nhiều tang tóc, nhưng ít ai biết rằng ông cha chúng ta đã phải chịu cảnh chiến tranh suốt 400 năm từ thời Trần Mạt, Hồ Quý Ly thoán ngôi, Nam Bắc phân tranh, Lê mạt, và thực dân Pháp đô hộ. Với tầm suy nghĩ của một học sinh trung học lúc đó, tôi cho rằng nước Việt Nam có nhiều anh hùng nhưng ít vĩ nhân. Anh hùng là những người can đảm đã hy sinh thân mình hay khéo léo dẫn dắt cho nhiều người khác thắng lợi. Vĩ nhân là những người tạo lập được thành đạt cho quốc gia và cho nhiều người dân một cách lâu dài bền vững. Nước Việt Nam vì có nhiều chiến tranh nên có nhiều anh hùng, nhưng sau mỗi thắng lợi đánh đuổi ngoại xâm, những anh hùng của chúng ta trở thành vua chúa nắm quyền lực tuyệt đối để ngự trị quần chúng. Họ phần lớn ít học và ít kinh nghiệm trong nghệ thuật cai trị và quản lý đất nước trong thời bình.

Giấc mơ của tôi là mai sau Việt Nam có nhiều vĩ nhân xây dựng Việt Nam thành một quốc gia thịnh vượng; một xã hội tự do, dân chủ, văn minh.

Lúc đó tôi chưa biết rằng mọi người Việt Nam ai cũng mơ ước như vậy. Vì thế, ngày nay tôi gọi đó là Giấc Mơ Việt Nam.

Năm 1958, tôi may mắn là một trong số 14 sinh viên trúng tuyển đựợc học bổng đi Mỹ du học. Đối với một học trò nghèo làng Bát Tràng thì học bổng hãn hữu này là chìa khóa mở cửa cho tôi lên thiên đường. Nước Mỹ, nước Mỹ! Tôi đã đọc rất nhiều về lịch sử Mỹ. Tôi đã vẽ bản đồ nước Mỹ hàng trăm lần! Vào thời đó phải mất ba ngày mới vượt qua được Thái Bình Dương trên máy bay cánh quạt. Ngày đầu tiên đặt chân đến lục địa Mỹ, tôi kinh ngạc khi thấy cây cầu Golden Gate không chỉ bắc qua một con sông mà là qua một eo bể. Tôi ngạc nhiên trước các con đường rộng rãi sạch sẽ và những dãy nhà to lớn đẹp đẽ không có chút gì giống những khu ổ chuột của tôi tại quận Bàn Cờ ở Sài Gòn. Rồi khi tôi ghi học tại Florida State University (FSU), tôi còn biết thêm thế nào là một xã hội tự do dân chủ và văn minh. Nước Mỹ rõ ràng không hoàn hảo nhưng là một xã hội tự do, dân chủ, văn minh, vì tôi thấy lãnh đạo và người dân ở đó chung sức cải thiện xã hội từng ngày. Ở đó người ta thực hiện tự do thật sự bằng cách tha hồ tranh luận, biểu tình một cách công khai. Ở đó lãnh đạo đi từng nhà tranh cử, hứa hẹn làm điều lợi ích cho người dân, và họ bị báo chí theo dõi tố cáo nếu không thực hiện lời hứa. Ở đó Nhà thờ và các tổ chức dân sự giúp đỡ cho người dân nghèo nhiều đến nỗi nếu ai không vượt qua khỏi các khó khăn thì chỉ nên trách lấy chính mình. Ở đó sinh viên được khuyến khích tìm tòi, suy nghĩ, tưởng tượng, khởi xướng và sáng tạo.

Giấc Mơ Việt Nam luôn luôn ám ảnh tôi trong thời gian du học. Việt Nam có thể trở thanh một xã hội tự do, dân chủ, văn minh nhanh chóng không? Khẩu hiệu "Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc" có đạt được không? Khi nào, vâng khi nào thì nước Việt Nam có thể cho người dân tự do tụ họp, tranh luận, và cơ hội thoát khỏi đói nghèo?

Tôi tốt nghiệp hạng ưu sau ba năm học tại FSU và được nhận vào ban cao học tại Trường Massachusetts Institute of Technology (MIT). Thời gian vào những năm 1961 và 1964 ở MIT đã giúp tôi có một tầm nhìn rõ hơn về nền khoa học và kỹ thuật của nước Mỹ. Giáo sư của tôi là những người tài giỏi, một vài người đã được giải thưởng Nobel. Họ là những người đang dò dẫm những bước tiến mới ở tiền tuyến hiểu biết của nhân loại. Teflon, maser, laser, truyền tin bằng ánh sáng, cấy sinh vật mới bằng tế bào cũ, máy vi tính, kỹ thuật li ti, nguồn gốc của không gian và thời gian, là những ý tưởng họ đang khảo cứu và bây giờ coi như đã thành hiện thực. Tôi bắt đầu thấu hiểu sự mênh mông của kiến thức và tính tương đối của mọi vấn đề trong cuộc sống. Ở bậc cao học sinh viên phải theo đuổi những cái mới mẻ đặc thù chứ không phải chỉ học vẹt và nhai lại các việc người khác đã làm. Nhưng vào năm 1963 khi tôi đang nghiên cứu luận án Thạc sĩ thì tôi phải đối mặt với hai quyết định làm thay đổi cuộc đời. Đó là (1) phải chọn lựa dứt khoát tiếp tục học ngành vật lý hay ngành kỹ thuật nguyên tử, và (2) trở về Việt Nam khi hết học bổng hay trốn đi một nước khác để tránh chiến tranh đang diễn ra rất tàn khốc ở quê nhà. Mặc dầu tôi đậu bằng Thạc sĩ cả về vật lý và kỹ thuật nguyên tử, tôi đã chọn con đường thứ hai bởi vì tôi rất mong có cơ hội sử dụng năng lượng hạt nhân cho các mục đích hoà bình. Mặc dầu tôi có thể đi Canada hoặc Pháp để tránh chiến tranh nhưng tôi đã chọn trở về Việt Nam vì muốn tuân thủ cam kết tôi đã ký khi nhận học bổng. Cho đến ngày hôm nay tôi không hề hối hận về các quyết định đó.

Những thách thức tôi phải đối mặt ở Việt Nam trong những năm 1964-1967 không dính dáng gì tới kỹ thuật hay khoa học, mà thực ra là nghệ thuật sinh tồn và phương cách giúp cha mẹ tôi nuôi 10 anh chị em của tôi ăn học. Lúc đó, Tổng thống Ngô Đình Diệm của Nam Việt Nam và Tổng thống Kennedy của Mỹ vừa bị ám sát cách nhau chỉ vài tháng. Chiến tranh đang ở thời kỳ leo thang. Tôi làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu nguyên tử Đà Lạt với kết quả chẳng ăn nhằm gì với đời sống thực tế và chỉ được trả một khoản lương khiêm tốn đến nỗi tôi tính phải dành dụm 10 năm mới mua được một chiếc xe hơi, nếu vật giá không leo thang. Trong hoàn cảnh ấy, tôi thấy đất nước đã lãng phí nguồn viện trợ quý giá của nước ngoài để xây dựng Trung tâm nghiên cứu nguyên tử cũng như đào tạo tôi trở thành Kỹ sư nguyên tử. Tôi làm sao có thể cải thiện cuộc sống của hàng triệu người mà sự đói nghèo là nguyên nhân của mọi khốn khó họ phải chịu đựng? Tôi làm sao có thể giải quyết những vấn đề thực phẩm, y tế, giáo dục, thiên tai, luật pháp và an ninh trật tự của đất nước? Lãnh đạo của nước tôi đã chỉ biết theo đuổi những việc thiển cận như dùng viện trợ nước ngoài để đào tạo nhân tài mà theo họ sẽ giúp quốc gia nhanh chóng nhảy vọt thành những con rồng, con cọp của Á Châu. Nhưng thực tế khi đó và thực tế bây giờ cho thấy phần lớn những người tài giỏi đó đã học những điều không thể ứng dụng được ở Việt Nam bởi vì hệ thống xã hội, chính trị, dân sinh tại Việt Nam chưa sẵn sàng tiếp nhận những cái học dựa trên sự kiện xã hội của các nước tiên tiến. Những nhân tài này bỗng nhiên trở thành các trưởng giả loại mới hoặc trở nên lạc lõng trong thực trạng xã hội Việt Nam. Phần lớn họ sẽ tìm cách sinh sống tại những nước họ theo học, một hiện tượng mà từ lâu thế giới đã biết và gọi là hiện tượng chảy máu chất xám.

Với kiến thức lúc đó, tôi mơ ước là có cơ hội thuyết phục lãnh đạo để lập kế hoạch 100 năm trồng người và kiến thiết một nền móng phát triển bên vững cho quốc gia.

Kế hoạch của tôi trước hết là tạo lập một mẫu người Việt Nam và kinh tế Việt Nam vào năm 2100 một cách hết sức thực tế và khiêm nhường. Có mẫu này làm mục đích, ta sẽ dùng mọi kiến thức và phương pháp của nhân loại đã được kiểm chứng là tốt để lập nên kế hoạch phát triển, và tuần tự nhi tiến đưa dân trí và kinh tế đến viễn tượng mong muốn. Dĩ nhiên, mô hình này phải được điều chỉnh hàng năm, nhưng ý chí của lãnh đạo phải hết sức kiên trì và hệ thống Chính phủ phải hết sức trong sáng thì mới mong giúp cho đại đa số người dân đạt đươc Giấc Mơ Việt Nam. Tôi gọi ý chí và phương pháp này là Đề Án VN21.

Nhưng chiến tranh tàn khốc đã làm tôi hoang mang giống như toàn thể những người của thế hệ tôi, là mọi việc chỉ như hoang tưởng bởi vì chúng nằm ngoài tầm kiểm soát của mình. Tôi phải thu mình lại trong thế giới của tôi là có 10 anh chị em cần được giúp đỡ. Tôi cần giúp cha mẹ tôi nuôi các em ăn học nên người để chúng tự mình có thể xoay xở được với những giông bão của cuộc đời. Tôi trở lại Mỹ làm việc kiếm tiền ở lĩnh vực tôi đã được đào tạo. Tôi làm việc cho các công ty nguyên tử, đã kiếm đủ sống và đã giúp được gia đình như mong muốn. Từng người một các em của tôi lần lượt đi học đại học ở nước Mỹ. Tôi lại có thể tiếp tục học ở MIT cho tới bằng Tiến sĩ về kỹ thuật nguyên tử vào năm 1972. Tôi làm Kỹ sư trong lĩnh vực năng lượng và môi trường, những ngành công nghệ càng ngày càng quan trọng ở Mỹ vì các tập đoàn xây dựng những nhà máy nguyên tử đã làm việc ào ạt nhưng không cẩn thận, thành ra nhiều nhà máy này chạy không tốt. Tôi đã tham gia xây dựng bốn nhà máy điện nguyên tử, cùng là tham gia lập kế hoạch cho nhiều nhà máy khác. Những tai nạn tại các nhà máy điện nguyên tử như Three-Mile Island ở Mỹ, Windcale ở Anh, và Chernobyl ở Nga đã làm người dân không tin tưởng ở sự an toàn của điện nguyên tử. Do đó tôi bắt tay với một số khoa học gia thiết kế những lò nguyên tử rất an toàn để triển khai vào thời kỳ thứ hai khi nhân loại cần đến chúng, một thời kỳ thực ra bây giờ đang diễn tiến bởi vì dầu hỏa trở nên rất đắt. Để hiểu rõ hơn tiềm năng của điện nguyên tử, tôi cũng đã nghiên cứu các nguồn năng lượng khác như than đá, khí đốt tự nhiên, sức nước, sức gió, năng lượng thủy triều và năng lượng trực tiếp của mặt trời. Và tôi cũng đã khảo cứu hiện tượng hâm nóng khí quyển, một hiện tượng mà ông Al Gore có giải thưởng Nobel gọi là "Một sự thật không thoải mái". Đó là hiệu ứng nhà kính vì chất carbonic do việc đốt nhiên liệu tỏa ra khí quyển làm sức nóng mặt trời bị giữ lại nhiều hơn, không khí nóng hơn lên và do đó băng tuyết ở Bắc Cực và Nam Cực tan ra nhiều hơn, khiến nước biển dâng cao gây lụt lội tại các miền đồng bằng ven biển khắp thế giới.

Trong khi chung vai thích cánh với nhiều nhà khoa học lo khảo cứu tương lai của thế giới về các vấn đề năng lượng và môi trường, tôi vẫn luôn luôn bị ám ảnh bởi Giấc Mơ Việt Nam:

Khi nào quê hương của tôi tiến được tới mức sử dụng năng lượng bằng 10% của người Mỹ? Khi nào kinh tế của Việt Nam phát triển ngang với Nam Hàn, Đài Loan và Mã Lai? Khi nào người Việt bình thường không còn phải lo lắng còn sinh tồn ngày mai, có đủ cơm ăn áo mặc và nuôi được con cái, có tiền trả Bác sĩ, có nơi trú ẩn qua mùa mưa gió?

Nhưng Giấc Mơ Việt Nam đã trở thành xa xỉ vì những vấn đề hậu chiến tại Việt Nam càng ngày càng tồi tệ hơn. Vào những năm 1980 Việt Nam đang ở trên bờ vực của nạn đói. Chiến tranh thì vẫn tiếp tục xảy ra, với Trung Quốc ở phía Bắc và với Cămpuchia ở phía Nam. Hơn một triệu người đã rời bỏ đất nước trên những con thuyền mong manh. Họ gặp muôn vàn khó khăn tủi nhục ngoài biển như bị sóng gió đói khát và bị người đánh cá Thái Lan và Mã Lai cướp bóc, hãm hiếp, tàn sát. Trước những thảm cảnh đó, vợ chồng tôi đã chung tay với nhiều người Mỹ để giúp đỡ những người tị nạn định cư, tìm việc, học tiếng Anh và phong tục của xã hội mới. Cảm ơn nước Mỹ! Nhờ chính sách nhân đạo của họ mà ngày nay gần 2 triệu người gốc Việt tại Mỹ đã có nhà để ở, ô tô để đi làm, tài khoản tiết kiệm ở ngân hàng và thức ăn chứa sẵn trong tủ lạnh. Con cái của người Mỹ gốc Việt có thể đi học tại bất cứ trường nào chúng muốn hay có năng lực. Vâng, nước Mỹ đã cho phép chúng tôi hiện thực hóa Giấc Mơ Việt Nam ở ngay trên nước Mỹ, một cơ hội của xã hội Mỹ mà mọi người lương thiện cần cù làm việc đều được bình quyền tham dự và người ta gọi chung là cơ hội thực hiện Giấc Mơ Hoa Kỳ. Nước Mỹ đã giúp chúng tôi chuyển đổi từ nạn nhân bi thảm của chiến tranh để trở thành những công dân tự tin trong một đất nước tự do, dân chủ, văn minh. Dĩ nhiên, tôi cũng biết rằng nước Mỹ còn rất nhiều vấn đề phải giải quyết, nhưng tôi biết chính quyền và nhân dân Mỹ cũng nhận ra những vấn đề đó và đồng tâm tìm giải pháp một cách dân chủ, công khai. Lòng yêu nước ở Mỹ thường xuất phát từ yêu nước qua sự thật chứ không phải chỉ do kích thích tuyên truyền.

Vì Đại sứ Mỹ, ông Michael Michalak, cũng có mặt ngày hôm nay, tôi muốn được đại diện hàng trăm hàng nghìn người Mỹ gốc Việt kính nhờ Ông chuyển lời cám ơn của chúng tôi tới nhân dân và Chính phủ Mỹ đã dang tay đón nhận chúng tôi trong cơn nguy biến, và giúp chúng tôi thực hiện được Giấc Mơ Hoa Kỳ.

Khi các em của tôi và của vợ tôi đều đã tốt nghiệp đại học và có công ăn việc làm, tôi cho rằng trách nhiệm tự chọn của tôi đối với đại gia đình đã hoàn tất. Vợ chồng tôi thành lập Công ty kinh doanh PAI cho riêng mình. Lý do thành lập Công ty rất đơn giản. Bởi tôi luôn luôn hoàn tất tốt các công việc lãnh đạo giao phó trong quá khứ, tôi tin rằng tôi có khả năng thực hiện các công việc đó khi lập công ty riêng. Cả vợ chồng tôi đều làm việc cật lực, bởi vì chúng tôi cần có hai nguồn thu nhập để đảm bảo việc học hành tốt nhất cho các con. Trong xã hội Mỹ, ai có sức thì phải đóng góp tương xứng chứ không thể ỷ lại vào người khác.

Điều mơ ước của tôi lúc đó là kiếm đủ tiền cho hai con tôi có thể học ở bất cứ trường đắt tiền nào.

Tôi đã thực hiện được giấc mơ này khi con gái đầu của tôi đã học 10 năm rất quy mô sau khi tốt nghiệp trung học để trở thành một Bác sĩ nhãn khoa, và con gái thứ hai của tôi cũng học 7 năm sau trình độ trung học để trở thành Kỹ sư môi trường và nhà kinh doanh. Chúng tôi rất tự hào về thành quả đóng góp này của một người Mỹ gốc Việt cho xã hội. Tôi cho rằng có hai con thay thế cho chúng tôi đóng góp cho xã hội là lý tưởng nhất đứng về phương diện tương lai về lâu về dài của trái đất và nhân loại.

Nhưng tôi tiếp tục bị ám ảnh về Giấc Mơ Việt Nam. Tôi đã 50 tuổi vào năm 1989. Những thông tin tôi có về Việt Nam rất mù mịt và hầu hết là xấu. Bà con của tôi ở quê nhà thiếu thức ăn, thiếu thuốc men, không có phương tiện sinh sống đi lại tốt. Chúng tôi vẫn tìm cách viện trợ cho họ, nhưng cũng không phải dễ vì mọi liên hệ giữa Mỹ và Việt Nam còn bị phong tỏa. Vì tôi không muốn làm chính trị, tôi chỉ mong thực hiện Giấc Mơ Việt Nam bằng các hoạt động nhân đạo. Vợ chồng tôi thành lập Quỹ Học bổng Việt - Mỹ và dốc hầu hết thu nhập của mình vào quỹ này. Nhờ chính sách nhân đạo của Mỹ, số tiền chúng tôi đóng góp không bị đánh thuế. Việc đầu của Quỹ là gửi tiền giúp các trường ở Huế, Sài Gòn và Đà Lạt để họ trang bị máy vi tính và máy chụp tài liệu cần thiết cho việc giảng dạy. Sau đó chúng tôi thành lập chương trình phát 500 giải thưởng mỗi năm cho các học sinh và giáo chức ưu tú. Việc lựa chọn người ưu tú được ủy nhiệm cho trường sở tự làm, chúng tôi chỉ giám sát cho đúng tiêu chí. Nhưng chỉ 3 năm sau ngày thành lập và trao tặng được 500 giải thưởng từ Hà Giang đến Hà Tiên, thì chương trình này bị ông Ủy viên Chính trị của Bộ Giáo dục Việt Nam cấm tiếp tục. Ông này không đồng ý với cách lựa chọn người ưu tú của chúng tôi, cho rằng phải để cho Bộ Giáo dục điều hành. Mặc dầu có sự can thiệp của ông Phó Chủ tịch Quốc hội là ông chú của tôi, và sự can thiệp của Đại sứ Pete Peterson là người học cùng trường với tôi, ông Ủy viên Chính trị vẫn không cho phép tiếp tục. Vì thế, chúng tôi quay ra giúp đỡ con em của những người Việt định cư ở Mỹ, và tạo lập 5 học bổng lâu dài tại 5 trường đại học Mỹ với chủ ý giúp sinh viên Việt Nam. Nhiều trăm học sinh Việt Mỹ đã được hưởng lợi và chương trình này hiện nay vẫn tiếp tục.

Hoài bão thực hiện Giấc Mơ Việt Nam của tôi được nhen nhóm lại khi Tổng thống Clinton bãi bỏ cấm vấn đối với Việt Nam và khi Việt Nam tuyên bố công khai chủ trương hội nhập với quốc tế qua kinh tế thị trường. Dĩ nhiên đây là chiều hướng tốt, nhưng con đường hội nhập và phát triển đất nước rất nhiều chông gai vì còn nhiều vấn đề mà những nhà hoạch định chiến lược Việt Nam chưa đủ kinh nghiệm để vượt qua. Hạ tầng cơ sở của Việt Nam còn yếu kém về mọi mặt, như luật pháp, ngân hàng, giáo dục và môi trường kinh doanh. Về hạ tầng cơ sở vật chất thì Việt Nam còn yếu kém phương tiện giao thông, viễn thông, ngành nghề, và liên hệ hữu hiệu giữa các yếu tố căn bản của nền kinh tế. Tại một nước đang mở mang như Việt Nam thì quyền lực và tiền bạc là những yếu tố nòng cốt, nếu để bị lạm dụng thì Giấc Mơ Việt Nam không thể hình thành cho đại đa số người dân. Thật vậy, diễn biến trong thập niên qua đã chứng tỏ rằng Chính phủ và người có quyền có tiền đã đi ngược lại phần lớn lý tưởng của cả Hồ Chí Minh lẫn niềm mơ ước bình thường của người dân.

Vợ chông tôi thành lập Quỹ Khuyến khích Tự lập năm 1997 với mục đích sử dụng số tiền ít ỏi của chúng tôi giúp cho người nghèo buôn bán sản xuất với sức lực của chính họ. Chúng tôi áp dụng mô hình Grameen của ông Mohammad Yunus tại Bangladesh, người đã được giải thưởng Nobel Hoà bình năm 2006 vì đã khởi xướng thành công việc cho người nghèo vay những số vốn nhỏ mà không cần thế chấp. Ong Yunus là người được mời đọc bài diễn văn chính trong lễ tốt nghiệp của các sinh viên năm nay tại Trường MIT là nơi tôi đã theo học. Chương trình Khuyến khích Tự lập may mắn được ông Nguyễn Nhiên, Trưởng phòng Đối ngoại thành phố Huế và cụ Châu Trọng Ngô, một nhân sĩ nổi tiếng ở địa phương giúp đỡ. Thầm lặng làm việc với người nghèo từ năm 1999 đến nay, chúng tôi đã giúp cho 12.000 gia đình tại 37 địa phương trên địa bàn Thừa Thiên Huế tự lập trong cuộc sống. Trong số những người đó, hơn 3.000 hộ đã không còn cần đến chúng tôi nữa, một sự kiện chúng tôi cho là thành công. Liên Hiệp Quốc đã tuyên dương chương trình của chúng tôi với giải thưởng UN- HABITAT vào tháng 3 năm 2008 tại Colombo. Tôi xin giới thiệu người của chương trình có mặt hôm nay là Ông Phan Văn Hải, Tổng Giám đốc của Trung tâm Khuyến khích Tự lập (TTKKTL) tại Huế. Ông Hải là một một lãnh đạo sáng suốt và chịu khó, hàng ngày chỉ huy 16 nhân viên đóng góp vào cộng đồng và tìm kiếm những gia đình nghèo để giúp họ tự lập. Các nhân viên TTKKTL đều tốt nghiệp đại học và đã làm việc ngày đêm với đồng lương khiêm tốn. Người nghèo rất yêu mến họ bởi họ là những người thành thực, đáng tin cậy, có thái độ phục vụ tận tình và đưa nguồn vốn tới tận tay người nghèo mà không chút nề hà, phiền nhiễu. Chúng tôi đã xây dựng được niềm tin giữa khách hàng và nhân viên của Trung tâm, và niềm tin giữa chúng tôi làm việc tại Mỹ và nhân viên làm việc tại thành phố Huế. Chắc quí vị sẽ ngạc nhiên khi biết rằng tuần tới là lần đầu tiên trong 9 năm tôi thăm chương trình TTKKTL tại thực địa.

Tôi tự hỏi từ nay làm thế nào để thực hiện Giấc Mơ Việt Nam? Có thể nói bản thân tôi và gia đình cha mẹ anh em của tôi đã may mắn thực hiện được đời sống đủ ăn đủ mặc không phải lo nghèo đói nữa. Chúng tôi lại được sống trong một xã hội phồn vinh, có làm thì có ăn, được pháp luật che chở, không bị ai đè nén hiếp đáp. Tôi chắc đại đa số quý vị có mặt ngày hôm nay cũng đều được như vậy. Nhưng còn 95% trong số 85 triệu người Việt Nam khác thì sao? Những người này thường xuyên phải lo lắng về cơm gạo áo tiền. Họ có được sung sướng không? Vô số người có cuộc sống mong manh đến nỗi chỉ một thiên tai hoặc một tai nạn cũng làm tiêu tan tài sản và cuộc đờì. Vô số học sinh phải bỏ học để kiếm vài chục đồng mỗi ngày phụ giúp bố mẹ lo cho gia đình được bữa cơm bữa cháo. Và còn hàng trăm ngàn công nhân lao động bị bóc lột tại các xưởng hoặc nhà riêng của người ngoại quốc. Họ bị đối xử như nô lệ bởi không biết tiếng nói phong tục xứ người và không ai bảo vệ quyền lợi cho họ. Họ thường bị bắt buộc làm cả ngày đêm, lừa bịp lương bổng, chà đạp nhân phẩm, thậm chí đánh đập cho tới chết hoặc hãm hiếp và bán vào nhà điếm.

Tôi năm nay đã 68 tuổi. Tôi biết rõ một điều mà một đứa trẻ lên năm cũng biết. Đó là không ai có được mọi thứ như mình mong muốn! Tôi không có quyền lực gì và cũng chẳng có nhiều tiền. Tôi biết rằng không ai có thể giúp toàn thể người Việt Nam thực hiện được Giấc Mơ Việt Nam hôm nay, hoặc sang năm, hoặc trong 10 năm nữa. Nhưng nếu ta biết rõ mục đích của ta và khi ta dùng phương pháp thực hiện công việc có hệ thống theo đề án VN21, thì may ra ta có thể thực hiện được Giấc Mơ Việt Nam trong vòng 100 năm nữa, nghĩa là đến năm 2100. VN21 là phương pháp định hướng đào tạo bài bản nguồn nhân lực Việt Nam từ giai đoạn mẫu giáo của người trẻ tuổi. Nó triệt để áp dụng kinh nghiệm thực tiễn của các nước đã đi trước để giải quyết các vấn đề của nước ta. Thay vì đào tạo hàng loạt Giáo sư Tiến sĩ ở ngoại quốc, VN21 chủ trương trang bị lại những kỹ năng hiện có, trau giồi thêm và gắn kết với nhu cầu thực tế chung quanh ta. Dĩ nhiên VN21 khuyến khích cộng tác triệt để với các chuyên gia quốc tế và người Việt ở hải ngoại, một nguồn lực đã có sẵn mà ta chỉ cần khéo léo sử dụng mà không cần bỏ nhiều vốn và thời gian để "trồng người" như trước thời chiến tranh Bắc Nam.

Với vô vàn công việc phải làm để xây dựng một ngày mai tươi đẹp hơn cho đại đa số người Việt Nam, tôi nhận ra rằng cách tốt nhất tôi có thể góp phần thực hiện Giấc Mơ Việt Nam là giúp cho nhiều người khác có cùng tâm trí như tôi làm các việc mà tôi hằng muốn làm nhưng không đủ tài năng, thì giờ và tiền bạc.

Vì vậy, kính thưa quý vị, tôi xin tuyên bố ngày hôm nay trước quý vị là vợ chồng tôi là những cá nhân khiêm tốn giống như trăm ngàn người khác nhưng muốn đóng góp tài sản của mình là 3 triệu USD để làm vốn khuyến khích bè bạn gần xa hoạt động giúp nhiều người Việt Nam thực hiện Giấc Mơ Việt Nam. Chúng tôi sẽ yêu cầu Mạng lưới Từ thiện Việt Mỹ ngoài Chính phủ (VA-NGO Network) sử dụng vốn này làm cái nhân gây quỹ to lớn hơn để đóng góp vào việc thực hiện Giấc Mơ Việt Nam, theo ba chiều hướng sau:

• Giúp các hội NGO Việt Nam ở Hoa Kỳ xây dựng tiềm năng qua việc quyên góp gây vốn để tổ chức, hợp tác và thực thi các hoạt động của hội mình trong mục đích giúp đỡ người Việt có hoàn cảnh khó khăn.

• Giúp các hội NGO Việt Nam ở Hoa Kỳ làm việc với các NGO dân sự ở Việt Nam để xây dựng tiềm năng qua việc quyên góp gây vốn và đoàn kết người Việt Nam cùng bè bạn trong nước cũng như ngoài nước, để hợp tác giúp đỡ người Việt có hoàn cảnh khó khăn.

• Giúp các nhà giáo và các nhà khảo cứu kế hoạch xây dựng xã hội tự do, dân chủ, văn minh trong nước cũng như ngoài nước để họ tìm thêm nguồn vốn và cơ hội thực thi những giải pháp bền vững giúp đại đa số người Việt thực hiện Giấc Mơ Việt Nam. Giáo dục, y tế và xây dựng làng xã từ cội gốc là chiều hướng quan trọng trong công tác kéo dài hàng thế kỷ chúng ta cần thực thi thay vì chỉ tung hô khẩu hiệu "Dân giàu; Nước mạnh; Xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".

Tôi xin dùng bài thơ "Thành công" của Ralph Waldo Emerson làm kết luận. Ông Emerson là một nhà thơ và nhà giáo giống như Nguyển Khuyến hoặc Nguyễn Trãi của Việt Nam. Ông sinh khoảng năm Nguyễn Ánh thống nhất Việt Nam và mất 2 năm trước khi người Pháp hoàn toàn biến Việt Nam thành thuộc địa vào năm 1884. Bài thơ này tôi đã dịch sang tiếng Việt một cách phóng khoáng:

Bạn ơi! biết cười luôn, biết yêu nhiều

Được người đời kính trọng

Được con trẻ yêu mến

Được phê bình là "tạm được"

Chịu đựng được cái đau bị bạn bè phản bội

Biết thưởng thức cái đẹp

Biết tìm ra cái tốt nhất nơi người khác;

Biết cống hiến hết mình

Để lại cho đời một cái gì tốt hơn

Ví như nuôi con cái nên người

Hoặc vun xới một mảnh vườn tốt tươi

Hoặc xã hội được cái thiện;

Đã chơi say mê và cười thoải mái

Và ca hát vang lừng

Biết đã giúp một cuộc đời được dễ thở hơn

Vì mình đã làm đã sống…

Bạn ơi, như vậy là đã thành công!

(Ralph Waldo Emerson, 1803-1882)

Thành công đối với tôi còn rất xa vời. Nhưng quý vị và tôi nếu cùng nhau làm việc thì chúng ta sẽ thành công trong việc thực hiện Giấc Mơ Việt Nam 100 năm nữa cho toàn thể con cháu Lạc Hồng

Xin cảm ơn quí vị.

P.L.Đ.

Ông Phùng Liên Đoàn là một khoa học gia và doanh nghiệp tại Mỹ. Ông xuất thân người làng Bát Tràng nay thuộc Hà Nội. Ông học Trung học Nguyễn Trãi ở Hà Nội và Petrus Ký (nay là Lê Hồng Phong) ở Sài Gòn. Ông đi du học năm 1958 ở Mỹ, đậu Cử nhân Vật lý và Cử nhân Toán tại Florida State University; và Thạc sĩ Vật lý và Thạc sĩ Nguyên tử tại Massachussetts Institute of Technology (MIT). Ông về nước làm việc năm 1964 tại Trung tâm Nguyên tử Đà Lạt. Ông đi Mỹ lại năm 1967, vừa làm việc vừa đi học, và đậu bằng Tiến sĩ Nguyên tử năm 1972 tại MIT.

Từ 1967 tới 1975 Ông Đoàn đã làm việc thiết kế 4 nhà máy nguyên tử tạo điện tại United Engineers and Constructors (nay thuộc Raytheon) cho hai tiểu bang New York và South Carolina. Từ 1975 tới 1983 ông Đoàn khảo cứu năng lượng tại một Vựa Tư Tưởng có tên là Institute for Energy Analysis tại Oak Ridge Associated Universities thuộc tiểu bang Tennessee. Từ 1983 cho tới nay, ông Đoàn là Tổng Giám đốc Công ty Tư vấn kỹ thuật Professional Analysis, Inc. (PAI) có cơ sở làm việc về các vấn đề nguyên tử và môi trường tại nhiều trung tâm nguyên tử khắp nước Mỹ. Ông Đoàn đã từng làm việc với nhiều khoa học gia nổi tiếng, kể cả vài vị có giải thưởng Nobel và Fermi. Ông Đoàn cũng đã có nhiều giao kèo làm việc với US Department of Energy, US National Aeronautic and Space Administration, và US Nuclear Regulatory Commission, cùng là các công ty có dịch vụ nguyên tử như General Electric, Westinghouse, Babcock and Wilcox, Asea Atom, Bechtel, Lockheed Martin, Parsons, và Wackenhut.

Ông Đoàn đã từng là hội viên của các hội khoa học như American Nuclear Society, American Association for the Advancement of Science, New York Academy of Science, và là Kỹ sư có bằng hành nghề tại các tiểu bang Pennsylvania, Florida và Tennessee.

Ông Đoàn tuy ở xa Việt Nam lâu năm nhưng luôn luôn hướng về Việt Nam trong các hoạt động từ thiện suốt 40 năm qua. Ông đã giúp đồng bào qua các tổ chức như Aide à l'Enfance du Vietnam, Save the Children, Social Assistance Program for Vietnam, East Meets West Foundation, Room to Read, American Helping Asian Children, Nom Preservation Foundation, Friends of Hue Foundation, Vietnamese Culture and Science Association, Institute of Vietnamese Culture and Education, Hội Khuyến học Nam California, Hội Đọc sách Giải trí Giáo dục (Sài Gòn), Vietnamese American Scholarship Fund, và Fund for the Encouragement of Self-Reliance. Từ năm 1988 đến nay, chương trình Khuyến học Việt Mỹ và Khuyến khích Tự lập của gia đình Ông đã giúp xây dựng được nhiều trường học, mổ xẻ cho nhiều trẻ em tàn tật, mổ bệnh mắt cho nhiều người già, và đặc biệt là giúp hơn 12,000 gia đình nghèo tại Thừa Thiên Huế tự lập bằng phương pháp Grameen mà người chủ chốt là ông Mohammed Yunus mới được giải thưởng Nobel Hòa bình năm 2006. Chương trình của ông Đoàn tại Việt Nam cũng được Liên Hiệp Quốc trao giải thưởng UN-HABITAT Civil Society Innovation năm 2008.

Hiện ông Đoàn chủ trương khuyến khích bạn bè thực hiện các chương trình giáo dục và kiến thiết có tầm nhìn 100 năm để giúp các thế hệ Việt Nam tương lai được sống trong một xã hội thịnh vượng, tự do, dân chủ, văn minh, mà ông gọi là Giấc Mơ Việt Nam.

Ông bà Đoàn có hai con và ba cháu. Ông và gia đình chưa hề tham dự một tổ chức chính trị hoặc đảng phái nào.

Kỹ sư NĐT gửi cho BVN

Thứ Bảy, 1 tháng 12, 2012

Cuộc đua về bét : Myanmar và Việt Nam đi ngược chiều nhau về vấn đề nhân quyền

Nguồn anhbasam

HUMAN RIGHTS WATCH / Strategic Review

7-11-2012 1

Phil Robertson, Phó Giám đốc Ban Á Châu của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch)

Khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tới thăm Myanmar hồi tháng Tư năm 2010, ông khẳng định với các nhà lãnh đạo hàng đầu rằng Việt Nam ủng hộ "lộ trình" dân chủ hóa của quốc gia này. Sau đó, ông phát biểu từ ghế chủ tịch đoàn trong lễ bế mạc Hội nghị Thượng đỉnh thường niên ASEAN lần thứ 16 tại Hà Nội rằng cuộc bầu cử sắp tới ở Myanmar cần diễn ra một cách "tự do và dân chủ, với sự tham gia của tất cả các đảng phái." Lời phát biểu đó thật sự ấn tượng, nhất là từ miệng nhà lãnh đạo một chính phủ độc đảng, nơi Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) được Hiến pháp quy định rõ vai trò "là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội," và chính quyền kiểm soát chặt chẽ mọi cuộc bầu cử.

Nhưng lời phát biểu trên của ông Dũng không gây được nhiều chú ý, vì nhiều sự lạ đời và đạo đức giả hơn thế từng được tuyên bố tại các hành lang cũng như trong các phòng họp của ASEAN nhiều năm qua. Đa số các quan sát viên cho rằng Việt Nam chỉ đơn giản là lại hành xử với vai trò lãnh đạo một nhóm trong ASEAN, được gọi là CLMV (Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam) đều có chính quyền độc đoán hà khắc, luôn cùng nhau cố gắng hạn chế những ý kiến chỉ trích và tìm cách gỡ bỏ rào cản kinh tế của các đối tác đối thoại của ASEAN, như Úc, Canada, Mỹ và Liên minh Châu Âu nhằm vào Myanmar.

Chỉ hơn sáu tháng sau, vào ngày mồng 7 tháng Mười Một năm 2010, Myanmar tổ chức bầu cử nghị viện, trong đó 25 phần trăm tổng số ghế được dành cho quân đội. Cuộc bỏ phiếu này không thể nói là tự do hay công bằng, do đã được dàn xếp trước để đảm bảo thắng lợi áp đảo của Hiệp hội Liên đoàn Đoàn kết và Phát triển, một tổ chức chính trị được quân đội hậu thuẫn.

Vào thời điểm Thủ tướng Dũng đưa ra lời phát biểu nêu trên, Myanmar đang có bảng thành tích tệ hại – như quân đội nắm chính quyền suốt từ năm 1962, bà Aung San Suu Kyi, người được trao giải Nobel Hòa bình đang bị quản chế tại gia, hàng trăm tù nhân chính trị đang bị giam giữ, các cuộc biểu tình bị đàn áp dã man, luật pháp hà khắc, các quyền dân sự và chính trị luôn bị đè nén, khiến quốc gia này trở thành "trường hợp cá biệt," thậm chí ngay cả khi so với các nước láng giềng trong khối ASEAN.

Vì vậy, ít người có thể hình dung được, chỉ hai năm sau đó, các nhà hoạch định chính sách và giới báo chí lại phải công khai so sánh Việt Nam với Myanmar để xem quốc gia nào đáng bị gọi là quốc gia vi phạm nhân quyền tệ nhất ASEAN – một biệt danh chẳng ai muốn có. Đương nhiên, đây là một động thái ít nhiều mang tính chất trò chơi ngoại giao, vì đối với các nạn nhân thì bị vi phạm nhân quyền, dù ở đâu cũng tệ cả.

Nhưng khi Myanmar đang hướng tới chiếc ghế chủ tịch ASEAN vào năm 2014, những người quan tâm về nhân quyền trong khu vực đương nhiên tự vấn rằng liệu có thể diễn ra một cuộc đua giữa Myanmar và Việt Nam để tránh làm kẻ đội sổ, dẫn đến những cải thiện về thành tích nhân quyền ở cả hai nước này hay không. 

Những tiến bộ của Myanmar

Dù còn rất nhiều việc phải làm, nhưng Myanmar dưới chính quyền của Tổng thống Thein Sein đã có những bước tiến quan trọng để thay đổi bảng thành tích cũ vốn rất tồi tệ về nhân quyền của mình. Nổi bật nhất là việc dỡ bỏ những hạn chế và cho phép bà Aung San Suu Kyi cùng các cộng sự trong Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (LĐQGDC) ra tranh cử trong cuộc bỏ phiếu ngày mồng 1 tháng Tư năm 2012. Có tổng số 43 thành viên của LĐQGDC trúng cử, chỉ tương đương với gần 7 phần trăm số ghế trong nghị viện. Tuy nhiên, thắng lợi đó là một bước khởi đầu quan trọng cho cuộc bầu cử năm 2015, khi có 75 phần trăm tổng số ghế trong Nghị viện sẽ được định đoạt bằng lá phiếu.

Nhưng cũng có nhiều bước cải cách ở Myanmar chỉ mang tính hình thức, theo kiểu tay này đưa thì tay kia giật lại. Ví dụ như hơn 600 tù nhân chính trị, trong đó có các nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng như Min Ko Naing và các nhà hoạt động khác, từng lãnh đạo cuộc nổi dậy vì dân chủ năm 1988, danh hài Zargana và các lãnh tụ dân tộc thiểu số như nhà lãnh đạo dân tộc Shan, Khun Htun Oo – được thả, một động thái được quốc tế hoan nghênh. Nhưng rất ít người trong số đó được phép ra khỏi Myanmar – nghệ sĩ Zargana là trường hợp ngoại lệ, vì chính quyền Myanmar từ chối cấp hộ chiếu cho họ. Chính quyền Myanmar cũng vẫn im hơi lặng tiếng về trường hợp của hàng trăm tù nhân chính trị khác, không được nổi tiếng bằng số người nêu trên, hiện đang còn trong vòng kiềm tỏa của hệ thống ngục tù bí hiểm của quốc gia này. Tổ chức Hỗ trợ Tù nhân Chính trị (HTTNCT) có trụ sở tại Thái Lan, do những cựu tù nhân chính trị Myanmar đang sống lưu vong thành lập, cho biết hiện có ít nhất 394 tù nhân nữa đang bị giam giữ, chưa tính 424 trường hợp khác đang được HTTNCT xác minh, tính đến ngày mồng 1 tháng Chín năm 2012. Một nhóm khác ở Yangon, Mạng lưới Cựu Tù nhân, đã tiến hành phỏng vấn những người mới ra tù và ước tính hiện có tới 445 tù nhân chính trị đang bị giam giữ. Những người quan sát hiểu biết tình hình nhận xét rằng có nhiều khả năng tù nhân chính trị người dân tộc thiểu số không nằm trong bất kỳ danh sách nào, nhất là những người Hồi giáo Rohingya từ các bang Arakan và Kachin ở các vùng xa xôi phía Bắc, và họ cũng cần phải được phóng thích. Để giải quyết tận gốc vấn đề này, và đảm bảo rằng tất cả các tù nhân chính trị đều được thả hết, chính quyền Myanmar cần chấp thuận việc thành lập một ủy ban kiểm tra có thành phần quốc tế tham gia để thống kê tổng số tù nhân chính trị đang bị giam giữ một cách triệt để và độc lập.

Chính quyền Myanmar đã ký các thỏa thuận ngừng bắn với nhiều nhóm sắc tộc tự trị có vũ trang, kể cả nhóm Liên minh Dân tộc Karen (LMDTK), là nhóm đã tiến hành một trong những phong trào nổi dậy lâu nhất trên thế giới. Ông Aung Min, đại diện cho Văn phòng Tổng thống, đã gặp gỡ các lãnh tụ dân tộc thiểu số, các nhà hoạt động dân chủ lưu vong, các tổ chức phi chính phủ và nhiều tổ chức khác để thúc đẩy hòa giải với hàng loạt cuộc họp, điều mà chỉ hai năm trước đây không ai có thể tưởng tượng nổi. Các nhân vật lưu vong lâu năm, như nhà hoạt động công đoàn Maung Maung, cựu lãnh đạo sinh viên Naing Aung và Moe Thee Zun và nhà hoạt động chính trị quốc tế Thaung Htun đã được phép trở về Myanmar.

Các thỏa thuận ngừng bắn với các nhóm sắc tộc thiểu số vẫn còn mong manh, và chưa dẫn đến việc cắt giảm quân số ở các vùng dân tộc thiểu số hay các cuộc đàm phán có trọng lượng để hòa giải lâu dài. Các vấn đề chính trị quan trọng như phân quyền, quan hệ giữa các bang và nhà nước liên bang, và việc chịu trách nhiệm về những vi phạm nhân quyền trong quá khứ chưa được đặt lên bàn đàm phán. Quân đội vẫn tiếp tục cưỡng ép lao động không công, tham gia các vụ tống tiền và lạm dụng, nhất là đối với những người dân thường thuộc các sắc tộc thiểu số. Và ở bang Kachin, nơi tiếp tục diễn ra các cuộc giao tranh khốc liệt giữa Quân đội Kachin Độc lập và lực lượng của chính quyền Myanmar, không có mấy thay đổi rõ rệt trong chiến thuật của Quân đội Myanmar nhằm mục tiêu vào dân thường và gây ra những vụ lạm dụng nhân quyền trầm trọng.

Một dấu hiệu khả quan hơn là Myanmar đã ký kết thỏa thuận có tính ràng buộc, kèm theo kế hoạch hành động chi tiết, với Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về việc chấm dứt lao động cưỡng ép, và với tổ công tác Liên Hiệp Quốc về chấm dứt sử dụng trẻ em làm chiến binh. Ngày mồng 3 tháng Chín, Quân đội Myanmar thả đợt đầu tiên gồm 42 chiến binh trẻ em về cho cha mẹ và người thân chăm sóc. Một loạt các văn bản pháp luật cũng được sửa đổi để đảm bảo các quyền tự do rộng hơn, ví dụ như cho phép tụ tập ôn hòa nơi công cộng và thành lập các công đoàn. Ngày 20 tháng Tám, chính quyền tuyên bố chấm dứt kiểm duyệt trước khi xuất bản, một bước tiến quan trọng đặt nền móng cho tự do báo chí – mặc dù cũng trong ngày đó, Bộ Thông tin Myanmar ra hướng dẫn chi tiết cho hoạt động truyền thông, trong đó có điều khoản nghiêm cấm phê phán chính phủ hay các chính sách của chính phủ.

Rõ ràng là vẫn còn nhiều việc phải làm, vì hàng loạt quy định pháp luật hà khắc từng được sử dụng để đối phó với các nhà hoạt động chính trị vẫn còn nguyên hiệu lực – có thể kể tên một số ít trong đó như: Đạo luật về Hội họp Bất hợp pháp [Unlawful Association Act], Luật Bảo vệ Nhà nước [State Protection Law] và Đạo luật về Tình trạng Khẩn cấp [Emergency Provisions Act]. Vẫn có những rủi ro về nguy cơ đảo ngược tiến trình cải cách, đặc biệt là khi xem xét vai trò của Quân đội Myanmar trong lịch sử, và quyền lực được Hiến pháp 2008 trao, khiến quân đội tiếp tục nằm ngoài tầm kiểm soát của một chính phủ có danh nghĩa dân sự. Tuy vậy, chính quyền của Thein Sein có vẻ đã đáp ứng được phần lớn những mong đợi của cộng đồng quốc tế về đường lối dân chủ hóa. Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu và Canada đua nhau đình chỉ hoặc gỡ bỏ lệnh cấm vận kinh tế kéo dài nhiều năm qua, bất chấp sự phản đối của các nhà vận động nhân quyền ở Myanmar và quốc tế, vốn nhận định rằng một tiến trình gỡ bỏ từng bước sẽ giữ được sức ép tốt hơn để đảm bảo các bước cải cách phải được duy trì.

Trên thực tế, các thay đổi nói trên đã tạo đà cho những cải cách bền vững hơn, nhưng đồng thời cũng gây ra tâm lý siêu lạc quan kiểu "cơn sốt vàng" trong một bộ phận của cộng đồng quốc tế về một "đất nước Myanmar mới." Liệu Quân đội Myanmar có chấp nhận tiếp tục lộ trình đó hay không vẫn còn là câu hỏi lớn, nhất là nếu và khi tiến trình cải cách bắt đầu động chạm đến các thỏa thuận làm ăn giữa các sĩ quan quân đội cùng các thương gia bè phái nhiều vây cánh. Phe cứng rắn và bảo thủ trong quân đội vẫn còn quyền lực để có thể kìm hãm, thậm chí đảo ngược những nỗ lực cải cách. Tuy nhiên, với việc Tổng thống Thein Sein sẽ nắm quyền đến năm 2015, giới đầu tư nước ngoài đang đặt cược rằng cỗ xe cải cách sẽ tiếp tục tiến lên phía trước. 

Bước thụt lùi của Việt Nam

Như đã phân tích ở trên, Myanmar vẫn còn rất nhiều việc dang dở phải làm, dù đã có xu hướng đi lên xét về góc độ tôn trọng nhân quyền. Trong khi đó, Việt Nam đang lún nhanh hơn vào bãi lầy phát triển kinh tế và nhân quyền. Phải chứng kiến những bước tiến hướng tới cải cách của Myanmar chắc hẳn gây cảm giác không mấy dễ chịu cho một số nhà lãnh đạo ở Hà Nội. Dù gì chăng nữa, suốt hơn một thập kỷ qua, Myanmar luôn dễ dàng giành danh hiệu quốc gia vi phạm nhân quyền nghiêm trọng nhất trong khối ASEAN. Đây quả là một thành tích đáng kể trong nhóm các quốc gia, được các nhà phê bình đặt cho cái tên thích hợp là "câu lạc bộ các nhà độc tài" từ khi được thành lập vào năm 1967, gồm năm nhà lãnh đạo độc tài của Philippines,

Indonesia, Singapore, Malaysia và Thái Lan, sau này gộp thêm Thủ tướng Hun Sen của Campuchia, và các nhà lãnh đạo chuyên chế từ Việt Nam, Lào, Singapore, Brunei và Malaysia.

Nhưng giờ đây, khi Myanmar đang thực hiện cải cách, giới ngoại giao và tài trợ quốc tế ở Hà Nội đang tự hỏi liệu Việt Nam có được phong là "ca nhân quyền tuyệt vọng nhất" của ASEAN hay không? Không có gì lạ khi giới lãnh đạo chóp bu ở Hà Nội không mấy dễ chịu trước viễn cảnh bị soi gáy như thế.

Dù chính phủ cả hai quốc gia đều có bảng thành tích nhân quyền tệ hại, nhưng kể từ sau năm 1988, Việt Nam và Myanmar được đối xử khác hẳn, với rất nhiều ưu đãi được dành cho Việt Nam. 1988 là một năm đầy sự kiện với cả hai quốc gia. Myanmar đàn áp dã man những người biểu tình dân chủ ở Rangoon và các thành phố khác vào tháng Chín năm 1988, giết chết khoảng 3000 người theo ước tính hoặc nhiều hơn thế, và buộc hàng ngàn người khác phải chạy trốn vào rừng hay xa hơn nữa. Ngay hôm trước ngày khởi đầu chiến dịch đàn áp, các tướng lĩnh Myanmar thành lập một chính quyền quân phiệt mới, gọi là Hội đồng Khôi phục Trật tự và Luật pháp Liên bang (HĐKPTTLPLB). Nhưng sức ép quốc tế bắt đầu gia tăng sau khi bà Aung San Suu Kyi bị quản chế tại gia vào năm 1989 và đảng của bà không được nhận bàn giao quyền lực dù đã thắng áp đảo trong cuộc bầu cử nghị viện năm 1990. Đầu tư nước ngoài càng ngày càng bị thắt chặt, hạn chế và kiểm soát vì các nhà hoạt động nhân quyền quốc tế và phong trào dân chủ nội địa của Myanmar thúc đẩy chính sách gây sức ép và cấm vận, và cuối cùng giành được sự ủng hộ của nhiều chính phủ phương Tây.

Trong cùng năm đó, Việt Nam tuyên bố bắt đầu rút quân khỏi Campuchia, và hoàn tất việc rút quân vào năm 1989, khởi đầu cho tiến trình chấm dứt nội chiến ở Campuchia đánh dấu bằng việc ký kết Hiệp định Hòa bình Paris, và bình thường hóa quan hệ Hoa Kỳ – Việt Nam vào năm 1995. Một sự kiện khác không kém phần quan trọng là việc Hà Nội triển khai chính sách đổi mới, nhằm mở cửa nền kinh tế, khiến nhiều tập đoàn lớn của Hoa Kỳ hào hứng đầu tư vào Việt Nam đã tạo sức ép thay đổi chính sách của Hoa Kỳ. Việc thiếu vắng một nhân vật đối lập có khả năng tập hợp được mọi người như Aung San Suu Kyi đặt các nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam vào thế cực kỳ bất lợi, giữa lúc các nhà đầu tư đang hăm hở tin rằng Việt Nam sẽ là con hổ kinh tế mới ở Châu Á. Các tập đoàn nước ngoài đổ xô đến tìm kiếm lợi nhuận từ nguồn nhân công giá rẻ và một lực lượng lao động cần cù. Cơn sốt này đã gạt ra ngoài lề những mối quan ngại lớn về nhân quyền liên quan đến Đảng Cộng sản Việt Nam và thái độ không chấp nhận bất kỳ một hình thức đối lập nào của đảng này. Từ khi đất nước được thống nhất vào năm 1975, ĐCSVN chưa hề ngần ngại vi phạm nhân quyền khi thấy vị trí hay đặc quyền của mình bị thách thức.

Sau khi Thủ tướng đương nhiệm Nguyễn Tấn Dũng lên nắm quyền vào năm 2006, có thể thấy rõ sự gia tăng của những xu hướng sau đây. Một là, chủ nghĩa bè phái và tham nhũng trong các doanh nghiệp nhà nước cùng nạn dịch thâu tóm đất đai của những nhà đầu tư trong và ngoài nước nhiều vây cánh đã đổ thêm dầu vào ngọn lửa phẫn nộ của người dân đối với các quan chức ĐCSVN đã và đang lợi dụng chức vụ để làm giàu cho bản thân. Hai là, ông Dũng đã sử dụng các đồng minh trong Bộ Công an (BCA) cố gắng bưng bít mọi tiếng nói bất đồng chính kiến, và nhờ mối quan hệ chặt chẽ với bộ này đã khiến ông ta trở thành một trong những thủ tướng nhiều quyền lực nhất trong giai đoạn gần đây.Và ba là, khi các tiếng nói thách thức nền chính trị độc đoán và chủ nghĩa tư bản bè phái xuất hiện ngày một nhiều, chính quyền gia tăng đàn áp các nhà hoạt động và bất đồng chính kiến, khiến nhân quyền càng bị coi thường. Trong khi lạm phát tăng cao, dẫn đầu là giá thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác, tốc độ đầu tư chậm lại vì nhu cầu hàng xuất khẩu Việt Nam ở các thị trường Châu Âu và Bắc Mỹ đang yếu đi do nền kinh tế gặp khó khăn, ngày càng có nhiều bức xúc với chính phủ, để rồi vấp phải sự đối phó của một nhà nước chỉ biết chăm chăm lo ổn định trật tự.

Kết quả là những người cầm bút, viết blog độc lập, các nhà lãnh đạo tôn giáo và các nhà hoạt động từng thắc mắc về chính sách nhà nước, phanh phui các vụ tham nhũng của quan chức, chống lại việc tịch thu và cưỡng chế đất đai, đòi hỏi tự do thực hành tín ngưỡng hay đòi hỏi các giải pháp dân chủ thay thế nền cai trị độc đảng, thường xuyên bị công an sách nhiễu, theo dõi gắt gao, giam giữ không cho tiếp xúc với bên ngoài tới một năm hoặc lâu hơn mà không được tiếp cận nguồn hỗ trợ pháp lý, và bị xử trong các phiên tòa một-ngày, với mức án tù ngày càng nặng hơn vì những tội danh mơ hồ về an ninh quốc gia.

Đàn áp có tính sáng tạo

Các điều luật về an ninh quốc gia được đặt tên như trong tiểu thuyết của George Orwell. Điều 79, có nội dung cấm "hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân," có thể mang đến án tử hình. Điều 87, "phá hoại chính sách đoàn kết," hay điều 88, "tuyên truyền chống nhà nước" có thể đưa người vi phạm vào tù từ 15 đến 20 năm. "Phá rối an ninh" theo điều 89 có thể dẫn đến 15 năm tù. Kể cả khi rời khỏi đất nước, chính quyền cũng không tha thứ cho kẻ vi phạm và có thể xử tới án tù chung thân theo điều 91, "trốn ra nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân." Và nếu không khép được vào tội nào khác, vẫn còn có điều 258 có thể dùng trong mọi trường hợp để xử tội "lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước," với mức án lên tới bảy năm tù.

Xem xét hồ sơ nhân quyền của Việt Nam cho thấy các điều luật nói trên thường xuyên được sử dụng để hình sự hóa các quyền tự do ngôn luận, lập hội và nhóm họp ôn hòa, đưa đến các án tù lâu năm cho các nhà hoạt động; tra tấn trong giai đoạn tạm giữ trước khi xét xử là chuyện thường xảy ra; có các chiến dịch được dàn dựng bài bản để đe dọa và sách nhiễu các nhà hoạt động; kiểm duyệt báo chí rộng khắp và ngày càng gia tăng nỗ lực nhằm giám sát và hạn chế những ý kiến phê bình trên mạng internet; thường xuyên chà đạp quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo; sử dụng có hệ thống lao động cưỡng ép trong các trung tâm cai nghiện ma túy và các trại được gọi là cải tạo.

Hoạt động của các nhà tù và hệ thống trại giam của Việt Nam, nhất là ở các vùng xa, vẫn còn là điều hết sức bí ẩn, khiến việc thống kê tổng số tù nhân bị giam giữ vì lý do chính trị trở nên rất khó khăn, nhưng Tổ chức Theo dõi Nhân quyền ước tính con số này phải lên tới hàng trăm.

Trong năm 2011, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền ghi nhận được chính quyền Việt Nam đã xử ít nhất 33 nhà bất đồng chính kiến và hoạt động các mức án tù lâu năm, kèm theo các hình phạt bổ sung như quản chế hoặc hạn chế ngặt nghèo quyền tự do đi lại sau khi được thả. Những người này bị truy tố chỉ vì đã thi hành các quyền tự do được ghi nhận trong Điều 69 của Hiến pháp Việt Nam và các điều 18 (tự do tôn giáo và tín ngưỡng), 19 (tự do ngôn luận), 21 (quyền nhóm họp ôn hòa) và 22 (tự do lập hội) của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, đã được Việt Nam tham gia ký kết từ ngày 24 tháng Chín năm 1982 nhưng thường xuyên lờ đi không thực thi. Ngoài các vụ trên, danh sách vẫn còn dài nữa – Tổ chức Theo dõi Nhân quyền đang giám sát thêm 49 trường hợp khác hiện đang bị giam giữ chưa xét xử vì các lý do chính trị và tôn giáo, trong đó có hai nhạc sĩ, bốn blogger, ba mươi lăm nhà hoạt động tôn giáo, hai nhà hoạt động vì quyền lợi người lao động và bốn nhà hoạt động vì quyền lợi đất đai.

Chính sách đàn áp thể hiện rõ trong các trường hợp như vụ xử tù bốn thanh niên Công giáo trước đó chưa được ai biết đến ở thành phố Vinh miền trung thuộc tỉnh Nghệ An, với lý do họ phát tán truyền đơn "dân chủ." Họ bị tạm giam từ năm đến mười tháng, sau đó bị kết án lên đến ba năm sáu tháng tù giam tại phiên tòa vào ngày 24 tháng Năm. Cũng có những vụ đang còn dở dang như vụ ba blogger công dân nổi tiếng gồm Nguyễn Văn Hải (blogger Điếu Cày), Phan Thanh Hải (blogger Anhbasg) và Tạ Phong Tần, những người cùng nhau thành lập Câu lạc bộ Nhà báo Tự do năm 2007, rồi chẳng bao lâu sau đó bị chính quyền đàn áp. Một diễn tiến bi thảm của vụ này là vào tháng Bảy, thân mẫu bà Tạ Phong Tần, cụ Đặng Thị Kim Liêng, đã tự thiêu để phản đối sự sách nhiễu của lực lượng an ninh đối với con gái và gia đình bà, khiến phiên tòa xử họ lại phải hoãn thêm lần nữa. Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton đã nhắc đến vụ việc này khi bà phát biểu tại cuộc họp báo trong chuyến thăm Hà Nội vào tháng Bảy năm 2012 rằng "chúng tôi quan ngại về sự cản trở quyền tự do ngôn luận trên mạng và phiên tòa sắp tới xử những người sáng lập nhóm gọi là Câu lạc bộ Nhà báo Tự do."

Nhưng các tù nhân chính trị khác, như nhà thơ và nhà vận động chống tham nhũng Nguyễn Hữu Cầu, năm nay đã 65 tuổi, dường như đã bị phần lớn thế giới bên ngoài lãng quên. Ông đã phải ở tù 35 năm kể từ năm 1975 – lần đầu từ năm 1975 đến 1980 trong một trại cải tạo, lần thứ hai từ năm 1982 đến giờ do đã phanh phui các vụ tham nhũng của quan chức địa phương. Dù ông đã mất gần hết thị lực và thính lực, nhưng chính quyền không đưa ra dấu hiệu nào thể hiện ý định sẽ thả ông. Những người khác, như linh mục Công giáo Nguyễn Văn Lý, do quá nổi tiếng nên các nhà ngoại giao nước ngoài còn được phép thỉnh thoảng đến thăm. Cha Lý đã bị đột quỵ nhiều lần trong tù vào năm 2009, khiến tay và chân bên phải bị liệt, nhưng chính quyền từ chối phóng thích ông trước hạn tám năm tù giam vì lý do sức khỏe. 

Kiểm soát các hội đoàn

Chính quyền Việt Nam không hề giấu giếm nỗ lực để bảo đảm mọi tổ chức, hội đoàn phải hoạt động dưới sự kiểm soát của nhà nước. Vì lý do đó, các đảng chính trị lưu vong, những người lao động muốn thành lập công đoàn riêng tách khỏi Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam do nhà nước quản lý, và những người viết blog như nhóm Câu lạc bộ Nhà báo Tự do luôn phải đi giữa các làn đạn sách nhiễu, bắt bớ và tù đày. Ví dụ như, vào ngày 17 tháng Tư, công an bắt Nguyễn Quốc Quân, một công dân Mỹ và là ủy viên trung ương của đảng đối lập lưu vong Việt Tân, khi ông đang nhập cảnh vào Việt Nam và truy tố ông theo điều 84 bộ luật hình sự về tội hoạt động khủng bố. Tuy nhiên, sau khi công bố tội danh ban đầu trên báo chí, chính quyền lại thôi không truy tố ông về tội khủng bố mà áp dụng điều 79, "hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân."

Chính quyền dành sự quan tâm và "chăm sóc" đặc biệt đối với các nhóm tôn giáo độc lập đứng tách khỏi các định chế tôn giáo đã đăng ký và chịu sự kiểm soát của nhà nước. Trong năm vừa qua, các chi phái không được công nhận của đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, các nhà thờ Tin lành tại gia ở Tây Nguyên và các vùng khác, các chùa Phật giáo Khmer Krom và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) đều bị chính quyền truy bức. Trong năm 2011, các giáo xứ Công giáo tổ chức lễ thắp nến cầu nguyện trước phiên tòa xử nhà hoạt động pháp lý và bất đồng chính kiến Cù Huy Hà Vũ thu hút được hàng ngàn người tham gia, không khỏi khiến chính quyền giật mình. Các vị chức sắc tôn giáo bị quản chế tại gia gồm có Đức Tăng thống GHPGVNTN Hòa thượng Thích Quảng Độ, hai lãnh đạo Phật giáo Hòa Hảo Lê Quang Liêm và Võ Văn Thanh Liêm. Trong tháng Bảy năm 2011, các vị chức sắc Công giáo Dòng Chúa Cứu thế, cha Phạm Trung Thành và cha Đinh Hữu Thoại bị cấm rời khỏi Việt Nam. Ngoài ra, hàng chục người Thượng ở Tây Nguyên từng tham gia vào phong trào nhà thờ Tin lành Đềga vẫn đang bị cầm tù.

Những người hoạt động tôn giáo thường bị xử các mức án nặng nề. Ví dụ như, vào ngày 13 tháng Chạp năm 2011, các tín đồ Phật giáo Hòa Hảo Nguyễn Văn Lía và Trần Hoài Ân bị xử tổng cộng tám năm tù giam, cộng thêm năm năm quản chế. Vào ngày 26 tháng Ba năm 2012, một phiên tòa xử mục sư Tin lành Nguyễn Công Chính 11 năm tù về tội "phá hoại chính sách đoàn kết" theo điều 87 bộ luật hình sự. Có ít nhất 35 nhà hoạt động tôn giáo khác đang bị tạm giam chờ xét xử.

Chìa khóa của việc vận động mọi người tham gia vào các vấn đề như cưỡng chế đất đai, tự do tôn giáo, nhân quyền hay đa nguyên chính trị, chính là khả năng chia sẻ thông tin. Hệ thống kiểm duyệt của nhà nước đối với đài phát thanh, truyền hình và báo in từng khiến cho việc này rất khó thực hiện ở Việt Nam, cho đến khi giải pháp thông tin điện tử được mở ra qua mạng Internet. Ước tính khoảng 34 phần trăm người dân Việt Nam đang sử dụng mạng Internet, tính đến tháng Hai năm 2012, khiến cuộc chiến về tự do ngôn luận giờ đây chủ yếu diễn ra trên mạng.

Trong khi Myanmar đang ngày càng cởi mở hơn về mạng Internet, chính quyền Việt Nam lại có động thái siết chặt bằng một dự thảo nghị định làm gióng lên hồi chuông báo động của các công ty Internet toàn cầu như Google và Yahoo cũng như những người vận động cho tự do ngôn luận.

Dự thảo nghị định này có thể được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét trong kỳ họp sắp tới, thể hiện ý định áp đặt bàn tay kiểm soát mạng Internet với lý do quen thuộc là an ninh quốc gia, qua những quy định nghiêm cấm một số nội dung, với ngôn ngữ lỏng lẻo và mơ hồ.

Cái bẫy lớn được giăng sẵn cho các blogger và các nhà vận động trên mạng với các quy định cấm chống đối chính quyền, hay đăng tải các thông tin gây "phương hại đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội" hay "phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc" hoặc "gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc và tôn giáo." Nếu như thế vẫn chưa đủ, thì các thông tin bị coi là "xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm cá nhân" sẽ được vận dụng để khép tội hình sự.

Trước thực tế nhu cầu sử dụng Internet đang phát triển nhanh, kể cả nhu cầu sử dụng các mạng xã hội phổ biến như Facebook, mà người dùng Internet ở Việt Nam có thể truy cập được bằng cách lách qua hệ thống tường lửa do chính quyền dựng vẫn còn nhiều sơ hở, và không khí sôi nổi của các diễn đàn bình luận và trao đổi về các vấn đề gai góc đối với nhà nước, có lẽ một cuộc đụng đầu lớn sẽ xảy ra trong tương lai không xa.

Ai thắng ai? 

Khởi đầu thập niên này, Việt Nam và Myanmar vẫn là đồng minh lâu năm, cùng tâm đắc với câu cửa miệng của ASEAN là "không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau" và cùng phải chịu những lời chỉ trích từ nước ngoài về hồ sơ nhân quyền. Nhưng giờ đây, hai nhà nước càng ngày càng như hai con tàu ngược chiều đã vượt qua điểm gặp nhau giữa đại dương, mỗi bên đi theo hướng trái ngược nhau về nhân quyền. Đến năm 2015, khi cuộc bầu cử toàn quốc ở Myanmar mở ra khả năng chuyển giao quyền lực thực sự bằng hòm phiếu, có lẽ Thủ tướng Dũng sẽ hối tiếc về lời phát biểu của mình năm 2010, với chủ đích khích lệ Myanmar đi theo con đường dân chủ hóa – nhất là khi chính người dân Việt Nam sẽ thắc mắc bao giờ thì Việt Nam sẽ thực hiện được điều đó.

Nguồn: Tạp chí Strategic Review, Vol 2 – No. 4, tháng Mười – tháng Mười Hai, 2012 (http://www.hrw.org/news/2012/11/07/race-bottom-burma-and-vietnam-head-opposite-directions-human-rights). Bài được viết trước các vụ xử ba blogger Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải và Tạ Phong Tần và hai nhạc sĩ Trần Vũ Anh Bình và Võ Minh Trí.

Bản tiếng Việt do ông Phil Robertson gửi tới cho trang Ba Sàm.

Hà Sĩ Phu - Tiến lên trong đa dạng

Nguồn boxitvn

Trong một lời dẫn đặt trước bản tin của RFI và BBC ngày hôm qua 30-11-2012, chúng tôi có đặt vấn đề "nỗi căm giận ngút trời" của trí thức yêu nước người Việt và nhân dân Việt Nam trong hoàn cảnh nóng bỏng thời sự về nguy cơ bị xâm chiếm biển đảo như tình hình hiện đang diễn biến từng ngày. Lời dẫn đó xét ra vẫn thích hợp với bài viết này, nên xin phép được đưa lại, có một vài thêm thắt:

Theo tin nóng mà cộng tác viên của BVN, ông Nguyễn Thái Sơn vừa chuyển đến cho chúng tôi thì Luật sư Vũ Đức Khanh mới gửi một Thông báo về việc Hoa Kỳ sẽ triệu tập Đại sứ Trung Quốc để bày tỏ mối quan ngại trước việc Trung Quốc cho in bản đồ có hình bản đồ lưỡi bò phi pháp trên loại hộ chiếu phổ thông gây căng thẳng cho nhiều nước ở vùng Đông Nam Á và cả châu Á Thái Bình Dương. Cũng trong buổi đối thoại dự kiến đó, Hoa Kỳ sẽ còn phản đối việc Trung Quốc tự ý cho mình quyền khám xét tàu thuyền qua lại trên biển Đông kể từ ngày 1-1-2013 trở đi. Thông báo như sau:

THÔNG BÁO

Theo một nguồn tin giấu tên từ BNG Hoa Kỳ cho biết chiều nay 29/11 vào lúc 3:30 pm Trợ lý Ngoại trưởng Kurt Campbell sẽ có buổi làm việc riêng với Đại sứ TQ tại Mỹ ông Zhang Yesui tới BNG. Nói đúng hơn là BNG HK đã triệu tập Đại sứ TQ đến để (1) nêu quan ngại và tìm lời giải thích của TQ về vụ "hộ chiếu lưỡi bò" và; (2) HK cũng sẽ đưa lời phản đối việc TQ cho phép từ 1/1/2013, cảnh sát tỉnh Hải Nam sẽ "lên tàu và khám xét" thuyền bè nước ngoài qua lại khu vực tranh chấp trên biển mà Trung Quốc coi là 'lãnh hải' của họ ở Biển Đông. Đối với HK, hành động này biểu hiện sự "leo thang không cần thiết" và HK vô cùng quan ngại đến sự "tự do lưu thông hàng hải" trong khu vực. HK nhấn mạnh "tự do lưu thông hàng hải" là "quyền lợi quốc gia" của HK như lời của Ngoại trưởng Hillary Clinton đã từng tuyên bố: "The U.S. has a national interest in the maintenance of peace and stability, respect for international law, freedom of navigation, unimpeded lawful commerce in the South China Sea".

Theo nguồn tin trên thì hiện giờ đã lưu hành tại BNG HK một bản thảo của một "Press Release" mà BNG HK sẽ đưa ra sau buổi họp chiều nay với Đại sứ Zhang với nội dung được cho là "mạnh mẽ" nhất từ phía HK từ trước giờ.

Chúng tôi sẽ cập nhập thông tin vào thời điểm thuận lợi nhất.

Trân trọng.

LS Vũ Đức Khanh

Rõ ràng Hoa Kỳ đã rất nhạy bén trước âm mưu mới hết sức nguy hiểm và cũng là một hành vi cực kỳ láo xược của bọn cộng sản Trung Hoa. Hàng trăm trí thức và nhân dân Việt Nam vừa ký vào bản Tuyên bố phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc dùng chiêu in "bản đồ lưỡi bò" trên hộ chiếu mới cấp cho người dân nước chúng để hăm dọa các nước có chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải trên những vùng mà lưỡi bò của bè lũ Tập Cận Bình thè tới. Chắc chắn bước đi mới này của lũ quỷ đỏ sẽ còn làm nhân dân Việt Nam và nhân dân các nước Đông Nam Á như Philipinnes, Malaysia… căm giận ngút trời. Không chỉ thế, đây là một sự thách thức với cả thế giới, ít ra là với những nước có giao thương đường biển tới Đông Nam Á và Đông Á. Như ngọn lửa phụt lên từ chiếc nồi sup-de, phản động lực của cả vùng Biển Đông, cả vùng châu Á Thái Bình Dương sẽ chuyển sang một hình thái gay gắt như thế nào, chúng ta chưa thể nào lường hết.

Trong sáng ngày 30-11-2012 lại có tin tàu của Trung Quốc táo tợn luồn sâu vào trong vùng biển Khánh Hòa để cắt cáp tàu Bình Minh 02 của Việt Nam. Một cái tát trời giáng đối với những kẻ hết lòng lo toan dàn xếp theo kiểu "đi đêm" giữa đồng chí cộng sản với nhau từ vài năm nay, những tưởng lời hứa cuội trên giấy của bọn để tiện kia là thiêng liêng lắm, để rồi quay về đàn áp, bắt bớ tàn bạo những người dân lên tiếng phản đối bọn cầm quyền Trung Quốc, ra sức giải tán các cuộc biểu tình của nhân dân chống hành vi lấn chiếm trắng trợn của Trung Quốc.

Những trao đổi, góp ý mới đây nhất trong hàng ngũ trí thức ký vào bản Tuyên bố25-11-2012 (xem http://www.boxitvn.net/bai/42994 vàhttp://www.boxitvn.net/bai/43021... ) nhằm tìm kiếm một sự thống nhất quan điểm về mục tiêu đấu tranh cũng như xác định những biện pháp hữu hiệu hơn cho mục tiêu đó chứng tỏ việc nhận thức bộ mặt kẻ thù và cả những mối liên kết phức tạp "bạn thù", đúng hơn là hiểu cho thật đúng đâu là "thù trong giặc ngoài" đang có những cọ xát, dịch chuyển quan trọng.

Và vì thế, đến nước này mà người cầm chịch đất nước vẫn giữ nguyên đường lối hữu hảo lịch sự – thực chất là cúi đầu – trước bọn cầm quyền Bắc Kinh, ra sức cung cúc thực hiện mấy phương châm nhảm nhí "4 tốt" và "16 chữ vàng" mà bọn chúng xỏ xiên ban cho, thì có lẽ mọi sự không thể nào như cũ. Trong tâm lý của phần đông dân chúng – tức tâm lý đám đông, Psychologie des foules, một khái niệm do Gustave Le Bon (1841 - 1931) đề xuất, như một hiện tượng xã hội tuyệt không thể xem thường – đã có chuyển biến ngày một rõ, nhưng chắc chắn sẽ còn chuyển biến mau lẹ hơn, và các thứ Trò Diễn mà lâu nay mọi người vẫn cố bấm bụng để xem như một thứ "chính kịch" trên chính trường, rồi sẽ phải đến lúc hoàn toàn biến thành… những tấn đại bi hài kịch với những trận khóc cười xen nhau đến vỡ bụng.

Bauxite Việt Nam

Nhà bác học tu sĩ Công giáo Teilhard de Chardin Pháp từng có câu: Hỡi những gì đang hướng thượng (xứng đáng là trí tuệ) thì hãy hội tụ lại với nhau (Tout ce qui monte, Converge!). Xin đề cập chân lý ấy trong bối cảnh toàn dân Việt Nam đang cùng thế giới tiến bộ đấu tranh chống những bước leo thang nguy hiểm của bọn xâm lược Trung Quốc, chính thức dùng "hộ chiếu lưỡi bò" để ngang ngược thông báo như trêu tức cho cả thế giới biết Biển Đông chỉ là ao nhà của chúng, chúng sẽ kiểm soát, khám xét tất cả những ai đi qua. Riêng Việt Nam vốn "sừng sững bên bờ biển Đông" thì sẽ thành một nước không có biển, muốn có biển phải thành một quận huyện của Trung Hoa.

Trong mối căm giận ngút trời thấy Tổ quốc bị khinh thường, lịch sử 4 nghìn năm oai hùng bị nhạo báng, nhân dân có nguy cơ trở thành những vong quốc nô kiểu mới, giới trí thức tiến bộ không thể ngồi yên.

Nếu xã hội Việt Nam chỉ là một xã hội bình thường như bao xã hội khác, thậm chí cứ khổ sở như một xã hội nô lệ chính thức (như hồi thuộc Pháp) thì nhân dân đã có những cuộc biểu tình hàng vạn người như thời Phan Châu Trinh để bộc lộ quyết tâm bảo vệ đất nước. Khốn nỗi xã hội ta lại là một xã hội ưu việt, hạnh phúc nhất nhì thế giới, nên đành khoanh tay ngồi nhìn để "đảng và nhà nước lo", xuống đường thì "chưa mất nước đã mất mạng" vì những tội trốn thuế hay lợi dụng dân chủ tự do. Tự biểu tình một mình trong nhà còn vô khám huống chi xuống đường "cản trở giao thông"?

Vậy thôi thì hãy làm điều tối thiểu là ra một bản Tuyên bố để lấy chữ ký rộng rãi phản đối cái "hộ chiếu lưỡi bò" vậy, dẫu biết rằng theo luật của đảng thì làm thế cũng là phạm pháp (không được ký kiến nghị tập thể, không được tụ họp quá 5 người!). Âu thế cũng là một chút dấn thân vượt rào khi chưa xin phép, giữa kỷ nguyên "ra ngõ gặp anh hùng". Ra tuyên bố là một đòi hỏi khách quan.

Nhưng điều tối thiểu này đâu có đơn giản? Dù không phải người soạn thảo "văn bản Tuyên bố" tôi cũng hình dung ra nỗi khổ tâm của những người soạn thảo. Muốn chống xâm lược ắt phải có sức mạnh quốc gia trong đó có quyết tâm của Nhà nước, của quân đội. Rất dễ hiểu là bản dự thảo (đăng trên trang Người lót gạch) đã có câu "Chúng tôi cùng nhân dân cả nước sát cánh với Nhà nước…", nhưng lập tức xuất hiện những nhận xét không thể bỏ qua: nhà nước có chống Tàu xâm lược đâu mà đòi "sát cánh"? Sát cánh để cùng chống xâm lược bằng cách ôm hôn, để cùng tự trói chân trói tay bằng 16 chữ vàng-4 tốt, để cùng hứa với quân xâm lược ngăn cấm biểu tình ư, để cùng tự nguyện hạ tầm quốc gia để giao du với một tỉnh miền núi Quảng Tây, cùng nâng hai tay kính cẩn, cùng phấn chấn múa ca mừng tình hữu nghị "chưa bao giờ tốt như bây giờ" ư, cùng nhắm tịt mắt để ru ngủ nhau "tình hình biển Đông không có gì mới", cùng nhẫn tâm đục bỏ những dòng chống xâm lược của ông cha ra khỏi những văn bia lịch sử…ư?

Thế là, trong văn bản chính thức buộc lòng phải sửa mấy dòng "sát cánh" ấy. Thực ra chữ "sát cánh" cũng tốt thôi, nếu sửa là "Nhà nước phải sát cánh cùng nhân dân", (dân biểu tình thì nhà nước phải sát cánh ủng hộ) nhưng nói thế e mắc tội lớn. Ban soạn thảo phải trần tình với bạn bè rằng "văn bản phải thật mềm mới ra đời được", phải chấp nhận nhiều điều chưa như ý để "tập trung vào kẻ thù chính". Tôi biết anh em mình nói vậy để tự trấn an và thuyết phục mọi người còn nông nổi thôi, chứ giữa "ngoại xâm" và "nội xâm" (nội xâm kẻ xâm lược ở bên trong tức kẻ bán nước) thì đâu là kẻ thù chính, giữa quân địch bên ngoài với kẻ mở cổng thành thì đâu là kẻ thù chính? Cũng ví như trong nhà có kẻ đã bí mật đem "dâng" thì thằng hàng xóm đểu giả đâu cần phải "cướp" nữa, cứ hòa bình hữu nghị như không, một ngày như mọi ngày, diễn biến như vậy thì ai là kẻ chính đây? "Ngoại thù" tám lạng thì "nội thù" cũng dư nửa cân, e sợnội thù thì làm sao giữ nước?

Sau mấy ngày cân nhắc, qua sự thể hiện trên các trang mạng, tôi hiểu sự thể đã hình thành một kiểu ứng xử đa dạng, pha trộn: Văn bản chính chỉ tập trung vào kẻ ngoại xâm, tránh kẻ nội xâm, nhưng bên cạnh đó, không biết hữu ý hay vô tình, đã có nhiều hình thức bổ sung, hỗ trợ, vạch rõ tính "khả nghi" và biểu hiện "đóng kịch vụng về" bị lòi mặt chuột của nhà nước đối với quyết tâm giữ chủ quyền, và yêu cầu nhà nước (nếu còn yêu nước) phải cho dân biểu tình, phải khuyến khích dân biểu tình giữ nước, ít nhất thì "dân tộc anh hùng" cũng cố theo cho bằng anh loàng xoàng Philippine… Chẳng lẽ mỗi thể chế lại có một kiểu yêu nước khác?

Điều vui là nhiều người đã hưởng ứng ký tên vào bản Tuyên bố. Nhưng điều mừng không kém là cũng có nhiều ý kiến phát hiện chỗ còn trống trong văn bản này, đã bằng cách này cách khác điền vào chỗ khuyết mà bản Tuyên bố đã, vô tình hay hữu ý, chừa ra. Một sự đa dạng đã hình thành, có chủ động hay không chưa biết, nhưng cuộc sống vốn cứ đa dạng như thế. Nếu cùng hướng thượng ắt sẽ gặp nhau. Kẻ trước người sau, kẻ mềm người cứng, kẻ tung người hứng, chỗ này số ít, chỗ kia số đông, không hẹn cũng gặp. Còn lũ người chỉ "hướng hạ" thì dù cùng hội cùng thuyền một thuở rồi cũng tìm cách này cách khác chơi xỏ nhau thôi.

Xã hội vốn đa dạng, huống chi một xã hội thoát thân từ mấy cuộc tương tàn, từ một lý thuyết phân ly, từ những chỗ đứng khác xa nhau về độ an toàn và tai họa? Đa dạng trong ứng xử chẳng những là tất yếu phải thừa nhận mà còn là nhu cầu, là phương pháp tốt nhất để chuyển một xã hội đang yếu kém toàn diện thành một xã hội "công bằng-dân chủ-văn minh" đúng nghĩa (đúng nghĩa là theo nghĩa chung của nhân loại chứ không lọc qua khe ngắm của một chủ nghĩa hay một đảng chuyên quyền). Muốn chuyển biến "hướng thượng" một cách hòa bình ắt phải tôn trọng phương pháp "bắc cầu". Trên cây cầu một chiều hướng thượng, từ độc tài toàn trị tiến sang thế giới dân chủ pháp quyền thì nhịp cầu nào cũng cần thiết, người trước người sau, miễn là cùng nhau tẩy chay bọn đi ngược chiều hay ngồi lỳ nghẽn lối.

Lâu nay tôi thường nhớ đến câu thơ Nguyễn Duy (1988):

Cái tốt nhiều hơn sao cái xấu mạnh hơn

Những người tốt đang cần liên hiệp lại!

TỐT là hướng thượng, TỐT "nhiều" nhưng chưa "mạnh" do còn phân tán, lệch pha, chưa gặp được nhau, vì những kẻ "hướng hạ" muốn phá, quyết phá tan sự "liên hiệp lại".

Bản thân giữa những người tốt cũng có những trở ngại, những độ chênh, nhưng trở ngại lớn nhất là sự bảo thủ và nghi kỵ, giữa một môi trường không thiếu những giả danh và ý xấu. Nhưng sự bổ sung cho nhau rất tự nhiên trong cuộc ký "Tuyên bố chung" phản đối "hộ chiếu lưỡi bò" này là một ví dụ khích lệ. Phải chăng điều thiện cũng nên có nhiều dạng ứng xử nặng nhẹ khác nhau, mỗi dạng có công chúng riêng, thậm chí cũng "phê và tự phê" công khai (xin đừng cười) cho cái thiện càng thêm mạnh, không coi đó là mâu thuẫn. Có lẽ nên cảm ơn kẻ đã gây cho đất nước ta tình trạng lâm nguy, khiến những người Việt Nam đang rất khác nhau bỗng cùng tỉnh ra và gần nhau lại.

30-11-2012

H.S.P.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

Song Chi. Khi lòng tự hào, tự tôn dân tộc đang mất dần…

Nguồn rfablog
Fri, 11/30/2012 - 16:45 — songchi

Khi chúng ta sống trong nước, mọi chuyện dù tồi tệ, phi lý, bất bình thường nhất nhưng cứ diễn ra hàng ngày với mức độ tăng dần khiến con người rồi cũng thành quen. Từ nạn tham nhũng ngày càng nhiều, mức độ tham nhũng ngày càng lớn, tràn lan trong mọi lĩnh vực. Nạn hối lộ, "phong bì", mua bằng chạy chức. Sự dối trá. Vô liêm sỉ. Cái xấu cái ác ngày càng lộng hành trong khi đạo đức xã hội ngày càng bị xuống cấp và cái thiện, lòng nhân bản của con người mỗi lúc mỗi teo lại. Từ mối quan hệ giữa nhà nước-nhân dân, sự khinh thường dân chúng, thói quen đứng trên luật pháp, bên ngoài luật pháp của chính quyền v.v…

Trong khi đó, nếu chúng ta đi ra bên ngoài sống, hiện thực xã hội trên nước người cũng hàng ngày đập vào mắt. Trước bất cứ sự việc lớn nhỏ nào, phản xạ tự nhiên của con người là so sánh với cuộc sống trong nước. Chuyện như thế này, ở VN mình thì sao? Từ sự so sánh, đối chiếu, bức tranh xã hội VN trở nên sáng rõ hơn. Lòng người buồn hơn, đau và nhục hơn.

Nói như thế không có nghĩa là người trong nước không buồn không đau, là người dân Việt bây giờ nếu có quan tâm đến thực trạng xã hội, vận mệnh đất nước, ai không buồn đau. Nhưng ở trong nước chúng ta dễ quen và vì không có cái để so sánh ngay lập tức nên không phải lúc nào chúng ta cũng nhớ ra rằng những chuyện như thế này là không thể chấp nhận được, là chỉ có thể xảy ra ở nước mình (hay một xã hội tồi tệ tương tự).

Sau 37 năm sống dưới sự lãnh đạo luôn tự cho là "sáng suốt tài tình" của đảng và nhà nước cộng sản, trong vô vàn cái xuống cấp/rớt giá nói chung, có sự xuống cấp/rớt giá của niềm tự hào được là người VN.

Thử nghĩ cho đến bây giờ chúng ta sẽ tự hào gì về VN?

Tự hào đã "chiến thắng hai đế quốc to Pháp, Mỹ" ư? Thế các nước mà chúng ta đã "chiến thắng" ấy họ bây giờ ra sao, và "kẻ chiến thắng" bây giờ đang đứng ở vị trí nào trên tổng số khoảng 200 quốc gia trên thế giới, về mọi mặt?

Tự hào đã thoát khỏi tình trạng suýt chết đói, đời sống người dân nhìn chung có khá hơn, và đã trở thành nước xuất khẩu gạo nhiều nhất trên thế giới ư? Đừng so sánh với cuộc sống trong xã hội miền Bắc trước năm 1975 cũng đừng so sánh với VN thời bao cấp, để rồi tự sướng với mình. Hãy so sánh bước tiến của VN so với các quốc gia khác trong vùng chứ chưa nói đến châu Âu châu Mỹ, và cũng chỉ trong vòng hai ba thập kỷ để thấy VN thực sự có đáng tự hào hay không.

Và nếu nhìn sang Trung Quốc, cũng là một nước do đảng cộng sản lãnh đạo, có mô hình thể chế chính trị giống VN, thì dù ưa hay không ưa nhà cầm quyền TQ, chúng ta phải thừa nhận ít nhất đảng và nhà nước cộng sản TQ cũng làm cho đất nước họ trở thành giàu mạnh hơn rất nhiều chỉ sau 4 thập kỷ, trở thành cường quốc kinh tế lớn thứ hai trên thế giới.

Rất nhiều người dân TQ mà tôi tiếp xúc đều tỏ ra tự hào về điều đó. Cứ mở miệng ra là họ bảo TQ bây giờ giàu, người Hoa giàu, còn Mỹ đang nghèo đi, Mỹ đang gặp nhiều vấn đề về kinh tế (!). Họ còn tự cho rằng cái gì trên thế giới có thì TQ cũng có và sẽ có. Nhìn chung phần đông người TQ không quan tâm hoặc tránh đề cập đến những chủ đề về chính trị của nước mình (sao mà giống người VN thế), họ cũng không ý thức được vấn đề nhân quyền hay quyền tự do dân chủ của người dân TQ chưa được đầy đủ. Họ chỉ cần biết, TQ đang giàu lên, thế giới đang e sợ TQ (!), rất nhiều người TQ bây giờ có tiền đi du lịch khắp nơi, con cái theo học ở những ngôi trường danh giá nhất của Mỹ, châu Âu…

Thôi thì dù sao người TQ cũng có thể tự hào, nước đông dân nhất, văn hóa lâu đời, bây giờ lại lắm tiền.

Nhưng còn chúng ta?

Không biết từ bao giờ lòng tự hào là người VN của chúng ta đang bị tổn thương đến thế. Càng tổn thương thì càng trở nên vọng ngoại. Cái gì của nước người cũng tốt cũng hay. Cái áo cái quần, cái túi xách trên tay cho đến đôi giày dưới chân-cứ nhãn hiệu nước ngoài là sang. Chồng ngoại, bồ ngoại dường như cũng sang hơn (!) nên không chỉ các cô thôn nữ ở đồng bằng sông Cửu Long hay các làng bản sát biên giới phía Bắc dứt áo đi lấy chồng Đài, chồng Hàn, chồng Tàu…để đổi đời, mà nhiều cô gái xinh đẹp, hoa khôi á hậu người mẫu nổi tiếng cũng thích lập gia đình với chồng Tây chồng Mỹ.

Nếu như thời trước 1975, ở miền Nam gia đình nào có con gái lấy chồng Mỹ thường nhục nhã xấu hổ, bản thân cô gái đó thì bị thiên hạ cười chê gọi là "me Mỹ", thì bây giờ trái ngược hẳn. Nhà nào có con gái lấy chồng ngoại, bất kể chồng Tây hay chồng Đài, Hàn, cả xóm đều ao ước.

Cứ như thế, thứ hạng của người Việt đang bị rớt dần.

Thời trước 1975, người miền Nam còn coi dân "Đại Hàn" bằng nửa con mắt, nhưng bây giờ Hàn Quốc đã đi trước VN quá xa, người Việt lại phải xếp hàng xin sang lao động làm thuê ở xứ Hàn, hoặc lấy chồng Hàn. Đến khi Hàn Quốc từ chối nhận lao động VN vì lý do bỏ trốn ở lại quá nhiều ("Hàn Quốc ngừng tiếp nhận lao động VN", báo Dân trí), thì ngay đến cái tin Thái Lan nhận lao động VN ("Thái Lan sẽ tiếp nhận lao động VN", báo Thanh Niên) cũng làm nhà nước và nhiều người lao động VN thở ra nhẹ nhõm!

Và nếu VN thường chỉ "xuất khẩu" sang nước người các dạng lao động phổ thông thì dân nước khác đến VN lại thường để làm thầy, làm chuyên gia, tư vấn…Ngay cả giáo viên tiếng Anh ở bậc tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông mới đây cũng phải tính đến chuyện thuê người Philippines! ("Tuyển 29 giáo viên Philippines dạy tiếng Anh", báo Thanh Niên).

Điện ảnh VN không còn dám mơ học hỏi Hollywood là một khoảng cách quá xa mà chỉ dám ngó vọng sang Hàn Quốc. Các chương trình truyền hình thì đi học của Hàn của Thái. Phim truyền hình Hàn Quốc-những bộ phim dài lê thê với những câu chuyện lãng mạn nội dung na ná nhau, chủ yếu nhờ dàn diễn viên trẻ đẹp và quay đẹp như ảnh quảng cáo, làm mưa làm gió trên màn ảnh nhỏ ở VN, lấy được bao nhiêu nước mắt của các bà nội trợ cho đến giới tuổi teen.

Nhạc trẻ Hàn Quốc hay K-pop, chủ yếu ăn nhờ dàn ca sĩ trẻ đẹp, vũ đạo giỏi, trang phục bắt mắt…cũng chiếm mất tâm hồn của bao chàng trai cô gái Việt, khiến họ trở nên một trong những đội fan cuồng nhiệt nhất tại những quốc gia mà các ban nhạc Hàn Quốc đã đi qua.

Tôi không có lòng dạ nào chỉ trích hay chê bai gì dân tôi trước tất cả những biểu hiện khác nhau của sự vọng ngoại, cũng đồng nghĩa với niềm tự hào dân tộc đang đi xuống. Bởi nếu VN giàu có văn minh, đất nước VN có nhiều điều cụ thể đáng để tự hào, (ngoài cái tự hào thắng hai đế quốc to, dân tộc VN có truyền thống yêu nước v.v…đã được học từ nhỏ), thì người VN đã không phải ngưỡng mộ mọi thứ của nước người ta.

Nếu giáo dục VN tốt thì người VN đã không phải chạy vạy kiếm tiển cho con đi học nước người. Nếu phim ảnh, âm nhạc VN đủ hay đủ đẹp, có một công nghệ đào tạo, quảng bá hình ảnh và kiếm tiền giỏi như người ta thì nhiều bạn trẻ VN đâu phải mê cuồng phim, nhạc của nước người? Đó là chưa nói đến mảng văn học có giá trị, triết học, hội họa là những thứ mà tuổi trẻ VN bị thiếu hụt khủng khiếp, đến nỗi một tiểu thuyết gia loại xoàng như Marc Levy cũng được yêu chuộng đến thế.

Thậm chí, cho dù phim ảnh, âm nhạc chưa bằng người ta, nhưng nếu các em được giáo dục và định hướng tốt về thẩm mỹ ngay từ trong trường học cho đến ra ngoài xã hội, được có nhiều sự lựa chọn hơn. Ví dụ trên màn ảnh nhỏ không chỉ tràn ngập phim Hàn phim Tàu mà có thêm nhiều nguồn phim khác từ các nước châu Âu, các nền văn hóa xa lạ; các em được dạy, được giới thiệu để thưởng thức nhạc giao hưởng, ca kịch, hội họa trừu tượng ngay từ bậc phổ thông như học sinh các nước, trong các hiệu sách có nhiều nguồn sách, đĩa nhạc từ nhiều nước khác, trên các trang báo thường xuyên có những mục điểm sách, nhạc có uy tín v.v…

Và cho dù giáo dục chưa giỏi nhưng ít ra, cũng ráng dạy cho các em có thể sử dụng ít nhất một thứ ngoại ngữ thật tốt ngay từ bậc trung học để các em có thể tự mình tiếp xúc với những nền văn hóa khác…Thì chắc chắn sự lựa chọn của các em sẽ độc lập hơn, phong phú hơn, hiện tượng cuồng nhiệt một dòng phim, một loại nhạc nào đó sẽ bớt đi.

Nhưng điều quan trọng nhất, vẫn là tạo ra được những sản phẩm, những giá trị của VN, để người Việt yêu mến, tự hào cái của mình.

37 năm giành độc quyền lãnh đạo đất nước này, đảng và nhà nước cộng sản thực sự đã khiến người Việt ngày càng tụt hậu trên thế giới, đến nỗi bây giờ ngay cả các nước trong vùng cũng chẳng so được với ai, về mặt gì. Vậy thì đừng hỏi tại sao lòng tự hào của người Việt đang mất dần.

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến : Nhà Giáo Ưu Tú & Nhà Giáo Hại Dân

Nguồn rfablog
Fri, 11/30/2012 - 10:41 — tuongnangtien 

 

Sự khủng hoảng giáo dục trước hết là khủng hoảng về chất, điều đó cũng có nghĩa là giáo dục không chỉ tụt hậu mà đã đi lạc hướng, trở thành lạc lõng, trong trào lưu chung của thế giới hiện đại.
 

 Việt ngữ có hai chữ "nhà tôi" (nghe) vừa thân thương, vừa trang trọng. My wife và ma femme của Anh với Pháp, khi so với nhà tôi, đều trở thành xoàng xĩnh!

Mà chả riêng gì "nhà tôi" đâu nhá. Mọi chức danh, cũng như nghề nghiệp – trong tiếng Việt – hễ cứ bắt đầu bằng chữ "nhà" là ... có giá thấy rõ: nhà qúi tộc, nhà ngoại giao, nhà truyền giáo, nhà ngoại cảm, nhà bình luận, nhà thiên văn, nhà thám hiểm, nhà bác học, nhà nghiên cứu, nhà khảo cổ, nhà yêu nước, nhà chí sĩ, nhà cách mạng, nhà soạn kịch, nhà soạn nhạc, nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà giáo ...
 
Trong những "nhà" vừa kể (có lẽ) nhà giáo là giới gần gũi nhất, và được nhiều người tin tưởng nhất – trừ hai ông giáo Sầm Đức Xương và Nguyễn Thiện Nhân. 
 
Nguyễn Thiện Nhân, Deputy Prime Minister of Vietnam and Minister of Education and Training of Vietnam.  Source:en.wikipedia.org.
 
Ngày 20 tháng 11 năm 2012, Bộ Giáo Dục & Đào Tạo đã trao danh hiệu "ưu tú" cho nhà giáo Nguyễn Thiện Nhân. Sự kiện này khiến cho "dư luận gầm gừ," như cách tường thuật (rất giận dữ) của bác Cánh Cò:
 
"Theo báo chí loan tải năm nay có 40 Nhà giáo nhân dân và 570 Nhà giáo ưu tú trên khắp mọi miền đất nước được trao tặng danh hiệu cao quý này, trong đó có một 'suất' cho Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân!
 
Dư luận gầm gừ, báo chí tiếp tục bình luận và người dân vẫn cắm cúi với lon gạo của mình. Người ta không khỏi chạnh nghĩ đến cái danh hiệu Nhà giáo ưu tú có làm ông Phó Thủ tướng xấu hỗ hay không khi chung quanh ông, những người thật sự ưu tú lại không được cái vinh dự này. Còn ông, nếu có một giải thưởng thích hợp nhất thì chỉ nên cho ông nhận giải 'Nhà giáo ưu tiên' là cùng.
 
Bởi làm tới chức Phó Thủ tướng mà lại xếp hàng đặt cục gạch trước cái danh hiệu 'ưu tú' với những nhà giáo khốn khổ, bệnh hoạn hy sinh cả đời trong sự nghiệp giáo dục và cuối đời cần một danh hiệu dù là 'đỏm đáng là chính' để kiếm thêm thu nhập thì sự giành giật ấy phải nói là bản năng của một đứa con nít chưa biết phân biệt thế nào là điều cần nên tránh và nhất là em chưa học được bài học nhường nhịn cho đứa trẻ khác không có cơ hội bằng mình."
 
Bác Trương Duy Nhất cũng "gầm gừ" dữ dội:
"Trên cương vị Phó Thủ tướng như bây giờ, ông Nguyễn Thiện Nhân có cần phải ôm nhận thêm cái danh hiệu 'ưu tú' nữa? Sau bao nhiêu những hậu họa, tì vết để lại cho ngành giáo dục, liệu ông Nhân có còn xứng đáng làm thầy, chứ đừng nói đến chữ'ưu tú' (xem lại bài Giáo dục thời bất Nhân)."
 
Tui "xem lại" thử, và thấy cái ông Nhân này kỳ thiệt:
 
"Trước sự chìm khuất của các đời Bộ trưởng tiền nhiệm, ông Nhân đột nhiên nổi như một vị Bộ trưởng có trách nhiệm và có tâm, có khao khát, ước vọng thật sự ở việc 'làm mới' sứ mạng giáo dục. Hàng loạt ý tưởng và chính sách từ ông đã thật sự cuốn thổi mặt bằng giáo dục sôi sóng. Đây là những chủ trương, phong trào đã trở thành 'thương hiệu' cho giáo dục thời Nguyễn Thiện Nhân: cuộc vận động hai không: 'Nói không với tiêu cực trong thi cử và nói không với việc chạy theo thành tích'; rồi sau thêm mấykhôngnữa như: 'nói không với vi phạm đạo đức nhà giáo' và việc 'ngồi nhầm lớp' (cho học sinh không đạt chuẩn lên lớp), và' nói không với đào tạo không theo nhu cầu xã hội'…
 
"Thêm nữa, chính ông Nhân cũng là người đưa ra ý tưởng khá kỳ cục gây nhiều bàn cãi: Ghi số tiền vay nợ vào bằng tốt nghiệp của sinh viên. Cũng chính ông làm được điều mà các đời Bộ trưởng trước không dám làm hoặc không làm được:tăng học phí!
 
 Nhưng cũng chưa thấy thời nào, triều đại nào mà ngành giáo dục lại phơi bày một khuôn diện nhem nhuốc, bầm vấy như thời ông Nhân. Học sinh đâm chém nhau, đâm trọng thương cả thầy cô giáo, nữ sinh cũng bè hội đồng đánh nhau để… quay clip chơi, bỏ học dắt nhau vào nhà trọ 'thí nghiệm' như người lớn, cô giáo thì dán băng keo bịt miệng đến chết con trẻ, thầy giáo thì bán điểm gạ tình, mua trinh, hiếp dâm học trò… "
 
Nhà báo Cánh Cò và Trương Duy Nhất tuy đều hơi nặng lời nhưng không ai có chút ác tâm nào với ông giáo Nguyễn Thiện Nhân. Cả hai chỉ bầy tỏ sự thất vọng, bởi nhiều sự kiện khách quan, chứ không "ngậm máu phun người" – như những ký giả (hay còn có tên gọi chính xác hơn là kỹ giả) của nhà nước, khi họ viết về một nhà giáo khác:
 
- "Đinh Đăng Định – Kẻ Phản Quốc Hại Dân," Thiên Triều, báo Công An Đà Nẵng.
 
 
 
 
Nhà giáo "hại dân" Đinh Đăng Định. Ảnh: congan.com.vn
 
Họ kết tội sẵn cho nhà giáo Đinh Đăng Định (thiếu đạo đức, phản quốc, hại dân, chống phá nhà nước...) dùm cho toà án. Thái độ hung hăng của cả giới truyền thông quốc doanh  khiến tôi tò mò muốn biết (thêm) xem ông Đinh Đăng Định đã "phạm lỗi lầm gì" khiến cho cả một đám người xúm vào ném đá (rào rào) như thế?
Và tôi tìm được một bức thư ngỏ mà nhà giáo Đinh Đăng Định viết trước khi bị bắt. Xin ghi lại nguyên văn, để rộng đường dư luận:
 
Daknong 18-10-2010.
Tôi là Đinh đăng Định, 47 tuổi.
Hiện làm giáo viên tại Trường THPT lê quý Đôn Daknong có chữ ký thứ 629 (đến 18-10-210) bản kiến nghị dừng dự án Bô Xít Tây Nguyên đang phát trên mạng BVN.
 
Sáng nay(18-10) ông HT trường THPT Lê Quý Đôn- Tuy Đức-Daknong đưa cho tôi giấy mời do Thượng tá Đinh Tấn Lượng trưởng phòng ANCTNB sở CA Daknong ký.
 
Mời tôi có mặt tại Trụ sở CA huyện Dakrlap hồi 8 giờ sáng mai để làm việc. Không nói lý do.
Suy xét, thấy mình không làm gì liên quan tới chính quyền. Nếu có chỉ là ký vào kiến nghị dừng dự án Bô- Xit do nhóm các nhà trí thức yêu nước : viện IDS cũ và BVN khởi thảo hôm 9-10-2010 đã loan tải trên BVN.
Kỹ hơn một chút tôi còn thấy mình, đã phát biểu tại phiên họp công đoàn ngành GD tỉnh Daknong hôm 14-10-2010 tại VPSGD Daknong, rằng:
 
1/ yêu cầu CĐNGD (công đoàn ngành GD) lên tiếng,cứu hai nữ sinh (Thúy và Hằng) ở Hà Giang là nạn nhân bị giới quan chức HG(cầm đầu là cựu CT tỉnh NT-Tô) cưỡng dâm thành phạm nhân đang ở trong nhà giam, ra khỏi nhà giam. Làm thế là góp phần xây dựng môi trường GD thân thiện.
2/ yêu cầu CĐNGD lên tiếng về dự án Bô-Xít Daknong, tôi kêu gọi giáo chức Daknong ký vào Kiến Nghị đang phát trên mạng truyền thông hợp pháp.
 
Cả 2 ý kiến đều không nhận được phản hồi đích đáng, dù là phản đối.
Ông CB tuyên giáo LĐLĐ Tỉnh có mặt nói: có quặng thì phải khai thác thôi…Một CBCĐ ở một huyện thì nói: Việc ở HG cao xa quá!…
 
Mở ngoặc: tôi là chủ tịch CĐ trường THPT Lê Quý Đôn; UVBCHCĐ ngành GD Daknong. Tuy nhiên, ngay sau giây phút đó, tôi tuyên bố từ nhiệm cả 2 chức vụ, minh bạch trước hội nghị Tổng Kết Năm Học của CĐNGD Daknong. Ra về.
 
Xét thấy những gì mình đã nói và làm chỉ minh chứng về lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm của con dân Việt với đất nước; trách nhiệm của một nhà giáo với HS, của bậc phụ huynh với con cái. nhất quyết không thể coi là chống đối nhà nước được.
 
Hôm nay 18-10-2010 tôi nhận giấy mời do CACTNB gặp, để làm gì? Tôi không thể không đạt nhiều dấu hỏi. Bởi thực tế ở xã hội VN hiện đại tình trạng công quyền( cả CA) tùy tiện hành dân, giết dân là sự thật.
Để bảo vệ an toàn cá nhân, tôi sẽ không tới CA theo giấy mời này chừng nào lý do chính đáng chưa được minh bạch.
 
Suy xét rộng hơn, thì hôm 9-10-2010, trước giờ Đại Lễ chính 1000 năm Thăng Long.
Tôi có, trả cho VNPT( trạm viễn thông Kiến Đức) một Modem kết nối internet, vì nó kết nối không thành và tôi có viết tờ giấy trả với nội dung (trích nguyên văn): đề nghị VNPT ném modem Made In China này vào mặt bọn…đảng cộng sản chung quốc và hãy chuyển thị trường kinh doanh sang Bắc Hàn và Trung Cộng…Viết thế này chắc cũng không phải tội lỗi gì, nếu tội có CA hãy tìm giùm coi.
 
Là độc giả thân thiện của trang mạng BVN tôi gửi nơi đây lời cám ơn sâu sắc tiếp nhận thư này và,đề nghị loan tải như một thư ngỏ gửi tới ông Bộ trưởng CA Lê Hồng Anh, ông Bộ trưởng GD Phạm Vũ Luận và Nhà Cầm Quyền tỉnh Daknong và cả ông Nguyễn Tấn Dũng thủ tướng nữa văn thư này và lời nhắn:
 
Yêu nước không có độc quyền;
Tự do ngôn luận là giá trị căn bản của nhân loại.
Độc tài hết thời rồi.
Thưa Quý Ngài.
 
ĐĐĐ
ĐT 01266745031
mail. 
dinhdangdinh@gmail.com
 
Theo BBC, nghe được vào ngày 21 tháng 11 vừa qua:"Ông Đinh Đăng Định, giáo viên Hóa ở tỉnh Đắc Nông, đã bị tòa giữ nguyên mức án sơ thẩm là sáu năm tù trong phiên phúc thẩm vừa kết thúc sáng nay. Ông Định bị kết tội 'Tuyên truyền chống Nhà nước' theo điều 88 Bộ Luật hình sự."
Bản tin (thượng dẫn) còn trích lời của quan toà, tỉnh Dak Nong, phê phán nhà giáo Đinh Đăng Định là "hạn chế về nhận thức" và "có những suy nghĩ không phù hợp." Cùng lúc, Bộ Giáo Dục & Đào Tạo đã trao danh hiệu "ưu tú" cho nhà giáo nhà giáo Nguyễn Thiện Nhân.
 
Những điểm tương phản trong sự nghiệp của "nhà giáo ưu tú" Nguyễn Thiện Nhân và "nhà giáo hại dân" Đinh Đăng Định giúp cho người ta hiểu tại sao "VN đang ngụp lặn ở nửa dưới của thế giới và với xu hướng ngày càng chìm sâu, thụt lùi xa so với láng giềng " –  theo như công bố của Tổ Chức Sở Hữu Trí Tuệ Toàn Cầu (World Intellectual Property Organization), được đăng tải trên báo Dân Trí, số ra ngày 08 tháng 8 năm 2012.

Phương Bích : Chỉ sai có một chữ thôi

Nguồn chimkiwi

Sau vụ giáo sư Đặng Hùng Võ thừa nhận trong thời gian đương nhiệm, ông đã trình ký sai 02 văn bản liên quan đến việc thu hồi hơn 500 ha đất thuộc huyện Văn Giang, cũng từ đó, giáo sư lại "hé lộ" thêm thông tin, rằng trong từ 8 đến 10 năm trở lại đây, thực chất đã có tới trên dưới 3000 văn bản có những sai phạm tương tự như vậy. Nguyên nhân chủ yếu, do người ta không làm theo "luật", mà là theo "lệ".


Chuyện thật nghe tưởng như đùa, và không phải bấy lâu nay người ta không biết, nên cũng không lấy thế làm giật mình cho lắm trong thời buổi này. Thực tế có biết cũng chả ai dám thắc mắc, chả ai dám "cải cách" để đưa nó vào đúng quỹ đạo ban đầu của nó. Nói như giáo sư Võ là từ cấp Bộ, từ Chính phủ bấy lâu nay người ta vẫn làm theo thông lệ (nôm na gọi là Lệ) đấy chứ.
Tôi hóng hớt nghe các bác chuyên gia về văn bản hành chính nói chuyện với nhau, rằng cái Cục quản lý văn bản của Bộ Tư pháp sinh ra để làm gì vậy? Cái Ủy ban giám sát của Quốc hội sinh ra để làm gì vậy?
Báo chí viết hàng năm, Cục quản lý văn bản Bộ Tư pháp vẫn hô đã tuýt còi nhiều văn bản sai phạm của các bộ ngành. Nhưng tuýt thì cứ tuýt, con voi vẫn cứ chui lọt lỗ kim, và chuyện "Lệ" thay "Luật" vẫn cứ  là bình thường.

Nói đến đây tôi lại liên hệ đến chuyện ở cơ quan cũ. Thời kỳ những năm chín ba chín tư, mô hình Ban QLDA bắt đầu hình thành. Ban tôi thuộc diện to nhất các Ban QLDA trực thuộc Bộ, thay mặt Bộ làm Chủ đầu tư, thực hiện các dự án ODA – Oách lắm!
Mặc dù Ban tôi là đơn vị hành chính sự nghiệp, nhưng ngoài số ít xe ô tô biển xanh, còn là một đội ngũ khá xông xênh xe biển trắng xịn. Lái xe thì đông như "quân Nguyên". Việc xin xe đi lên Bộ làm việc không có gì là khó khăn. Hàng năm, các phòng đi nghỉ mát đều được dùng xe của Ban cả.
Sau khi xảy ra vụ lãnh đạo Ban QLDA 18 bị xử lý, vì tội cho các cá nhân và tổ chức ngoài cơ quan mượn xe một cách tùy tiện, tôi để ý hỏi mới biết cụ tỷ nguồn gốc các xe này ở đâu ra.
Thông thường, xe công (biển xanh) do ngân sách cấp cho mỗi cơ quan, là phải tuân theo các quy định rất ngặt nghèo của nhà nước, phụ thuộc vào tiêu chuẩn, đối tượng sử dụng xe.... nên thường bị hạn chế. Thế nên số xe biển trắng này đều nằm trong các hợp đồng tư vấn hay xây lắp của dự án, thuộc quyền quản lý và sử dụng của Tư vấn và nhà thầu. Tuy nhiên, với thế của chủ đầu tư, các Ban QLDA đã ép Tư vấn và Nhà thầu phải bớt một số lượng xe để cho Ban sử dụng. Việc sử dụng theo kiểu chùa này, trong một thời gian dài đã không hề bị một cơ quan nào tuýt còi.
Về nguyên tắc, sau khi các hợp đồng kết thúc, Tư vấn và Nhà thầu sẽ phải bàn giao lại tất cả tài sản cho Chủ đầu tư. Sau đó, Chủ đầu tư sẽ phải làm thủ tục (thanh lý hợp đồng) để bàn giao lại cho nhà nước quản lý (thông qua Bộ Tài chính). Tuy nhiên, hầu như Bộ Tài chính đã bỏ ngỏ vai trò quản lý ở mảng này, nên việc bàn giao này gần như không được thực hiện. http://vnexpress.net/gl/phap-luat/2009/09/3ba13d58/
Khi nắm trong tay một lượng xe dư thừa như thế thì chuyện cho tổ chức hay cá nhân nào đó mượn chả mất gì của "Bọ". Vừa thiết lập được mối quan hệ thân tình, vừa đỡ phải trông giữ. Thậm chí oách hơn, người ta lấy cả xe mới tinh để cho mượn, tùy theo độ mật thiết của mối quan hệ. Ví dụ đối tượng mượn xe lại chính là cơ quan công an. Ối giời! Thế thì an toàn quá còn gì.
Bình thường nếu không có chuyện gì xảy ra thì có lẽ chả ai biết tình trạng ba vạ trên. Từ vụ một ông Tổng giám đốc bị bắt vì tội cá độ, người ta đi tìm hiểu ông ta lấy đâu ra tiền để cá độ tới cả triệu đô như thế. Lần theo sợi chỉ, người ta chỉ tìm thấy mỗi mấy cái tội là cho mượn xe ô tô một cách tùy tiện, cho thuê văn phòng lấy tiền không đúng chức năng, khai khống người lao động để tham ô tiền lương v.v... nghĩa là toàn mấy cái tội vớ vẩn, chả thể đem lại lợi nhuận lên tới triệu đô để phục vụ mỗi việc đánh bạc được.
Tuy nhiên, việc đó cũng có tác dụng là khiến các Ban khác giựt mình. Hẳn là các Bộ chức năng cũng bắt đầu rục rịch rà soát. Ban tôi phải trả lại rất nhiều xe. Nhưng tình trạng một số xe cả ô tô lẫn xe máy nằm đắp bụi mấy năm trời trong các gầm cầu thang và xó nhà xe, để rồi bán cả mớ theo kiểu đồng nát khiến tôi thấy kinh sợ về sự thiếu trách nhiệm trong cách quản lý lỏng lẻo của các cơ quan nhà nước. Một kiểu tội ác qua việc lãng phí tiền của xã hội mà không ai bị xử lý cả.
3000 văn bản ký không đúng Luật. Đấy mới là do giáo sư nói trong lĩnh vực đất đai. Còn các lĩnh vực khác thì sao? Thực là kinh hoàng! Trong cuộc đối thoại với bà con Văn Giang, giáo sư Võ cười cười bảo: chỉ sai có một chữ là giao...(đất) thôi. Nghĩa là chỉ có thu hồi, chứ không được giao. Nhưng rốt cục lại vẫn giao.
Tôi ngạc nhiên khi ông ấy nói có vẻ thản nhiên và dễ dàng đến thế. Vâng, chỉ sai một chữ thôi cũng có thể biến không thành có, biến sống thành chết, biến tự do thành tù tội....
Khi một quan chức, lại là một nhà khoa học mà quan niệm thế thì làm sao các cấp thực thi lại không thể mỗi người hiểu một kiểu được? Ngạn ngữ có câu vạn sự khởi đầu nan. Cái sai ban đầu sẽ dẫn đến hàng loạt sai phạm khác, thế thì làm sao dân đen chả chết! Có bao nhiêu cái sai như ở "Văn Giang" trên khắp đất nước này? Bao nhiêu người dân đáng thương trở thành trắng tay sau hàng chục năm đi kiện, thậm chí còn bị tù tội thưa giáo sư?
Thay vì lần dở lại những sai phạm để khắc phục hậu quả, xử lý nghiêm minh những người làm sai, là cơ sở cho việc giải quyết dứt điểm tình trang khiếu kiện, thì giáo sư Võ lại có ý đề xuất Quốc hội hợp pháp hóa các văn bản này??? Tức thì nhớ ngay đến mấy cái khẩu hiệu của dân đi khiếu kiện: Quốc hội ơi – cứu dân!
Ngẫm mà buồn và đau. Cảm thấy tương lai mù mịt quá.

Lê Mai : Những đòn nghi binh lớn của Trung Quốc

Nguồn lemaiblog

Với cái nhìn từ lịch sử, cộng với sự quan sát những nước cờ liên tục của TQ trong thời gian gần đây, nổi lên một vấn đề mà VN không thể không dè chừng, đó là TQ đang chơi những đòn nghi binh lớn.

Có nhà nghiên cứu cho rằng, lịch sử tư tưởng mấy ngàn năm của TQ nằm ở hai chữ "che dấu". Khác với sự cởi mở của người phương Tây, người TQ luôn tìm cách che dấu suy nghĩ của mình, che dấu việc làm của mình, che dấu ý đồ của mình, tức là nói một đằng, làm một nẻo.

Nghi binh là gì? Nghi binh là "giương Đông, kích Tây", đánh lạc hướng đối phương, đánh lừa đối phương. Nghi binh là che dấu ý đồ thực sự của mình, ru ngủ đối phương bằng những động tác giả, để rồi sau đó tung ra một cú đánh quyết định hòng giành thắng lợi. Thông thường, hoạt động nghi binh diễn ra thường xuyên trong lĩnh vực quân sự nhưng đối với TQ, có lẽ không một lĩnh vực nào mà họ không thực hiện chiến thuật ấy – thậm chí, kể cả lĩnh vực hình thái ý thức.

Quả có vậy! TQ nói TQ và VN kiên trì xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng chẳng phải TQ sử dụng công thức "một nước – hai chế độ" để thu hồi Hồng Kông đó sao? Như thế, "chế độ" đâu phải là cái họ đặt lên hàng đầu? Nếu thiếu sự sáng suốt, rất dễ mắc mưu họ. Cho nên, xét cho cùng, "một nước – hai chế độ" là một đòn nghi binh lớn. TQ cho rằng, TQ có thể chung sống với mọi nước trên thế giới có chế độ chính trị – xã hội khác nhau, thế thì tại sao không thể sống chung với Hồng Kông – dù chế độ xã hội khác nhau? Sáng tạo "thiên tài" đó của Đặng đã đưa Hồng Kông trở về TQ. Ở đây, điều quan trọng nhất là chừng nào Hồng Kông trở về TQ, chừng đó TQ có quyền đóng quân đội tại đó. Đây là điều mà Đặng kiên quyết đòi bằng được khi đàm phán với "Bà đầm thép" Thatcher. Đặng lập luận, không có quyền đóng quân tại đó thì còn gì là chủ quyền của TQ? Nếu xẩy ra động loạn lớn thì làm thế nào? Như vậy, đòi quyền đóng quân (tại Hồng Kông) mới là thực, là cốt lõi của "một nước – hai chế độ", cái khác chỉ là nghi binh. Một khi quân đội đã đóng tại Hồng Kông thì TQ hoàn toàn sẽ khống chế được cục diện. Cho nên, Đặng đã vô cùng tức giận và công khai bác bỏ phát biểu của Cảnh Tiêu khi ông này cho rằng trong tương lai TQ không đóng quân tại Hồng Kông. Tuy nhiên, rủi thay (cho TQ), công thức "một nước – hai chế độ" cho đến nay không sao áp dụng thành công đối với trường hợp Đài Loan.

Phải công nhận, TQ là bậc thầy trong những đòn nghi binh lớn. Nhớ lại thập kỷ sáu mươi, bảy mươi thế kỷ trước, mâu thuẫn Trung – Xô ngày càng tăng cao và có thể nổ ra chiến tranh lớn bất cứ lúc nào. Nhận được tin mật LX đang chuẩn bị đánh đòn hạt nhân hạn chế nhằm loại bỏ vũ khí hạt nhân của TQ đúng ngày Quốc khánh, Chu Ân Lai rất lo lắng, lập tức đến Trung Nam Hải gặp Mao Trạch Đông.

- Thưa Chủ tịch, có Thủ tướng đến, đang chờ Chủ tịch ở phòng khách. Giọng nói của một nhân viên công tác cắt ngang dòng suy tư của Mao.

- Ân Lai, ngồi xuống ta nói chuyện. Giọng Mao hồ hởi.

- Thưa Chủ tịch, báo cáo khẩn cấp Chủ tịch đã xem chưa?

- Ờ, xem rồi, cũng vẫn chuyện có thể có chiến tranh hạt nhân thôi mà. Bom nguyên tử lợi hại thật, nhưng kẻ hèn này không sợ. Mao nở nụ cười dửng dưng.

- Thưa Chủ tịch, khả năng LX đánh lén nhân ngày Quốc khánh của ta rất lớn. Ý của tôi, ta có nên nghiên cứu lại cách tổ chức mít tinh quần chúng năm nay?

- Ờ! Không tổ chức mít tinh, tôi thấy không hay lắm! Làm như vậy chẳng phải là bảo với người ta rằng, chúng tôi cũng "hốt"? Mít tinh vẫn phải làm, tôi vẫn phải có mặt ở Thiên An Môn. Với lại tôi cũng muốn mở to mắt, xem xem uy lực của bom nguyên tử rút cục lớn đến chừng nào?

Những câu hỏi dồn dập đến trong đầu Chu. Mấy chục vạn con người tập trung ở quảng trường, có chuyện gì xảy ra, sơ tán thế nào, ẩn nấp ra sao? Mao và các vị lãnh đạo khác trên lầu Thiên An Môn làm thế nào kịp an toàn rút xuống đường hầm? Năm phút, bốn phút hay ba phút sau khi có báo động? Kế sách nào vẹn toàn nhất đây?

Thế nhưng, Mao lại cười cười, bàn thêm:

- Nếu thực sự không yên tâm, xem xem có thể cho nổ thử hai quả bom nguyên tử để doạ họ? Để họ cũng rối rít lên vài ba ngày, chờ mọi việc sáng tỏ thì Quốc khánh của ta cũng xong rồi.

Cho nên, ra quân trước tiên đánh bằng mưu, sau đó đánh bằng ngoại giao, sau nữa đánh bằng quân đội, cuối cùng mới đánh thành. Mao kết luận.

Với đòn nghi binh quỷ quyệt đó, Mao và Chu đã làm phá sản kế hoạch tấn công của LX. Cho nên, chúng ta đừng quên những đòn nghi binh lớn của TQ. Trong cuộc chiến biên giới năm 1979, TQ đã thực hiện nghi binh chiến lược làm cho VN không tin là TQ sẽ đánh VN. Và thực tế là VN đã bị bất ngờ lớn vào thời điểm bị TQ tấn công – ngày 17.2.1979.

Chiến lược "thu mình dấu tài" của Đặng cũng là một đòn nghi binh lớn vậy. Đặng nói rõ, "che dấu thành tích, giữ vững trận địa, thu mình dấu tài, làm nên công tích". Thậm chí, bấy giờ TQ không cần phải giữ thể diện, cốt để được việc mình đã. Che dấu tài năng của mình, đợi đến thời điểm thích hợp, đột ngột bung ra, chiến lược "thu mình dấu tài" đã tỏ ra thành công, làm thế giới sửng sốt và bắt đầu lo ngại.

Cái gọi là xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc TQ lại là một đòn nghi binh lớn khác. Có người hỏi, TQ xây dựng chủ nghĩa xã hội kiểu gì mà vừa bắt chước y như tư bản, lại vừa khác rất xa? Trả lời, đó thứ chủ nghĩa xã hội "đặc sắc" TQ. Như vậy, mọi thứ TQ đều có thể giải thích, chỉ cần gán cho hai chữ "đặc sắc" là xong. Quả là họ rất khôn ngoan, nói như vậy là không bị ràng buộc gì. Một sự "nghi binh lớn" – nói vậy mà không phải vậy. Nó khác với VN, xây dựng "nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" là một cách nói cách cứng nhắc, tự mình ràng buộc mình, không còn chỗ để xoay trở, vì cái "định hướng" ấy.

Đến đây chúng ta tự hỏi, vậy TQ nói TQ và VN cùng kiên trì xây dựng chủ nghĩa xã hội, rằng VN và TQ "văn hóa tương thông, lý tưởng tương đồng, vận mệnh tương quan" liệu có còn đáng tin? Hay chỉ là một đòn nghi binh lớn?

Và "16 chữ vàng", tinh thần "bốn tốt" là nghi binh, còn ru ngủ, dẫn đắt VN vào mê cung của mình mới là thực? Làm VN suy yếu toàn diện, phụ thuộc hoàn toàn vào TQ, tiến đến thôn tính VN mới là thực, còn hợp tác, giúp đỡ VN chỉ là nghi binh?

Hộ chiếu "lưỡi bò" là một bước đi có thực, còn làm ra vẻ đàm phán về COC (Quy tắc ứng xử trên biển Đông) là nghi binh; kỷ niệm Quốc khánh TQ ngày 1.10 là thực, còn tổ chức kỷ niệm tại Hoàng Sa của VN là nghi binh – đặt VN vào tình huống khó xử vì đã gửi điện chúc mừng; chiếm trọn Hoàng Sa của VN là thực, còn đang giữ nguyên trạng Trường Sa là nghi binh – TQ có thể chiếm Trường Sa bất cứ lúc nào; "gác tranh chấp" là nghi binh, còn cấp tốc khai thác biển Đông mới là thực; khuyên VN coi trọng đại cục là nghi binh, còn dập tắt mọi tiếng nói yêu nước của người VN phản đối hành động ngang ngược của TQ mới là thực.

Những đòn nghi binh lớn hiện này của TQ kết hợp một cách chặt chẽ giữa chính trị và kinh tế, giữa lịch sử và hiện thực, giữa trên biển và đất liền, giữa quân sự và dân sự, giữa trên và dưới. Đặc điểm nổi bật của nó là "hư hư thực thực" hòng đánh lừa VN và thế giới.

Song, một khi lẽ phải không thuộc về TQ thì sự thất bại của những đòn nghi binh lớn ấy là tất yếu. Tuy nhiên, trong một tương lai có thể thấy trước, còn rất nhiều những đòn nghi binh lớn của TQ đang chờ VN. Vấn đề là phải nhận ra nó và sự sáng suốt là điều kiện tiên quyết để giành chiến thắng.