Thứ Tư, ngày 23 tháng 4 năm 2014

Nguyễn Thị Từ Huy : Những câu hỏi chưa được trả lời (Luận văn Nhã Thuyên)

Nguồn vanviet

tải xuống (3)

Nguyễn Thị Từ Huy

Từ khi Quyết định số 667/QĐ-ĐHSPHN ngày 11 tháng Ba năm 2014 và Quyết định số 708/QĐ-ĐHSPHN ngày 14 tháng Ba năm 2014 được Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (ĐHSPHN) ban hành và bị Đỗ Thị Thoan từ chối,  tôi luôn băn khoăn bởi một số câu hỏi, trong đó có những câu sau đây (dĩ nhiên, phải nói trước rằng đây chỉ là những câu hỏi mang tính bề mặt, còn có những câu hỏi cho phép chạm tới những tầng sâu hay những góc khuất của vụ việc, nhưng chúng được để dành cho dịp khác):

 1. Tại sao Hiệu trưởng một trường đại học lớn, từng có kinh nghiệm hợp tác làm việc với các trung tâm nghiên cứu nước ngoài, có nhiều công trình đăng tạp chí quốc tế, lại có thể ra một quyết định vi phạm hết các quy chế, quy trình và thông lệ đào tạo như thế ?

 2. Tại sao ông Hiệu trưởng không cho Hội đồng Thẩm định (HĐTĐ) và Hội đồng Chấm luận văn cùng làm việc và cùng đối chất với nhau ? Tại sao ông Hiệu trưởng không cho học viên tự bảo vệ công trình nghiên cứu của mình, theo đúng các quy trình đào tạo phải có ?

 3. Tại sao ông Hiệu trưởng lại chỉ trao cho Đỗ Thị Thoan duy nhất cái quyết định mà không trao toàn bộ các văn bản liên quan, làm cơ sở pháp lý cho quyết định ? Ông sẽ tránh khỏi bị chỉ trích, hoặc bị chỉ trích ít hơn, nếu minh bạch hóa quy trình ra quyết định. Minh bạch hóa chỉ có lợi cho ông Hiệu trưởng. Bởi vì dù ông là người ký quyết định thì các vấn đề chuyên môn vẫn là do HĐTĐ chịu trách nhiệm. Ông ký quyết định dựa trên đề nghị của HĐTĐ. Nếu ông trao hết mọi giấy tờ của HĐTĐ cho Đỗ Thị Thoan thì chẳng ai có thể nói gì ông. Mọi chỉ trích nếu có sẽ tập trung vào HĐTĐ. Nhưng ông đã không làm như vậy, ông đã tự làm khó cho mình. Điều này thật khó hiểu. Nó khiến cho người ta phải băn khoăn : vậy có tồn tại cái gọi là HĐTĐ không, hay đó chỉ là một Hội đồng ma ? Còn nếu HĐTĐ có thật, phải chăng ông Hiệu trưởng không có toàn quyền quyết định, ông bị Hội đồng điều khiển và cấm không cho công bố thông tin  ?

 4. Câu hỏi này sẽ kéo theo nhiều câu hỏi khác, ở đây tôi chỉ nêu ra một câu thôi, liên quan đến cái gọi là HĐTĐ, khi tôi giả định rằng HĐTĐ không đồng ý cho Hiệu trưởng công khai thông tin về Hội đồng. Xin nhắc lại đây chỉ là một giả định. Chúng ta cũng chẳng làm gì được khác hơn là giả định, khi mọi thứ đều bị bưng bít như vậy. Câu hỏi là : Tại sao HĐTĐ không cho phép ông Hiệu trưởng công bố danh sách Hội đồng, bản nhận xét của từng thành viên Hội đồng, và Biên bản họp Hội đồng ? Câu hỏi này lại làm nảy sinh một câu hỏi quái đản khác : Tại sao quyền công bố lại nằm ở HĐTĐ chứ không phải là ở Hiệu trưởng ? Như vậy có ngược đời quá không ? Ông Hiệu trưởng là người có quyền thành lập HĐTĐ, vậy tại sao ông lại phải nhượng bộ Hội đồng, khi Hội đồng không muốn ông công bố thông tin về các hoạt động của họ ? Ở Việt Nam, người ta đang làm việc theo kiểu gì vậy ? Vụ việc này cho thấy chẳng có bất kỳ một nguyên tắc nào, chẳng có bất kỳ một logic nào trong công việc, mà đặc biệt ở đây lại là những công việc khoa học.

 Những câu hỏi trên, cho đến thời điểm này, vẫn chưa có câu trả lời.

 Tuy nhiên, mới gần đây, trên website VanVn.net, ông Phan Trọng Thưởng cho công bố « toàn văn bản nhận xét phản biện của PGS.TS Phan Trọng Thưởng tại Hội đồng thẩm định luận văn do Trường Đại học Sư phạm Hà Nội thành lập», tôi trích nguyên văn ở website :

http://vanvn.net/news/14/4614-pgsts-phan-trong-thuong–de-hieu-ro-hon-thuc-chat-cua-mot-luan-van.html

 Lúc này tôi không bàn đến nội dung của bản nhận xét. Tôi sẽ còn trở lại với bản nhận xét phản biện này ở góc độ thuần túy khoa học, để bàn sâu về trình độ chuyên môn và các phương pháp làm việc rất có vấn đề của một PGS.TS như ông Phan Trọng Thưởng. Trừ phi có ai đó trong Hội đồng Khoa học năm 2010 của Đỗ Thị Thoan làm việc này : viết bài chỉ ra những bất cập cùng những lập luận phi khoa học và yếu kém trong bản nhận xét của PGS.TS Phan Trọng Thưởng.

 Ở đây, tôi chỉ nhấn mạnh phát hiện này : cá nhân ông Phan Trọng Thưởng đã công khai việc mình là thành viên của HĐTĐ luận văn của Đỗ Thị Thoan. Ông không muốn che giấu điều này. Như vậy, ít ra công luận được khẳng định một điều : HĐTĐ có thật. Và công luận đã biết được một thành viên của HĐTĐ.

 Sự xuất hiện công khai của ông Phan Trọng Thưởng khiến cho giả định của tôi ở mục số 4 thành ra sai một phần. Nghĩa là ít nhất có một thành viên Hội đồng không muốn « tồn tại trong bí mật », không muốn giấu thông tin, không muốn giấu căn cước. Nhưng chính điều này lại khiến cho vấn đề trở nên khó hiểu theo một cách khác : Tại sao ông Hiệu trưởng, cho đến lúc này, vẫn cương quyết không chịu trao cho Đỗ Thị Thoan những nhận xét của HĐTĐ mà cô đòi hỏi ? Trong khi đó, thành viên của HĐTĐ, ông Phan Trọng Thưởng, lại đăng công khai nhận xét của mình cho toàn thiên hạ biết? Rõ ràng, việc làm của ông Hiệu trưởng và việc làm của ông Phan Trọng Thưởng là mâu thuẫn với nhau. Vấn đề là : nếu ông Phan Trọng Thưởng công khai được thì sao ông Nguyễn Văn Minh lại phải giấu ?

 Như vậy rút cuộc, ai là người không muốn công khai các thông tin về HĐTĐ  và các văn bản của HĐTĐ ? Ông Hiệu trưởng hay HĐTĐ ?

 Liệu sự xuất hiện công khai của ông Phan Trọng Thưởng có phải là một dấu hiệu cho thấy tiến trình minh bạch hóa bắt đầu chuyển động ? Hy vọng lắm thay !

 Và một câu hỏi trong mục số 4 của tôi phải được xoay chiều : Phải chăng tới đây các thành viên khác của HĐTĐ sẽ lần lượt xuất hiện công khai cùng với các bản nhận xét của họ, giống như ông Phan Trọng Thưởng ?

 Nếu họ xuất hiện thì cũng thật đáng cho sự mong đợi của công luận bấy lâu nay.

 Nếu họ không xuất hiện thì đây sẽ là một hội đồng khoa học « độc đáo » nhất trong lịch sử đại học : hội đồng một phần năm (1/5) công khai, bốn phần năm (4/5) bí mật.

 Vụ bê bối này, nếu không được giải quyết thỏa đáng, thì hẳn nhiên, nó không chỉ là một vết nhơ của riêng một mình ông Nguyễn Văn Minh, riêng một mình HĐTĐ, riêng một mình trường Đại học Sư phạm Hà Nội hay Bộ Giáo dục và Đào tạo. Nó sẽ trở thành vết nhơ chung của toàn bộ giới giảng dạy và nghiên cứu Việt Nam, và hơn thế nữa. Đồng thời nó không chỉ là một vết nhơ, mà còn có thể kéo theo nhiều hậu quả tệ hại khác.

 Chỉ có một cách duy nhất để cứu vãn cho tất cả, đó là vụ việc được giải quyết đúng theo quy định pháp luật, đúng theo các chuẩn mực khoa học, và đúng theo các quy trình chuẩn của đào tạo và giáo dục.

 Cho đến thời điểm này, tất cả vẫn chỉ đang ở dạng câu hỏi.

 Sài Gòn, ngày 21/4/2014

Nguyễn Thị Từ Huy

Tác giả gửi Văn Việt

Thứ Ba, ngày 22 tháng 4 năm 2014

Bùi Tín : Chân lý tháng Tư

Nguồn VOA

21.04.2014

39 năm đã qua kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày chiến tranh kết thúc, ngày vui của những người thắng cuộc, ngày buồn của những người thua cuộc.
 
Sau 39 năm - bằng hơn một nửa đời người trung bình - đất nước vẫn trong tình trạng chậm tiến, công nghiệp hóa dang dở, nền giáo dục ở vị trí đèn đỏ giữa các nước Đông Nam Á, nền y tế kém cả một số nước Bắc Phi, tự do báo chí được xếp ở vị trí 171 trên 180 nước của thế giới.
 
Năm 2012, nhân dịp 30/4 một cô giáo dạy văn năm thứ 2 tại Đại học Xã hội Nhân văn Sài Gòn ra đầu đề luận văn sau đây cho sinh viên khoa báo chí: ''Cảm nghĩ về Toàn thắng của nhân dân ta trong sự nghiệp chống đế quốc Mỹ xâm lược ''. Nói chung các em đều viết luận văn của mình như giáo trình dạy, nghĩa là y như báo Nhân Dân hết lời ca ngợi đảng ta, quân đội ta, nhân dân ta, ca ngợi sự lãnh đạo anh minh, sáng tạo của đảng CS, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng của dân tộc, vân vân …
 
Riêng có một em băn khoăn về đề tài vừa kể, suy nghĩ kỹ rồi mạnh dạn nói lên niềm lo lắng của mình: ''Thưa cô em rất muốn hiểu và nói như cô dạy, như giáo trình, nhưng em đã nghĩ kỹ, và em không thể … Em thấy Hoa kỳ không phải là đế quốc xâm lược…''.
 
Cô giáo giật mình. Lại một em sinh viên cứng đầu, khó bảo. Cô khuyên em hãy cẩn trọng. Em là đoàn viên Đoàn Thanh niên CS Hồ Chí Minh. Rồi em sẽ còn phấn đấu vào đảng CS. Em hãy lên thư viện đọc nhiều tài liệu hơn để nắm bắt được lẽ phải, chân lý, để viết luận văn cho hay cho đúng …
 
Em sinh viên Lê Vũ Cát Đằng vẫn tự mình đi tìm chân lý theo cách của em, suy nghĩ bằng cái đầu tỉnh táo của mình, không để lệ thuộc vào điều gì khác, đọc nhiều sách báo, suy luận rốt ráo bằng phương pháp khoa học, khách quan, hợp lý, công bằng và ngay thẳng.
 
Em viết nên một bài luận văn, thực tế là một bài phản biện súc tích, sinh động, đầy tính thuyết phục (được đăng trên mạng Dân Làm Báo tháng 4 năm 2013) do nhà báo Hoàng Thanh Trúc tóm tắt giới thiệu. Em nói lên nhận định, đánh giá của chính mình về cuộc chiến ở Việt Nam, rằng :

  - Hoa Kỳ không phải là đế quốc, vì không có một tham vọng nào về lãnh thổ, về thuộc địa kiểu cũ hay kiểu mới, về tài nguyên ở Việt Nam;

   - Hành động của Hoa Kỳ ở VN do đó không thể nào gọi là xâm lược ;

   - Chứng minh nữa của em Cát Đằng là Hoa Kỳ ở châu Âu sau khi tham gia đánh bại bọn phát xít Hitler đã tận lực cùng các nước đồng minh châu Âu giúp cho Tây Đức xây dựng lại đất nước về mọi mặt sau chiến tranh, còn hỗ trợ cho công cuộc thống nhất nước Đức thành một cường quốc dân chủ ngày nay, được toàn dân Đức ca ngợi và biết ơn;

   - Ở Đông Nam Á trong Thế chiến 2, quân đội Hoa Kỳ đã chiến đấu chống quân đội Nhật Bản, tham gia giải phóng các nước Indonesia, Philippines, Đài Loan, sau đó giúp 3 nước này xây dựng lại sau chiến tranh, phát triển kinh tế mạnh mẽ như ngày nay, được nhân dân 3 nước đó quý mến biết ơn;
   
Em Cát Đằng nêu lên sự giúp đỡ đặc biệt của Hoa Kỳ đối với Nhật Bản, kẻ thù chính trong chiến tranh. Em viện dẫn tài liệu cho thấy nhân dân Nhật đã nhất trí vinh danh 12 vị anh hùng đã có công lao to lớn trong phục hồi và xây dựng lại Nhật Bản sau tàn phá kinh hoàng của chiến tranh; trong 12 vị anh hùng đó có 11 người là người Nhật, từ nhà lãnh đạo chính trị, nhà tư tưởng, nhà kinh tế - tài chính, nhà sáng chế phát minh, nhà giáo dục, nhà kinh doanh và chỉ có 1 người nước ngoài, là Đại tướng Hoa Kỳ Douglas Mac-Arthur (1880 – 1964), tư lệnh đạo quân chiếm đóng Nhật Bản.

Vị tướng này và đạo quân Hoa Kỳ trên đất Nhật đã tận lực giúp cho Nhật Bản phục hồi nhanh chóng, toàn diện, tạo nên nét thần kỳ Nhật Bản, chỉ trong thời gian ngắn, duy trì và hiện đại hóa chế độ hoàng gia thành một cường quốc dân chủ và pháp quyền đứng đầu châu Á, được toàn dân Nhật Bản ca ngợi, biết ơn và mãi mãi ghi công. Tướng như thế, quân như thế không thể là đế quốc xâm lược.
 
Nhân tháng tư năm nay, bộ máy tuyên truyền của nhà nước VNnăm nay, sau 39 năm dài, vẫn giữ nguyên não trạng cũ kỹ, giáo điều, không tưởng, huênh hoang về cái gọi là ''toàn thắng đế quốc Mỹ xâm lược'', về ''lịch sử oai hùng ta đánh bại cả 3 đế quốc lớn thuộc 3 châu Á, Âu, Mỹ» , giăng khẩu hiệu khắp nơi, tổ chức mit tinh rầm rộ, nhưng thật ra là không có thực chất, tự lừa mình và lừa nhân dân, khi nhân dân đã thức tỉnh và phần lớn đã nhận ra lý lẽ xác đáng của em sinh viên Lê Vũ Cát Đằng.
 
Nhân dịp này cần chỉ ra việc viếng nghĩa trang, tưởng niệm các liệt sỹ hy sinh trong chiến tranh, được bày ra trong những ngày lễ Tết, ngày kỷ niệm và mỗi phiên khai mạc họp Quốc hội hay đại hội đảng … cũng không có thực chất, không chân thành, còn ngày càng trở nên cay đắng mỉa mai. Vì hàng triệu chiến sỹ ngã xuống mỗi người đều mang theo niềm tin rằng ta hy sinh không hề tiếc thân mình vì đất nước sẽ hoàn toàn độc lập, toàn dân sẽ có tư do dân chủ đầy đủ và Tổ quốc sẽ phồn vinh, hạnh phúc, giàu có được chia cho toàn dân cùng hưởng. Hàng triệu thanh niên ưu tú nhất đã hy sinh đời mình trong niềm tin ''đánh xong giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay ''. Niềm tin thiêng liêng ấy đến nay rõ ràng đã bị bỏ quên, bị phản bội rõ ràng.
 
Chế độ độc đảng đã suy thoái đến băng hoại, phá huỷ tài sản quốc gia, chia nhau thành quả phát triển do toàn dân tạo nên cho các phe nhóm lợi ích riêng tư, để cả một tầng lớp quan lại bất tài - trừ tài tham nhũng - chia nhau tùy tiện không có ai giám sát, thanh tra, kiểm soát, tạo nên khoản nợ khổng lồ hơn 50 tỷ US$ đè lên lưng nhân dân, để cho hàng vài chục đại án tham nhũng không sao phá án nổi như đã hứa hẹn thề thốt với nhân dân.
 
Nếu như hàng triệu liệt sỹ của cả 2 bên bừng tỉnh dậy và chất vấn Bộ Chính trị trong dịp tháng tư này, về vì sao để cho tình hình sa sút tệ hại đến thế này, vì sao đã quên lời hứa năm xưa, ta hình dung họ sẽ ấp úng, loay hoay, cứng hàm, không còn biết thanh minh, lý giải ra sao.
 
Nhân dịp 30 tháng 4 năm nay, tất cả Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương đảng, Quốc hội mà 90 % là đảng viên CS, cũng như Mặt trận Tổ quốc VN do đảng CS lập ra để sai khiến, hãy lắng tai nghe cho thật rõ 2 tiếng nói ''Chân lý tháng Tư ''. Một là tiếng nói của một em sinh viên dám là mình, có tư duy độc lập, phản biện về cái gọi là ''toàn thắng trong sự nghiệp chống đế quốc Mỹ xâm lược'' điều đến nay họ vẫn còn huênh hoang. Hai là một tiếng nói âm thầm nhưng rộng khắp, quyết liệt như vang lên từ hàng triệu ngôi mộ liệt sỹ khắp nơi, «chất vấn nghiêm khắc về lời hứa của lãnh đạo CS là sẽ xây dựng nước ta trong hòa bình to đẹp gấp mười lần hơn trước, đạt tự do và hạnh phúc cho toàn dân cùng hưởng''. Một lời hứa cuội đã bay theo chiều gió, thay vào đó là thu nhập của các ''đày tớ '' thường là cao gấp 10, gấp trăm, có khi gấp ngàn lần lương ba cọc ba đồng của hàng chục triệu ''ông chủ'' đã trắng tay, do đày tớ làm loạn mà nên. Xin quý vị hãy lắng nghe 2 tiếng nói ấy để nhận ra những sự thật và tình thế nhãn tiền của đất nước.

Thứ Hai, ngày 21 tháng 4 năm 2014

Đình Trung : Tản mạn về sách

Nguồn chuacuuthe
ĐĂNG NGÀY: 21.04.2014 , MỤC: BÌNH LUẬNCHUYÊN ĐỀ

sachVRNs ( 21.04.2014) – Sài Gòn-  Sáng nay (20/04/2014) cầm cuốn báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần trên tay, ngay trang bìa có mô hình biễu diễn về thống kê đọc sách, mô hình hình chóp nón, đỉnh là Việt nam với tỷ lệ đọc sách bình quân 1 người đọc 0,8 cuốn /1 năm, kế đến là Malaysia > 10, Mỹ 12 và cuối cùng là Pháp 15 cuốn/năm. Số liệu này được chú thích là theo số liệu của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (trang 3).Nếu đây là tỷ lệ chính xác thì thật đáng buồn, đáng xấu hổ và đáng lo ngại, mà có lẽ chính xác thật.

Tôi thường di chuyển đó đây nên có dịp quan sát, khách nước ngoài (người phương Tây, và cả người Hàn, người Nhật) trong những lúc di chuyển, trên máy bay, xe hỏa hay tàu thuyền, khi ngồi đợi ở các nhà ga, hoặc khi trong các quán cà phê, nói chung những chỗ nào tương đối ổn định đếu thấy họ đọc sách, người lớn tuổi cũng như thanh niên, ngược lại, người Việt và người Tàu thì không, thường thì người Việt tụ tập nói chuyện ồn ào, ăn vặt hoặc … ngủ ! Rất hiếm thấy người Việt đọc sách ở những nơi công cộng như vừa kể.

Tôi sinh sống ở thành phố Saigon này gần 60 năm (ngoại trừ một vài năm xa thành phố) nên có dịp theo dõi và chứng kiến những biến cố lịch sử của đất nước cũng như thành phố.

 

Trước năm 75, hệ thống thư viện hầu như có mặt ở tất cả các trường học, kể cả trường tiểu học (cấp 1 bây giờ), năm tiểu học tôi học trường tiểu học Trần Quý Cáp cạnh hồ Con Rùa, ngay ngã tư Trần Quý Cáp (Võ Văn Tần bây giờ) và Pasteur, dọc đường Pasteur gần trường Đại học Kiến Trúc có một thư viện nhỏ rất êm đềm và thinh lặng, tuổi thơ của tôi đã say mê hằng giờ trong đó khi đi học sớm hoặc chờ cha đến đón. Gần xóm nhà tôi có mấy hiệu cho thuê sách, đủ mọi loại sách, giá thế chân rất rẻ và giá thuê sách cũng rất rẻ, những cuốn sách bìa được đóng lại bằng giấy bao xi măng, tên cuốn sách được nắn nót bằng bút lông to bản, ngoài bìa giấy xi măng là một bao nilon để bảo vệ cuốn  sách, bìa trong ghi chi chít ngày và giờ các khách  hàng đã thuê sách đọc. Đủ mọi loại sách, thượng vàng hạ cám, nhưng chủ hiệu cho thuê sách thường nhìn mặt mà cho thuê, trẻ con đừng mong thuê được những cuốn sách tiểu thuyết kiểu bà Tùng Long hay Nghiêm Lệ Quân.

 

Tôi thường có mặt ở nhà sách Khai Trí vì được đọc sách miễn phí, chỉ một điều phiền là phải đứng mỏi chân, Nhà sách Đức Mẹ ở Kỳ Đồng thì thật tuyệt, tuyệt vì không khí mát rượi lại được xem các sách báo Công giáo. Mỗi chiểu thứ bảy, sau khi dự chầu ở Đền tôi đều vào lân la trong nhà sách, để nghe nhạc, để đọc sách, để ngắm tranh ảnh, để mua báo Đức Mẹ và báo Tuổi Hoa. Đôi khi cũng tạt vào nhà sách Đa Minh, nhà sách Hiện Tại là những nhà sách báo đạo ở thành phố này.

 

Tôi có một người bạn, chị ấy là một nghệ sĩ Violon, ngôi nhà nhỏ chị ở cùng với bà mẹ trong con hẻm nhỏ đường Yên Đổ (Lý Chính Thắng bây giờ), ngôi nhà có những cái cửa sổ lật màu đỏ gụ, bên trong ngôi nhà ấy là một tủ sách lớn, phần lớn là sách ngoại quốc, sách dịch và sách của nhóm Tự lực Văn đoàn. Những cuốn sách được chị nâng niu bao bọc bằng một loại giấy bóng kiếng mờ mờ đục đục, mong manh, khiến người cầm đọc phải thật thận trọng, nhẹ nhàng, yêu quý. Ngày ấy tôi đọc được trong tủ sách của chị cuốn Hoa Vông Vang của Đỗ Tốn, lâu nay tôi cố ý tìm nhưng chưa thấy in lại. Bây giờ nghe nói ở Hoa Ký, chị không thường xuyên đàn nữa nhưng lại cầm bút.

 

Ngày xưa tôi được xếp vào loại học giỏi, tháng nào cũng có Bảng Danh Dự, năm nào cũng được phần thưởng cuối năm, phần thưởng của học sinh lúc bấy giờ là sách, đặc biệt nhất là các cuốn tự điển, bọn nhà nghèo chúng tôi mà học khá thì chẳng thua kém chúng bạn về phương diện sách, mặc dầu không có tiền để mua. Có năm tôi đươc học một cô giáo rất đẹp, bọn con trai chúng tôi học mà cứ trầm trồ ngắm và khen cô đẹp, theo sự nhận xét non trẻ của chúng tôi lúc bấy giờ thì hình như nhiều thầy giáo trẻ cũng theo đuổi cô nữa. Mỗi tháng cô đều có phần thưởng cho học sinh nhất lớp về môn Anh văn của cô, phần thưởng chỉ là 1 cuốn sách bằng tiếng Anh, nhưng rất vinh dự vì có chữ đề tặng của cô, trong tháng đó, người học sinh có phần thưởng sẽ phải đứng lên giữa lớp nói về nội dung cuốn sách đã được cô tặng. Sau năm 75, nghe nói cô đã gởi xác cùng với cả gia đình giữa lòng đại dương có tên là Thái Bình.

 

Chúng tôi có kinh nghiệm về việc đọc sách rất sống động, là những kỷ niệm không thể xóa nhòa trong tâm trí tôi. Mỗi ngày sau bữa cơm chiều, việc dọn dẹp được thực hiện thật nhanh chóng, cả nhà tập họp ở phòng chung theo lệnh của bố tôi, mỗi ngày cả nhà được nghe một đoạn trong các cuốn tiểu thuyết của nhóm Tự lực Văn đoàn, khi đọc xong đoạn bố tôi chỉ định, kế đến là phần nhận xét và phê bình, hoặc bố tôi phân tích nhận định, hoặc ông đặt câu hỏi và bắt con cái trả lời, nhờ thế chúng tôi biết rất nhiều về nhóm Tự lực Văn đoàn, khi vào lớp học, chúng tôi luôn dành đươc điểm cao môn thuyết trình lớp Đệ Ngũ. Ngày ấy tôi để ý thấy bố "nịnh" mẹ rất rõ, ông cho đọc đi đọc lại cuốn "Tôi là mẹ" của Lê Văn Trương, một cuốn tiểu thuyết đề cao tâm hồn hy sinh quảng đại của người mẹ. Một điểm khác, có lẽ do nhà tôi có nhiều anh trai lớn, hình như ông có ý chuẩn bị tâm lý cho cả nhà, nhất là mẹ tôi nên cũng hay cho đọc đi đọc lại cuốn "Nửa chừng xuân", "Gánh hàng hoa","Anh phải sống" và "Đoạn tuyêt".

 

Biến cố 1975 ập đến cho miền nam, cùng với tài sản trong nhà theo nhau ra ngõ, sách cũng xếp hàng lần lượt ra đi, một chợ sách cũ thật lớn ở ngay khu Sinco, đường Calmet, gần đường Trần Hưng Đạo, đây là địa chỉ tôi hay dừng lại sau những cuốc đạp chiếc xich lô mệt mỏi để mưu sinh, ở đó muôn vàn sách các loại được tuồn ra, sách quý rất nhiều, rất nhiều cặp mặt nâng niu tần ngần tiếc rẻ, ở đó chúng tôi gặp sách, ở đó chúng tôi cũng gặp nhau, những trí thức miền nam thất chí, nhìn nhau bằng con mắt thương cảm, rã rời, tất cả cùng đói nên chẳng biết nói với nhau câu gì, chia sẻ với nhau cái gì nữa.

 

Xã hội thay đổi quá nhanh chóng, nhất là thay đổi hoàn toàn sau biến cố 1975,  không gian nhà trường thay đổi, bầu khí gia đình cũng thay đổi, kết quả cho đến hôm nay, tỷ lệ đọc sách của người Việt rơi tự do một cách thảm hại, không đọc sách đồng nghĩa với ngu dốt, dân tộc chúng ta sẽ đi về đâu, đất nước chúng ta sẽ đi về đâu, khi dân số tăng mà tri thức không tăng, thậm chí lùi ? Sẽ là một mớ người hỗn độn kém cỏi quay ra cấu xé lẫn nhau, phá hết của cải cha ông để lại, bán hết tài sản của gia đình rồi đem thân làm nô lệ ? 

Đã có những cố gắng để người dân tiếp cận được sách nhiều hơn, đã có những cá nhân, những tổ chức dân sự cố gắng đem sách về nông thôn. Về phía Giáo Hội, một vài nhóm có tổ chức gởi các tủ sách nhà đạo về các vùng sâu vùng xa, trong những chuyến về các vùng ấy, tôi đã thấy một vài nơi tổ chức tủ sách cho thiếu niên nhi đồng, một trong những hoạt động công khai là tủ sách Giêrado của Nhà sách Đức Mẹ ở Kỳ Đồng, hàng trăm tủ sách đã được gởi đi từ chương trình này, nhưng hình như chưa đủ để kích cái tỷ lệ nhục nhã kia lên đến con số tròn 1/năm. Cần phải có một sự thay đổi vĩ mô của xã hội. Bao giờ ?

 Đình Trung

20/4/2014

Tự do thông tin ở Việt Nam dưới ánh sáng của Giáo huấn xã hội Công giáo

Nguồn chuacuuthe

ĐĂNG NGÀY: 21.04.2014 ,

VRNs (21.04.2014) – Sài Gòn – Hôm qua, Truyền thông Chúa Cứu Thế Việt Nam – VRNs, đã phổ biến Thông báo hội thảo truyền thông với chủ đề Tự do thông tin ở Việt Nam dưới ánh sáng của Giáo huấn xã hội Công giáo.

Theo đó, Hội thảo được tổ chức tại Sài Gòn, từ 15 đến 18 giờ, ngày thứ năm, 01.05.2014. Hội thảo có hai phần chính là thuyết trình và thảo luận nhóm. Cũng theo Thông báo, mọi người trưởng thành đều có thể ghi danh tham dự tại Văn phòng giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Sài Gòn hoặc qua hôp thư email:truyenthongdoclap@gmail.com.

Sau đây là toàn văn Thông báo.

—-

 

THÔNG BÁO HỘI THẢO TRUYỀN THÔNG

14042100Thông tin đang trở nên nhu cầu quan trọng trong đời sống của mỗi người, nhân Ngày Tự Do Truyền Thông Thế giới (03 tháng 05), để giúp anh chị em giáo dân và những ai quan tâm đến tự do thông tin tại Việt Nam, Truyền thông Chúa Cứu Thế Việt Nam (Vietnamese Redemptorists' News – VRNs) sẽ tổ chức một buổi hội thảo chuyên đề truyền thông với:

Chủ đề: Tự do thông tin ở Việt Nam dưới ánh sáng của Giáo huấn xã hội Công giáo

Hình thức thực hiện: Các nhà chuyên môn sẽ thuyết trình các đề tài, sau đó các tham dự viên sẽ cùng nhau thảo luận.

Thời gian: từ 15:00 – 18:00, thứ Năm, ngày 01 tháng 05 năm 2014

Địa điểm: Tại Nhà giáo lý, giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp – DCCT Sài Gòn, số 38 Kỳ Đồng, quận 3, Sài Gòn.

Tham dự viên: Tất cả những người trưởng thành đều có thể ghi danh tham dự tại Văn phòng giáo xứ hoặc qua email gởi về hộp thư: truyenthongdoclap@gmail.com trước ngày 28.04.2014.

Kính mời quý vị ghi danh tham dự

Thứ Ba, ngày 15 tháng 4 năm 2014

Anna Huyền Trang tường thuật những việc phi pháp của an ninh sân bay Tân Sơn Nhất

Nguồn chuacuuthe

ĐĂNG NGÀY: 15.04.2014

VRNs (15.04.2014) – Sài Gòn - Vào lúc 23 giờ 50 ngày 13.04.2014, tại Sân bay Tân Sơn Nhất, tôi có chuyến bay sang Hoa Kỳ để thực hiện công việc trong sứ vụ Truyền thông Chúa Cứu Thế.

Trước đó, vào lúc 21 giờ, tôi làm thủ tục xuất cảnh, tại quầy xuất cảnh. Khi tôi đưa hộ chiếu cho nhân viên an ninh, họ kiểm tra. Liền sau đó nhân viên an ninh tỏ ra lúng túng và hỏi tôi "chị đã từng bị án hình sự chưa?". Tôi quả quyết: "tôi là một công dân tự do, chưa bao giờ vi phạm pháp luật".

Khoảng 15 phút sau, họ yêu cầu tôi vào phòng làm việc. Tại đây, tôi luôn lần hạt bởi vì tôi luôn mang Chuỗi Mân côi bên người và cầu xin Đức Mẹ che chở tôi. Công an viên tên Phúc làm việc với tôi, lập biên bản cấm xuất cảnh và hỏi tôi: "Chị là phóng viên đúng không?". Tôi trả lời: "Vâng, tôi là phóng viên và phát thanh viên của Truyền thông Chúa Cứu Thế".

Tôi yêu cầu họ cho biết, "Lý do vì sao tôi bị cấm xuất cảnh?". Công an viên Phúc trả lời: "Đây là lệnh của công an Thành phố". Tôi hỏi: "Hành vi nào cho thấy tôi không được xuất cảnh?". Công an viên Phúc nói: "Tôi chỉ làm theo lệnh của công an Tp, chị muốn hỏi lý do thì lên đó mà hỏi". Tôi nói: "Các ông là người bắt giữ tôi, thu passport, thu vé máy bay nên các ông phải cho tôi biết lý do vì sao tôi bị cấm xuất cảnh, phải trả lại passport, hoàn lại chi phí vé máy bay cho tôi". Công an viên Phúc không trả lời, gọi điện thoại, sau đó nói: "Công an thành phố sẽ xuống làm việc với chị". Tôi nói: "Ông có thể cho tôi biết, tôi sẽ đợi họ trong vòng bao lâu?" Công an viên Phúc đáp: "Tí nữa họ sẽ xuống". Tôi nói: "Tí nữa là bao lâu ạ? Tôi cần thời gian cụ thể? Ông không thể trả lời lập lờ như thế được". Công an viên Phúc gọi điện thoại, sau đó nói: "1 tiếng nữa công an Tp sẽ xuống làm việc với chị". Tôi nói: "Vâng, vậy thì tôi sẽ ghi lại số điện thoại của tôi lại đây. Tôi sẽ ra ngoài đợi và khi nào công an Tp xuống thì ông làm ơn gọi điện thoại cho tôi biết. Lúc đó, tôi sẽ vào làm việc với họ". Công an viên Phúc trả lời: "Chị không được ra khỏi phòng làm việc". Tôi phản ứng: "Tại sao tôi không được đi ra khỏi đây ạ? Quyết định tạm giữ tôi đâu?" Công an viên Phúc nói: "Tôi có quyền mời chị vào làm việc". Tôi nói: "Ông có gửi cho tôi giấy mời này không?". Công an viên Phúc nói: "Đây là cơ quan an ninh, tôi có quyền mời chị". Tôi nói: "Ông có quyền mời tôi nhưng phải đúng thủ tục pháp luật, nghĩa là phải có giấy mời. Nếu không có, các ông giữ tôi lại là đang tạm giam tôi một cách trái phép". Công an viên Phúc nói: "Đây là phòng làm việc, chúng tôi không tạm giữ chị mà chúng tôi chỉ mời chị vào làm việc". Tôi khẳng khái: "Vậy thì ông đưa cho tôi giấy mời làm việc và làm việc với nội dung gì. Nếu không có, tôi có quyền ra khỏi đây".

Tôi liền đi ra khỏi phòng làm việc. Ngay lập tức, công an viên Phúc la lên "Bắt con bé đó lại, gọi hai nữ an ninh bắt giữ nó lại". Tôi cứ bước đi chậm rãi và khoan thai. Sau đó, hai nữ công an có dáng người mảnh khảnh giữ tôi lại, tôi vùng vằng không chịu đi với họ. Hai công an viên nữ nói: "Chị phải nghe lời chúng tôi". Tôi nói: "Các chị có quyết định giữ tôi không, sao lại lôi kéo tôi thế này". Hai nữ công an luôn lập đi lập lại: "Chị phải nghe lời chúng tôi". Tôi nói: "Tôi là công dân tự do, tôi có quyền đi lại, tại sao các chị lại bắt giữ tôi. Các chị không có quyết định tạm giữ tôi thì chính các chị đang vi phạm pháp luật và đây là hành vi bắt cóc người". Tôi liền la to: "Công an bắt cóc người. Công an bắt cóc người..". Ngay lúc đó, rất nhiều hành khách đang làm thủ tục xuất cảnh theo dõi chúng tôi.

Một lúc sau, họ lôi tôi vào trong phòng làm việc. Họ khóa cửa lại, có hai nữ an ninh và công an viên Phúc ở trong đó tiếp tục làm việc với tôi. Họ lập biên bản với nội dung đối tượng bị cấm không được xuất cảnh…

Sau khi công an viên Phúc lập biên bản xong, ông Vũ Xuân Ái, một công an cửa khẩu, vào phòng nói: "Hôm nay, là chủ nhật và bây giờ là ban đêm rồi nên công an Tp họ sẽ không xuống làm việc với chị, yêu cầu chị ký vào biên bản này". Tôi quả quyết không ký và yêu cầu ông Vũ Xuân Ái trả lại passport, hoàn lại chi phí vé máy bay cho tôi. Ông Vũ Xuân Ái nói: "Chị lên công an thành phố yêu cầu giải quyết". Tôi đáp: "Ở đây bắt giữ tôi, thu hộ chiếu và vé máy bay của tôi. Vậy các cán bộ ở đây có trách nhiệm cho tôi biết lý do vì sao tôi không được xuất cảnh, phải trả lại hộ chiếu và hoàn lại chi phí vé máy bay cho tôi".

Ông Vũ Xuân Ái nêu lý do không cho tôi xuất cảnh là: "Theo lệnh của công an Tp". Tôi liền nói: "Lý do rất mơ hồ.

Ông Ái

Ông Vũ Xuân Ái, cán bộ công an sân bay Tân Sơn Nhất: "Tôi là luật !"

công an

công an

Vậy hành vi nào lại cấm xuất cảnh tôi?" Ông Vũ Xuân Ái nói: "Hành vi cấm xuất cảnh là theo lệnh của công an Tp". Tôi hết sức ngạc nhiên hỏi: "Ông ơi, làm theo lệnh của người khác là hành vi cấm xuất cảnh tôi à?" Ông Vũ Xuân Ái lúng túng nói: "Chị ký biên bản đi và mời chị ra về". Tôi quả quyết: "Tôi không ký, passport thuộc quyền sở hữu của tôi, các ông trả lại cho tôi". Ông Vũ Xuân Ái nói: "Passport là tài sản của nhà nước chứ không phải của chị nên chúng tôi có quyền thu giữ". Tôi nói: "Nhà cầm quyền cs VN này cấp cho tôi cái passport, nó thuộc quyền sở hữu của tôi, ông không có quyền thu giữ passport của tôi". Ông Vũ Xuân Ái nói: "Chị không phải nói nhiều, chị ký vào biên bản và mời chị ra khỏi đây". Tôi nói: "Tôi không ký, không đi đâu hết, khi nào trả lại cho tôi cái passport và hoàn lại chi phí vé máy bay thì tôi mới ra về. Nếu muốn tôi ký biên bản thì phải lập biên bản thu giữ hộ chiếu, hoặc biên bản tạm giữ hộ chiếu, hoặc quyết định tịch thu hộ chiếu. Các ông không giải quyết đúng quy định pháp luật, tôi sẽ không về và sẽ ở lại đây đòi hộ chiếu".

Ông Vũ Xuân Ái tức tối: "Tôi là Luật. Tôi đang làm đúng pháp luật. Tôi sẽ chịu trách nhiệm những gì tôi ký. Chị muốn gì thì cứ lên công an Tp mà hỏi". Tôi nói: "Thưa ông, các cơ quan nhà cầm quyền này luôn đùn đẩy trách nhiệm cho nhau nên tôi không đi đâu hết. Các ông thu hộ chiếu của tôi thì các ông phải giải quyết cho tôi. Ông khẳng định ông làm đúng quy định của pháp luật, vậy tại sao ông không lập biên bản thu giữ hộ chiếu, hoặc biên bản tạm giữ hộ chiếu, hoặc quyết định tịch thu hộ chiếu mà lại thu giữ một cách bất hợp pháp như vậy ạ?".

Ông Vũ Xuân Ái nói: "Tôi làm đúng pháp luật. Chị không ký thì mặc kệ chị. Mời chị ra về". Tôi nhất quyết không ra về vì họ đã xâm phạm đến quyền lợi công dân của tôi. Tôi ngồi lại đó và tiếp tục đọc kinh. Còn họ mở cửa phòng và tất cả đi ra bên ngoài hết để lại tôi ngồi lại một mình trong phòng. Mấy chị an ninh ở bên ngoài nói vọng lại: "Chắc phải lôi nó ra ngoài thôi"….

Khoảng 20 phút sau, ông Vũ Xuân Ái đi vào phòng và theo sau có 2 viên công an nữ đeo bảng tên, 5 nam an ninh sân bay đeo bảng tên, 4 cảnh sát cơ động không đeo bảng tên gây áp lực tôi bằng cách đứng xung quanh, yêu cầu tôi ký biên bản và mời ra về. Tôi nhìn thẳng vào ông Vũ Xuân Ái với một giọng nói dứt khoát: "Tôi không ký, không ra về trừ khi trả lại cho tôi cái hộ chiếu, hoặc lập biên bản tịch thu hộ chiếu, hoặc biên bản tạm giữ hộ chiếu, hoặc quyết định tịch thu hộ chiếu. Bằng không, tôi không ra về".

Ông Vũ Xuân Ái nhìn tôi với ánh mắt giận giữ và nói: "Lôi nó ra ngoài". Tôi thẳng thừng đáp: "Trả lại cho tôi cái hộ chiếu, hoặc lập biên bản tịch thu hộ chiếu, hoặc biên bản tạm giữ hộ chiếu, hoặc quyết định tịch thu hộ chiếu". Ông Vũ Xuân Ái nói: "Tôi giải thích cho chị mà chị không hiểu à?". Tôi nói: "Ông làm sai luật, vi phạm pháp luật nên tôi phản đối. Với quyền công dân, cán bộ vi phạm pháp luật, tôi sẽ khởi kiện, khiếu nại và tố cáo ông. Điều cơ bản nhất các ông còn vi phạm thì điều gì các ông không thể không làm được".

Ông Vũ Xuân Ái nói: "Tôi là Luật. Tôi làm đúng pháp luật. Tôi sẽ chịu trách nhiệm những gì tôi nói và ký. Chị muốn kiện thì cứ kiện". Tôi quả quyết: "Chắc chắn, tôi sẽ tố cáo, khởi kiện ông vì ông là cán bộ mà lại vi phạm pháp luật". Ông Vũ Xuân Ái tức giận và ra lệnh: "Lôi con này ra ngoài".

Ngay sau đó, có một giọng nói đằng sau vang lên: "Mời chị ký biên bản và mời chị ra ngoài". Tôi quay lại và nói: "Anh là ai? Tôi không làm việc với anh, tôi chỉ làm việc với ông Vũ Xuân Ái, người đang xâm phạm đến quyền lợi công dân của tôi". Đó là viên cảnh sát cơ động, người này đã đánh tôi một cách hung bạo sau đó. Viên cảnh sát này nói: "Tôi sẽ mời chị ba lần. Nếu chị không ra, chúng tôi sẽ cưỡng chế chị ra khỏi đây. Lần thứ nhất mời chị ra khỏi đây". Tôi nói: "Trả lại hộ chiếu cho tôi, hoặc lập biên bản tịch thu hộ chiếu, hoặc biên bản tạm giữ hộ chiếu, hoặc quyết định tịch thu hộ chiếu". Viên cảnh sát này hầm hè: "Lần thứ hai mời chị ra khỏi đây". Tôi la lên: "Trả lại hộ chiếu cho tôi, hoặc lập biên bản tịch thu hộ chiếu, hoặc biên bản tạm giữ hộ chiếu, hoặc quyết định tịch thu hộ chiếu". Viên cảnh sát này tức giận thét lên: "Lần thứ ba mời chị ra khỏi đây". Tôi kêu lên: "Trả lại hộ chiếu cho tôi, hoặc lập biên bản tịch thu hộ chiếu, hoặc biên bản tạm giữ hộ chiếu, hoặc quyết định tịch thu hộ chiếu". Viên cảnh sát này xuống giọng và nói: "Mời chị ra khỏi đây". Tôi thẳng thừng nói: "Trả lại hộ chiếu cho tôi, hoặc lập biên bản tịch thu hộ chiếu, hoặc biên bản tạm giữ hộ chiếu, hoặc quyết định tịch thu hộ chiếu".

Liền sau đó, 3 – 4 viên an ninh lao vào tôi, lôi tôi ra khỏi phòng. Tôi liền ôm chặt cánh cửa phòng kiên quyết không ra. Họ tiếp tục lôi tôi ra khỏi phòng nhưng chân tay tôi vẫn bám chặt cánh cửa. Sau đó, khoảng 3 – 4 công an viên bẻ chân, bẻ tay, xoắn tay tôi ra đằng sau và đẩy tôi ra khỏi phòng. Ra khỏi đó, tôi liền la lên: "Công an bắt cóc người, đánh người. Công an bắt cóc người, đánh người..". Hai viên cảnh sát này không đeo bảng tên tiếp tục vặn và xoắn tay tôi ra đằng sau, kẹp cổ tôi, áp giải tôi ra cổng… Tôi vùng vẫy và la lên hết sức có thể "Công an bắt cóc người, đánh người. Công an bắt cóc người, đánh người..". Viên cảnh sát cơ động đang kẹp cổ tôi liền lấy bàn tay còn lại của ông ta dọng thẳng vào cổ họng tôi. Lúc ấy, tôi đau điếng người, đầu quay cuồng, chân khuỵ xuống nền nhà vì đau quá. Lúc này, tôi chỉ biết thì thầm: "Chúa ơi! Mẹ ơi! cứu con, con đau quá!". Họ tiếp tục lôi tôi đi một đoạn ngắn, tôi lại gắng sức còn lại hét "Công an bắt cóc người, đánh người. Công an bắt cóc người, đánh người..". Tôi hét cho đến khi ra tận cổng. Còn họ vẫn tiếp tục dùng sức vặn, xoắn tay tôi ra đằng sau và kẹp cổ tôi.

140415001Ra đến tận cổng, họ thả tôi ra. Tôi liền quay lại, chụp lấy công an viên đã đánh tôi, để tố cáo với mọi người xung quanh rằng anh ta đã đánh tôi một cách thô bạo. Nhưng anh ta chối leo lẻo, không dám thú nhận và liền tháo chạy vào bên trong đại sảnh của sân bay. Những người dân đứng bên ngoài la lên "kêu nhà báo đến để cho họ chứng kiến sự việc này". Sự việc kết thúc vào khoảng 23 giờ 30 cùng ngày.

Trong khi làm việc với họ, tôi không ngừng lần hạt và đối chất với họ. Tôi ra về trong tình thương của bạn bè đứng bên ngoài chờ đợi tôi và trong sự bình an của Chúa và Đức Mẹ Maria luôn ở bên tôi. Tôi chỉ biết tạ ơn Thiên Chúa, vì Ngài đã ban cho tôi một hồng ân mới. Nhờ đó, tôi cảm nếm được sự khốn cùng của phận nghèo, của kiếp dân đen. Tạ ơn Chúa.

Huyền Trang, VRNs

Thứ Hai, ngày 14 tháng 4 năm 2014

RFA. Điều gì khiến người dân Bắc Sơn nổi loạn?

Nguồn RFA

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2014-04-14

Không lùi bước trước bạo lực

Vụ nổi loạn của người dân xã Bắc Sơn huyện Thạch Hà tỉnh Hà tĩnh vẫn chưa kết thúc. Trong khi công an khởi tố thêm ba người về tội gây rối trật tự công cộng thì người dân tại đây vẫn chưa có dấu hiệu nào thụt lùi trước bạo lực của nhà nước đối với họ.

Vào chiều ngày 10 tháng 4, năm người mặc thường phục tự xưng là công an đến nhà anh Trương Văn Trường, 30 tuổi, trú tại thôn Trung Sơn, xã Bắc Sơn, huyện Thạch Hà để bắt anh vì hành vi gây rối trật tự công cộng.

Ngay khi nghe tiếng hô hoán của mẹ anh Trường người dân Bắc Sơn đã kéo tới bao vây và tấn công năm viên công an, trói tất cả bọn họ và giam giữ tại xã. Trong lúc phấn khích người dân đã kéo tới nhà của các cán bộ xã đốt phá xe máy và tài sản của nhiều người trong đó nặng nhất là nhà của ông Trần Bá Hoành, chủ tịch UBND Xã Bắc Sơn.

Anh Nguyễn Văn Hòa một người dân trong thôn Trung Sơn cho biết vụ việc này như sau:

Báo chí đăng thì đăng một đường không nói gì tới dân hết. Họ nói công an chiến sĩ nhập viện bị đánh nhưng tôi thấy thì không có. Hôm bữa tôi đi lấy thuốc thấy dân bị đánh đi cấp cứu nhiều. 
-Nguyễn Văn Hòa

"Hôm bữa xảy ra vụ đặc biệt là vụ bắt anh Trường vào buổi trưa, không biết những người đó có phải công an hay là người ở đâu tới cũng không biết. Đi bắt người nhưng không có lệnh cũng không có công an xã hay qua xóm gì hết. Không đọc lệnh và khi vào nhà anh Trường bắt thì bốn người bắt anh Trường còn một người nữa thì giữ em gái của anh Trường lấy con gấu bông nhét vào miệng không cho la. Mẹ anh Trường đi về thấy vậy hô hoán lên thì dân chung quanh kéo tới. Mấy người đó lấy súng bắn ba bốn phát gì đó, bắn chỉ thiên. Người dân có giữ một khẩu súng với giấy tờ liên quan.

Tới khi hơn 100 công an tỉnh Hà Tĩnh được điều tới để giải vây cho những viên công an bị bắt thì bùng lên một trận chiến khác lớn hơn giữa công an chống biểu tình và người dân. Kết quả có hàng chục người dân bị thương, phía công an có 11 người bị thương mà theo báo chí cho là phải nhập viện."

Anh Toàn một người dân xã Bắc Sơn cho biết việc công an bị nằm viện như sau:

"Mấy người công an thì một số còn nằm viện còn số khác thì đã về nhà nhưng người dân thì nằm viện 5, 6 người còn số người bị thương có lẽ vài chục người. Chuyện xuất phát từ công viên vĩnh hằng lấy đất của Bắc Sơn dân Bắc Sơn không đồng thuận được với trên nên rồi một số cấp trên ép xuống nên mới xảy ra việc như vậy. Họ đánh đập dân liên tục ảnh hưởng tới chính trị và quyền lợi của nhân dân."

Trong khi báo chí có những lời lẽ áp đặt cho người dân nổi loạn thì sự thực ra sao? Anh Nguyễn Văn Hòa xác nhận là có xô xát nhưng nói công an phải nhập viện 11 người thì không chính xác, anh Hòa cho biết:

dan-danh-cong-an-250.jpg
Hơn 100 công an tỉnh Hà Tĩnh được điều tới để giải vây cho những viên công an bị bắt tại xã Bắc Sơn hôm 10/4/2014. Courtesy ĐSPL.

"Thông tin nói là công an bị giam giữ đó nói chung là cũng có bị dân chửi bới này nọ thôi, cũng có giữ người còn nói đánh công an thì không có đánh nhập viện hay gì hết. Cũng có công an huyện, tỉnh lên nhưng mà dân nói là không cho vô vì vô cũng không giải quyết được gì. Nói chung thì dân bức xúc lâu lắm rồi. Cái này dân bức xúc nhiều lần lắm vì không giải quyết được gì mà toàn làm cho dân lộn xộn thêm.

Nói chung mấy công an chiến sĩ thì không có ai bị thương tích gì hết mà báo chí thì đăng là công an chiến sĩ bị thương nhập viện, mà dân thì bị công an đánh người già có trẻ có nhập viện 5, 6 người bà bầu nó cũng đánh luôn đang mang bầu nó cũng đánh. Nhưng báo chí đăng thì đăng một đường không nói gì tới dân hết. Họ nói công an chiến sĩ nhập viện bị đánh nhưng tôi thấy thì không có. Hôm bữa tôi đi lấy thuốc thấy dân bị đánh đi cấp cứu nhiều.

Thông tin này tôi thấy báo Dân Trí cho đến báo Tiền Phong hầu như không chính xác gì hết, sai lệch hết."

Dằn mặt người dân

Anh Trương Văn Trường bị công an cáo buộc là phá rối trật từ công cộng và đến bắt tại nhà là một cử chỉ dằn mặt người dân thôn Trung Sơn và xã Bắc Sơn vì nơi đây từ ngày 24/10 đến 20/11/ 2013 đã xảy ra 5 lần dân chúng chống lại người thi hành công vụ vì họ không đồng thuận với dự án xây dựng công viên vĩnh hằng, tức một nghĩa trang quy mô còn mang mỹ danh là nghĩa trang sinh thái chiếm diện tích đất gần 39 hecta với kinh phí 386 ti đồng.

Số đất mà công viên này trưng thu buộc người dân di dời, mất đất canh tác lên tới gần 20 héc ta và đây là lý do khiến họ nổi lên chống đối quyết liệt. Mặc dù được Ủy ban xã hứa hẹn là sẽ đền bồi thỏa đáng nhưng người dân không tin vào những hứa hẹn ấy và hơn nữa công viên nghĩa trang này sẽ ngăn cản xã Bắc Sơn không tiếp cận được với bên ngoài vì nghĩa trang nằm choán hết diện tích.

Người dân xuống đi chợ bị công an bắt không liên lạc gì được. Công an tự động bắt mà cũng không biết đưa đi đâu nữa. Một số cán bộ đã tránh đi hết coi như Bắc Sơn không có cán bộ nữa. 
-Nguyễn Văn Hòa

Trong đêm hôm ấy người dân đã nổi loạn thật sự khi ném đá vào nhà của cán bộ xã Bắc Sơn gồm những ông như Chủ tịch xã, Bí thư đảng ủy xã, Bí thư đoàn, cán bộ văn phòng và ngay cả trưởng công an xã cũng không tránh khỏi bị ném đá vào nhà và đốt xe gắn máy.

Cho tới hôm nay cán bộ của xã Bắc Sơn vẫn không dám về nhà, tất cả đều đưa vợ con đi lánh nạn vì sợ bị người dân trả thù. Việc này cho thấy sự uất ức của người dân đã vượt quá giới hạn khiến họ không còn sợ hãi. Trong khi đó người dân đi chợ hay tới những nơi khác bên ngoài xã Bắc Sơn đều có thể bị công an bắt giữ mà không ai hay biết. Anh Hòa cho biết:

"Người dân xuống đi chợ bị công an bắt không liên lạc gì được. Công an tự động bắt mà cũng không biết đưa đi đâu nữa. Một số cán bộ đã tránh đi hết coi như Bắc Sơn không có cán bộ nữa."

Dự án khu nghĩa trang sinh thái đã bị dân tẩy chay ngay từ đầu nhưng huyện Thạch Hà và tỉnh Hà Tĩnh một mực buộc xã Bắc Sơn phải thực hiện cho bằng được. Anh Hòa là cư dân tại đây kể lại:

"Nói chung vụ này lâu rồi. Huyện, tỉnh rồi xã ép dân nó lấy đất ở Vĩnh Hằng mà đất ấy là sản xuất nông nghiệp, lấy đất làm màu của dân dân không đồng tình, chuyện từ tháng 10 năm 2013. Từ trước tới giờ thì huyện hay tỉnh hoặc xã cứ về ép dân ký để đồng tình. Xã thì đi động viên từng nhà dân một, dân không chịu. Từ trước tới giờ đã có mấy vụ biểu tình nhưng xã và huyện không giải quyết ổn thỏa không nói cho dân biết mà ép từng nhà dân một."

Theo báo chí cho biết vào đầu năm nay ông Dương Công Tự, Bí thư đảng ủy xã Bắc Sơn đã báo cáo lên UBND huyện Thạch Hà 5 điều không thể thực hiện dự án mà cốt lõi là người dân Bắc Sơn không đồng tình. Trong báo cáo ông Dương Công Tự ghi rằng "Hiện nay quần chúng nhân dân đã mất lòng tin rất lớn đối với cấp Ủy, chính quyền vì tính chất của dự án không hợp với lòng dân. Cấp Ủy, chính quyền không thể tổ chức được công tác tuyên truyền về dự án công viên vĩnh hằng. Nếu tiếp tục tuyên truyền thì nhân dân sẽ bức xúc và phản kháng rất lớn làm tê liệt bộ máy chính quyền và dẫn đến không thể kiểm soát được sẽ đưa Bắc Sơn trở thành điểm nóng thì hậu quả sẽ rất lớn".

Thế nhưng đáp lại thì huyện Thạch Hà trả lời rằng: "xây dựng nghĩa trang vĩnh hằng Bắc Sơn đã nhận được sự hoan nghênh của Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh và được xem là nhiệm vụ cấp bách, khẩn trương với sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị huyện Thạch Hà".

Câu chuyện xã Bắc Sơn vẫn chưa đến hồi kết thúc khi tỉnh Hà Tĩnh vẫn chủ trương sử dụng bạo lực để đàn áp người dân bất kể sự đàn áp ấy nói lên điều gì phía sau nó.

PHẠM ĐÌNH TRỌNG : VÌ SAO CÔNG AN CẦN MỘT CHỮ KÝ ĐẾN VẬY

Nguồn boxitvn

14/04/2014

(TƯỜNG TRÌNH BUỔI LÀM VIỆC VỚI AN NINH)

PHẠM ĐÌNH TRỌNG

Làm việc với tôi lúc đầu là hai người: một công an cấp thành phố tên Tuấn ngoài năm mươi tuổi, nước da màu đồng ruộng, mặt nhọn chữ V, đã quá quen mặt với tôi suốt mấy năm nay và một người trẻ hơn ông Tuấn vài tuổi, mặc áo thun đen được ông Tuấn giới thiệu cũng là công an thành phố. Tôi hỏi tên, người đó nói tên Sang.

Tôi tin chắc ông Sang không phải là công an cấp thành phố mà là công an cấp bộ. Tôi đến trụ sở công an xã Phước Kiển vào phòng trung tá Lâm Ngọc Thích, trưởng công an xã, hỏi: Thưa anh, tôi được mời đến làm việc ở phòng nào. Ông Thích hỏi ngay: Bác là bác Trọng phải không? Ông Thích mời ngồi, pha ấm trà mới tiếp khách và bảo tôi bác ngồi đợi chút, các anh đó đang đến. Tôi hỏi thăm gia đình, ông Thích bảo quê ông bà nội ngoại của ông đều ở xã Phước Hải, cạnh xã Phước Kiển này. Ông vui vẻ, cởi mở khoe rằng anh thiếu úy Lê Phương Tinh, công an khu vực dân cư nơi tôi ở, người hai lần mang giấy mời của công an đến cho tôi chính là con rể của ông, lấy con gái đầu của ông.

Uống ngụm trà rồi tôi ra sân đợi thì ông Tuấn đến. Tôi và ông Tuấn đến phòng ông Thích đi ngang qua một người mặc áo thun đen đứng bên chiếc xe máy ngay cửa phòng ông Thích. Ngôn ngữ trao đổi và cử chỉ của ông Thích và ông Tuấn cho tôi hiểu rằng ông Thích giục làm việc đi, ông Tuấn bảo đợi thêm người, ông Thích liền chỉ người mặc áo thun đen. Lúc đó ông Tuấn mới biết rằng người mặc áo thun đen đứng trước phòng ông Thích chính là người sẽ cùng ông Tuấn làm việc với tôi. Người mặc áo thun đen chính là ông Sang. Sự không quen biết nhau giữa ông Tuấn và ông Sang cho tôi hiểu rằng ông Sang không cùng đơn vị công an thành phố với ông Tuấn thì ông Sang phải là công an cấp bộ.

Sau phần thủ tục đầu tiên ông Tuấn hỏi tôi về sức khỏe để ghi vào biên bản rằng tôi đủ sức khỏe và đủ minh mẫn để làm việc, tôi nói: Lần trước các anh gửi giấy mời nhưng tôi không đi vì những bài viết của tôi là của đời sống dân sự. Hiến pháp cho công dân được tự do ngôn luận đã cho tôi được viết bộc lộ suy nghĩ, tình cảm, chính kiến. Nếu tôi viết có gì sai, các anh cứ kiện tôi ra tòa án, tôi sẽ hầu kiện. Đó là đời sống dân sự. Nhưng công an vào cuộc về những bài viết của tôi thì đã hình sự hóa đời sống dân sự rồi. Tôi không chấp nhận đời sống dân sự bị hình sự hóa như vậy. Lần này lại nhận được giấy mời của các anh, tôi đã định không đi. Nhưng thấy những bài viết bộc lộ suy nghĩ, tình cảm của tôi chỉ là việc nhỏ nhặt trong đời sống dân sự mà cứ để các anh nay mời, mai mời làm cho sự việc nhỏ trở thành lớn, trở thành căng thẳng và các anh phải đi lại nhiều lần vất vả nên tôi đến đây gặp các anh. Tôi coi đây chỉ là cuộc gặp dân sự nói chuyện để hiểu biết nhau nên tôi không ký bất kì một biên bản nào để hình sự hóa cuộc gặp này.

Ông Tuấn gọi tôi là chú. Ông Sang gọi tôi là bác. Hai người thay nhau hỏi. Bác có trang cá nhân facebook không? Bác có trang này lâu chưa? Mục đích chú lập trang facebook để làm gì? Tôi nói rằng ở thời công nghệ thông tin này, trang facebook đã trở thành rất phổ biến từ bà nội trợ đến cô học trò cấp hai, từ anh nông dân đến ông cán bộ nhà nước đều có trang facebook công khai những sự việc, những vui buồn trong ngày của mình để được cộng đồng facebook trên khắp thế giới chia sẻ, tạo ra một thế giới phẳng rộng lớn. Tôi mới có trang facebook từ năm 2013. Cũng như mọi người, tôi ghi lại những vui buồn, nghĩ suy, trăn trở trên facebook. Khác mọi người, tôi là nhà văn. Tôi không chỉ buồn vui, nghĩ suy về cá nhân tôi mà tôi buồn vui, nghĩ suy, trăn trở về đất nước, về nhân dân, về thời cuộc.

Ông Tuấn đưa cho tôi xem hai tờ giấy A4 in một list tên những bài viết của tôi từ trang web Đàn Chim Việt và hỏi đây có phải những bài viết của chú không? Chú thường gửi bài cho những mạng nào? Trả lời: Tôi thường gửi bài cho trang Boxitvn và trang Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự. Đàn Chim Việt vẫn đăng bài của chú mà? Không phải chỉ có Đàn Chim Việt, các trang web khác đều tải bài của tôi từ trang Boxitvn và trang Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự.

Có lẽ ông Sang không phải là người chuyên trách theo dõi tôi nên hỏi nhiều câu thuộc về sơ yếu lí lịch mà người chuyên trách về tôi phải rành rẽ từ đầu như: Bác có tham gia công tác cách mạng gì không? Bác có tham gia tổ chức xã hội nào không. Tôi nói tôi là người lính nhập ngũ từ năm 1963 mà cuộc chiến tranh chống Mỹ đến năm 1965 mới thực sự nổ ra. Tôi đã tham gia trọn vẹn ba cuộc chiến tranh. Chiến tranh chống Mỹ. Chiến tranh chống Pôn Pốt. Chiến tranh chống Tàu ở biên giới phía Bắc. Cuộc chiến tranh chống Mỹ, tôi là người lính ở mặt trận Tây Nguyên. Sau năm 1975, tôi được điều về Tổng cục Chính trị, là nhà văn ở tạp chí Văn Nghệ Quân Đội rồi làm biên kịch ở Xưởng phim Quân đội. Hai cuộc chiến tranh sau, tôi là nhà văn, nhà báo quân đội. Tôi là hội viên các hội: hội Nhà Văn Việt Nam, hội Nhà Báo Việt Nam, hội Điện ảnh Việt Nam.

Ông Sang có hỏi tôi về Văn Đoàn Độc Lập nhưng chỉ hỏi thoáng qua. Sau này khi nhân vật công an thứ ba xuất hiện mới hỏi nhiều về Văn Đoàn Độc Lập và nhân vật này cũng biết rất rõ về tôi và gia đình tôi mà tôi tin chắc đó chính là người chuyên trách về tôi. Hỏi qua về Văn Đoàn rồi ông Sang lại quay về cá nhân tôi: Bác là hội viên hội Nhà Văn từ khi nào? Tôi không nhớ rõ năm nào nhưng lâu rồi. Tôi trả lời và nhìn Sang, nói: Tôi biết anh không phải là công an thành phố mà là công an bộ. Sang cười. Nụ cười thú nhận. Sau cuộc gặp, nhìn lại ba công an vừa làm việc với tôi, tôi thấy ở ông Sang phần người còn nhiều hơn cả trong ba công an, phần công cụ chưa lấn át phần người. Hai người còn lại thì phần người đã bị khuất lấp sau phần công cụ.

Ông Tuấn đưa ra một tập những bài viết của tôi được in từ trên mạng và bảo tôi ký xác nhận: Lần trước chú đã ký 19 bài rồi. Hôm nay chú ký tiếp những bài này. Tôi bảo lần này tôi không ký vì ba lẽ. Một là không cần thiết. Bài viết đã ghi rõ tên tôi là đủ để xác nhận rồi. Hai là lần trước tôi ký đã tạo ra tiền lệ để lần này tôi lại được mời đến gặp các anh để ký. Mấy tháng sau tôi có những bài viết mới lại bị gọi lên ký lần thứ ba. Rồi lần thứ tư. Lần thứ n. Là nhà văn, tôi không thể thờ ơ với cuộc sống, với số phận nhân dân, số phận đất nước nên cứ phải viết cho đến lúc từ giã cuộc đời. Rồi đến lúc sắp chết sẽ lại bị các anh nhét bút vào tay bắt ký. Ba là công dân có quyền tự do ngôn luận vì thế bài viết của tôi hoàn toàn hợp pháp trong đời sống dân sự. Tôi phải ký xác nhận bài viết với công an là tôi đã tự hình sự hóa bài viết của tôi. Tôi không thể làm điều đó.

Ông Sang bảo: Bài của bác sao bác không dám ký. Bác sợ à? Tôi mỉm cười: Nếu sợ tôi đã không dám viết. Có viết cũng không dám ký tên thật mà phải dùng một cái tên ảo Nguyễn Văn Sang, Nguyễn Văn Hèn nào đó. Tất cả các bài viết của tôi trên mạng suốt bao năm nay tôi đều ghi tên đầy đủ, rõ ràng. Không có bài nào tôi phải giấu tên. Điều đó xác nhận rằng tôi chẳng có gì phải sợ hãi. Làm đúng với lương tâm, trách nhiệm và luật pháp thì có gì phải sợ hãi, anh Sang nhỉ.

Ông Tuấn cắm cúi viết chắc là ghi biên bản. Chỉ còn đối đáp của ông Sang và tôi. Việc trùng tên rất thường gặp. Cũng có khi người khác ghi tên bác ở bài của họ thì sao. Vì thế bài nào của bác, bác phải ký xác nhận để phân biệt với những bài khác. Tên của tôi và bài viết của tôi là một chỉnh thể thống nhất. Văn phong, giọng điệu, ngôn ngữ, tình cảm, thái độ và cả kiến thức, trí tuệ trong bài viết của tôi cũng đã làm nên cái tên Phạm Đình Trọng và cái tên đó luôn là một chỉnh thể thống nhất với bài viết. Bài viết cũng như vân tay của một người. Từ vân tay công an xác định được người có vân tay đó thì từ bài viết, công an cũng dễ dàng xác định được người viết bài đó.

Lặp đi lặp lại đòi hỏi bác phải ký xác nhận bài viết là của bác thì cũng lặp đi lặp lại lý do không ký: Không phải chỉ riêng tôi phải ký mà hàng trăm, hàng ngàn người khác cũng đã và sẽ bị các anh yêu cầu ký vào bài viết. Số giấy mực in lại bài viết của một người thì không đáng bao nhiêu nhưng bài viết của hàng trăm, hàng ngàn người thì tiền giấy mực không phải là nhỏ. Dân mình còn nghèo lắm. Tiền giấy các anh in bài là tiền thuế của những người dân nghèo chạy ăn từng bữa đấy. Chúng tôi cứ ký hết lần này đến lần khác là các anh cứ vô tư tiêu phí những đồng tiền thuế của dân nghèo vào những việc không đáng tiêu. Tôi không thể hình sự hóa bài viết của tôi. Tôi không thể suốt đời cứ bị gọi lên gặp các anh để ký xác nhận bài viết.

Nếu bác không ký thì không có gì xác nhận có buổi làm việc hôm nay. Ông Sang nhắc đi nhắc lại câu đó rồi hứa: Bác cứ ký đi. Đây là lần ký cuối cùng. Sẽ không có lần thứ ba nữa. Tôi bảo: Lòng tin của người dân vào công an bây giờ xuống rất thấp. Chả có gì bảo đảm rằng tôi không còn bị các anh mời lên ký xác nhận bài viết nữa. Chúng tôi sẽ ghi vào biên bản làm việc điều đó. Biên bản các anh đưa vào hồ sơ rồi cất trong tủ sắt. Tôi đâu có bằng chứng về lời hứa của các anh. Tôi đề nghị các anh ghi điều đó ra giấy để tôi giữ lời hứa của các anh bằng giấy trắng mực đen. Ông Sang im lặng rồi đi ra ngoài. Trong quá trình làm việc, ông Sang mấy lần ra khỏi phòng gọi điện thoại. Lần này ông Sang ra ngoài khá lâu. Trở vào phòng, ông Sang ngồi lặng lẽ, dáng chờ đợi.

Gần nửa tiếng im lặng chờ đợi, người thứ ba mới xuất hiện. Lời giới thiệu của ông Sang về nhân vật mới chỉ vẻn vẹn có cái tên, anh Toàn. Mặt trắng, sáng sủa. Chân râu xanh rì quanh miệng. Đầu hói khoảng ba mươi phần trăm. Dáng nho nhã của con người bureau. Nhìn ông Tuấn thấy sự hăng hái, xông xáo, thấy cả sự tất bật, băm bổ của con người hành động thì nhìn ông Toàn nhận ra sự lạnh lùng, kín đáo của con người toan tính, nhận ra cả sự tự tin của kẻ rất có ý thức về sức mạnh đang có trong tay. Cái tự tin "công an là pháp luật, pháp luật là công an" của mọi công an nhà nước cộng sản Việt Nam.

Lời đầu tiên ông Toàn nói ngay những hiểu biết của ông về tôi, tuy những hiểu biết đó chỉ là bề ngoài, không đúng thực chất và không ăn nhập với đề tài buổi làm việc: Bác còn quá khỏe, còn đi khắp nơi. Bác có hai nhà cho thuê. Lương hưu lại cao… Ông Toàn còn kể ra cả căn hộ tôi đang ở là căn hộ penthouse, căn hộ thông tầng. Tôi nói: Những điều anh Toàn nói tuy có cái không đúng như tôi làm gì có hai nhà cho thuê nhưng tôi không cần diễn giải vì đây là lĩnh vực riêng tư của đời sống cá nhân được pháp luật bảo đảm bí mật, không bàn ở đây.

Ông Toàn hỏi tôi về Văn Đoàn Độc Lập. Văn Đoàn đã có hoạt động gì? Các tổ chức quốc tế có công nhận Văn Đoàn, có ủng hộ sự ra đời của Văn Đoàn không? Trang web của Văn Đoàn do ai làm? Bác đã viết bài cho trang web này chưa? Tham gia Văn Đoàn như thế nào? Tôi bảo: Anh Toàn cũng biết thời nước ta còn bị Pháp đô hộ, còn chưa có độc lập thế mà Tự Lực Văn Đoàn còn được ra đời và hoạt động suốt mười năm, từ năm 1932, để lại một nét son, một dấu ấn sâu đậm mãi mãi trong lịch sử văn học nước nhà. Bây giờ nước ta đã có độc lập, có Hiến pháp bảo đảm quyền lập hội cho công dân thì các nhà văn thành lập Văn Đoàn Độc Lập cũng là bình thường. Một xã hội dân sự phải có các tổ chức xã hội thực sự của người dân, do người dân thành lập và duy trì hoạt động. Ông Toàn cắt lời tôi rằng trên thế giới không nước nào có xã hội dân sự cả. Tôi rất ngạc nhiên về nhận thức xã hội dân sự của ông Toàn. Tôi nói chỉ có mấy nước cộng sản là không có xã hội dân sự thôi. Phần lớn các nước trên thế giới đều là xã hội dân sự. Văn Đoàn Độc Lập chưa chính thức ra đời. Mới có 61 người tập hợp nhau lại thành ban vận động rồi mới tiến tới thành lập Văn Đoàn. Tôi chỉ là một trong 61 người đó. Anh Toàn theo dõi các trang mạng thì cũng biết các hãng thông tấn nổi tiếng thế giới như BBC, RFA đều đã có bài phỏng vấn, đưa tin về Văn Đoàn. Đó là sự ủng hộ, chào đón của họ với Văn Đoàn. Chỉ là thành viên, không có chức trách gì ở Văn Đoàn nên tôi không biết ai làm trang web của Văn Đoàn và tôi cũng chưa có bài đăng ở đó. Những người gia nhập Văn Đoàn đều là tự nguyện ghi tên xin tham gia qua email.

Ông Sang hỏi email của tôi nhưng tôi bảo email thuộc bí mật thư tín cá nhân nên tôi không thể tùy tiện cung cấp cho mọi người.

Ông Toàn giơ lên tờ giấy A4 in lại từ Facebook của tôi bài "Hoa của Bauxite Việt Nam, Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự, Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ viếng thầy Đinh Đăng Định" và hỏi: Bác có quan hệ với Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ chứ? Những ngày lễ của họ, họ vẫn mời những người như bác đến dự lễ mà. Tôi bảo: Thầy Đinh Đăng Định chỉ vì phản đối dự án khai thác bô xít Tây Nguyên mà bị tù. Thày bị bệnh hiểm nghèo, gia đình xin cho thầy ra tù để chữa bệnh nhưng công an không cho. Đến lúc bệnh của thầy không còn chạy chữa được nữa, cái chết đã cận kề, công an mới trả thầy về gia đình để rũ bỏ trách nhiệm tang lễ cho thầy. Thầy chết, những công an đã gần gũi thầy suốt nhiều năm không ai đến viếng thầy nhưng Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ xa lạ chưa hề gặp thầy đã gửi hoa viếng thầy. Hoa của Bauxite Việt Nam, hoa của Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự mang tấm lòng của cả nước đến với thầy. Hoa của Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ mang tấm lòng của loài người dành cho một con người. Ba giá hoa đẹp đó gây cho tôi sự xúc động mạnh mẽ nên tôi đã chụp ảnh đưa lên facebook của tôi.

Lại trở về với những bài viết của tôi, ông Sang: Dạo này bác viết nhiều không? Bác có nhớ viết bao nhiêu bài không? Trong đầu thoáng xuất hiện một câu hài hước, tôi nhìn ông Toàn và có lẽ trên gương mặt tôi có nụ cười thấp thoáng khi tôi nói: Tôi viết bài nào thì các anh đều biết cả. Có các anh nhớ hộ, thống kê hộ nên tôi cũng chẳng cần nhớ tôi đã viết bao nhiêu bài. Ông Toàn nói: Lần trước bác ký là năm 2012. Hơn một năm bác mới lại ký nhận bài viết của bác, đâu có nhiều. Bỗng ông Toàn căng giọng: Bác không ký thì còn làm việc dài. Hôm nay không xong thì ngày mai, ngày mốt. Tôi bình thản: Tôi sẵn sàng ngồi với các anh. Nhưng các anh không có quyền làm điều đó. Công chức nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép. Ông Toàn: Bác sợ mới không dám ký nhận bài viết của mình. Tôi biết ông Toàn sử dụng ngón nghề điều tra, đánh vào tâm lý tự ái cá nhân nhưng tôi vẫn thấy như bị xúc phạm liền nói to: Anh nói thế là xúc phạm tôi. Tôi chẳng có gì sai để phải sợ các anh. Ông Toàn vẫn không thôi ngón đòn tâm lý: Tôi biết trong lòng bác đang sợ. Kiên trì lý lẽ của mình, tôi nói ngắn gọn: Tôi không ký để tự hình sự hóa bài viết của mình. Tôi không ký để cứ phải ký suốt đời. Ông Toàn liền lớn tiếng như quát: Bác còn viết thì còn phải ký!

Bác còn viết thì còn phải ký!

Sự tự tin của ông Toàn đó! Công an là pháp luật, pháp luật là công an đó!

Không có điều luật nào cho phép công an được mời công dân đến trụ sở công an vì những bài viết hợp pháp. Không có điều luật nào buộc công dân phải ký xác nhận bài viết hợp pháp với công an. Nhưng ông Toàn vẫn nói chắc nịch như công bố một điều luật của công an: Bác còn viết thì còn phải ký! Tôi lại nhớ đến câu nói của ông Sang mới ít phút trước: Đây là lần ký cuối cùng, không có lần ký thứ ba. Con người công dân của ông Sang đó! Bác còn viết thì còn phải ký! Con người công cụ của ông Toàn đó!

Ký – Không ký. Đã nói hết lý lẽ với nhau vẫn không chấp nhận đề xuất của nhau. Chẳng còn gì để nói, tất cả đều ngồi im lặng. Chợt ông Toàn đưa ra lối thoát: Bác không ký vào từng bài thì ký vào tờ giấy ghi rằng từ ngày 10 tháng tư năm 2014 trở về trước, những bài đứng tên Phạm Đình Trọng là của bác. Chúng tôi viết rồi đưa bác ký hoặc bác tự viết tờ giấy đó cũng được. Suy nghĩ giây lát, tôi chấp nhận giải pháp này. Tôi xin tờ giấy A4 và tự viết. Ông Sang nhắc tôi ghi tiêu đề Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhưng tôi không chấp nhận. Với tôi, đây không phải là văn bản pháp luật. Tôi viết ngắn gọn: XÁC NHẬN / Những bài viết trên mạng internet ký tên Phạm Đình Trọng từ ngày 10.4.2014 trở về trước là của tôi, Phạm Đình Trọng / Phước Kiển ngày 10.4.2014 / Ký tên.

Tôi đưa tờ giấy vừa viết cho ông Toàn. Ông Toàn đề nghị tôi thay chữ "ký tên" trong câu "Những bài viết trên mạng internet ký tên…" bằng chữ "đứng tên". Lại phải lấy tờ giấy khác viết lại.

Ông Sang ra ngoài mời cô nhân viên hành chính Ủy ban Nhân dân xã Phước Kiển và ông hàng xóm cạnh trụ sở công an xã Phước Kiển vào làm chứng việc tôi viết giấy xác nhận. Lại mời cô công an xã Phước Kiển vào viết văn bản để hai người làm chứng ký.

Trong khi chờ ông Sang đi mời mấy người vào viết giấy làm chứng, tôi hỏi ông Tuấn: Anh Tuấn có biết hình ảnh của anh được đưa lên tất cả các trang mạng tiếng Việt khắp thế giới không? Ông Tuấn im lặng. Mặt ông Tuấn vốn đã tối như càng tối hơn. Ông Toàn nói: Sự nổi tiếng ấy cũng là do các bác. Tôi bảo: Tôi có đến viếng đám tang anh Lê Hiếu Đằng nhưng lúc anh Tuấn cướp băng tang, tôi không ở đó. Không biết ai chụp được bức ảnh giây phút anh Tuấn làm việc đó và đưa lên mạng. Là người phải có cái đức. Cái đức để sống ở đời và cái đức để lại cho con cháu, anh Tuấn nhỉ.

Giấy xác nhận rồi giấy làm chứng xác nhận đã xong. Đến biên bản làm việc cũng mất khá nhiều thời gian vì Ký – Không ký. Cuối cùng tôi chấp nhận xóa chữ "Đương sự" viết thay vào chữ "Người làm việc" ở cuối biên bản và ghi: Như lúc đầu tôi đã nói đây chỉ là buổi gặp gỡ trao đổi để hiểu nhau nên tôi không ký vào bất kỳ biên bản nào. Tôi không đọc biên bản này.

LỜI CUỐI

Đến nay tôi vẫn chưa lý giải được vì sao công an cần một chữ ký của tôi đến vậy. Vì thế tôi vẫn chưa xác định được buổi làm việc của tôi với công an hôm 10.4.2014 là thất bại hay là một kết quả chấp nhận được. Chỉ nhận ra rất rõ cảm giác mệt mỏi. Mệt mỏi về thể xác song ý chí của tôi không những không hề lay chuyển mà còn giúp tôi từng trải hơn, vững vàng hơn.

Những cuộc làm việc như vậy thực sự là cuộc công an khủng bố tinh thần, nhục hình tinh thần đối với công dân, chà đạp lên quyền con người, quyền công dân của người dân. Những cuộc làm việc như vậy cũng không khác bao nhiêu với việc 5 công an ở Phú Yên dùng gậy cao su đánh chết công dân Ngô Thanh Kiều.

Nhân danh pháp luật, công an Phú Yên bắt anh Kiều trái pháp luật rồi cứ cái đà lạm quyền, lộng hành, mất tính người, 5 công an Phú Yên thay nhau đánh anh Kiều nát nhừ thân thể đến chết. Nhân danh pháp luật, công an viết giấy mời trái pháp luật, hình sự hóa đời sống dân sự. Những cuộc làm việc theo giấy mời của công an với công dân là những trận nhục hình đối với công dân nhằm giết chết con người công dân, con người xã hội, giết chết con người trách nhiệm với đất nước, với dân tộc, với đồng loại, để người dân chỉ còn được sống bằng con người sinh vật ích kỷ, chỉ biết có miếng ăn và chỉ mong được yên thân, để người dân chỉ còn được sống bằng con người thần dân, phục tùng, cam chịu như một bầy cừu.

Sự lộng hành của công an bằng gậy cao su để lại bằng chứng là cái chết của anh Ngô Thanh Kiều ở Phú Yên, cái chết của ông Trịnh Xuân Tùng ở Hà Nội, cái chết của anh Nguyễn Văn Khương ở Bắc Giang, cái chết của em học sinh Tu Ngọc Thạch ở Khánh Hòa và cái chết trong đồn công an của hàng trăm người dân lương thiện khác. Những cái chết đó khắc ghi trong lòng người dân Việt Nam tội ác của công cụ bạo lực chuyên chính vô sản.

Sự lộng hành của công an bằng việc mời trái pháp luật công dân đến làm việc để dùng quyền uy của công cụ bạo lực nhà nước đánh đòn cân não vào tinh thần, ý chí con người tuy không để lại dấu vết trên thân thể nhưng hiểm độc và nguy hại hơn nhiều lần sự lộng hành của cơ bắp. Còn gì hiểm độc và nguy hại bằng giết chết con người công dân của một dân tộc. Sự lộng hành đó cần được ghi nhận lại trung thực bằng chữ nghĩa khắc vào thời gian, khắc vào lịch sử về một loại tội ác của công cụ bạo lực chuyên chính vô sản chỉ có ở nhà nước cộng sản.

Viết xong đêm 11. 4. 2014.

Đọc lại và chỉnh sửa đêm 14. 4. 2014

P.Đ.T.

Tác giả gửi cho BVN