Thứ Sáu, ngày 02 tháng 12 năm 2016

Tô Văn Trường: Trao đổi về bài viết của Nguyễn Trung

Trao đổi về bài viết của Nguyễn Trung
http://boxitvn.blogspot.com/2016/12/trao-oi-ve-bai-viet-cua-nguyen-trung.html

 -- via my feedly newsfeed

Trung Quốc và Việt Nam xây dựng cuộc hôn nhân của mình trên nền tảng ý thức hệ mơ hồ và ảo tưởng hiện nay chủ yếu là để cai trị và củng cố quyền lực của giới thống trị. Ở thế kỷ 21, với trình độ dân trí và phát triển hội nhập thì điều này trở nên " Xưa rồi Diễm ơi !". Về bản chất Trung Quốc và Việt Nam hiện tại đã vứt bỏ toàn bộ những cái tốt đẹp, mơ mộng và ảo tưởng của Chủ nghĩa xã hội để lộ rõ nguyên hình mô hình phát triển "tư bản đỏ", bất chấp tất cả, vì lợi nhuận và quyền lực thống trị.

Điều cuối cùng mà anh Nguyễn Trung nói tới (dù không rõ ràng lắm) nhưng  chắc chắn VN phải đổi mới, phải thực hiện dân chủ, bảo đảm nhân quyền, tức là phải hòa đồng với tuyệt đại đa số các nước trên thế giới. Bất kỳ ai nghĩ bám vào Trung Quốc để bảo vệ "chủ nghĩa xã hội" (giữ "ghế" của mình) và hy vọng có hòa bình là ảo tưởng.

"Dựa vào Trung Quốc để giữ CNXH" là sự lầm lạc trung thực của người đề ra nó [Nguyễn Văn Linh và Hội nghị Thành Đô 1991 - BVN]. Nay, ai nói vậy là trung thành dối trá. Vì tất cả đều phản biện chứng của Mác và đều tác hại như nhau.

Nước Nga có "Chủ nghĩa Đại Nga", đọc bài phê phán "Chủ nghĩa Đại Nga" của Staline thấy rõ hơn.  Nước Tàu có Chủ nghĩa Đại Hán thâm căn hơn Nga. Nước Mỹ có đầu óc và hành xử Sen-đầm quốc tế. Đại Việt ta có Chủ nghĩa dân tộc yêu nước thâm căn cố đế ngàn đời, nhờ vậy mà còn TA là TA. Từ khi có chủ nghĩa quốc tế vô sản chi phối, đôi khi chủ nghĩa yêu nước của ta bị nhạt nhòa ở mức độ đáng ngại như Cải cách ruộng đất, đấu tố, cải tạo kinh tế XHCN, cải tạo thành phần chính trị xã hội, (Trong đó có Tư sản, Văn nghệ sĩ ở Miền Bắc, Sĩ quan chế độ cũ ở Miền Nam, đập phá kinh tế người Hoa ở Miền Nam, v.v...).

Thoát khỏi ảnh hưởng độc hại của Trung Hoa, tẩy rửa những độc hại của cái từng được xem là "xã hội chủ nghĩa" ở Việt Nam, tuy có liên quan chặt chẽ với nhau nhưng là hai yêu cầu độc lập, có tính khách quan.  Nó có quan hệ nhất định với thế giới, với chính trường Mỹ, nhưng dứt khoát không phải là vấn đề lệ thuộc vào việc ai làm Tổng thống Mỹ.

Việt Nam đủ sức làm được cả hai yêu cầu trên, nếu thực sự muốn làm và dám làm, nếu nhận thức được rằng, làm chậm thì thiệt nhiều, không làm thì đi vào tiêu vong. Từ đó, sẽ tìm ra cách làm hiệu quả, mà chắc chắn không phải là cách làm hiện nay. Chậm quá, yếu ớt quá và nhiều sai sót quá.

Xin xem toàn bài của tác giả ở dưới

Bauxite Việt Nam

Ngày hôm qua (30/11), sau khi đến viếng GSTS Nguyễn Quang Hà, tôi phải về Nam, rất tiếc không có điều kiện để tham dự cuộc trà đàm bàn về "sự kiện Trump và chúng ta", trên cơ sở bài báo của Anh Nguyễn Trung (xem tại đây) do Anh Nguyễn Khắc Mai tổ chức ở Viện SENA.

Hôm trước, tôi đã chuyển tiếp bài báo của Anh Nguyễn Trung và Anh Vũ Quang Việt được rất nhiều người quan tâm, chia sẻ và đồng cảm. Chắc chắn Donald Trump sẽ có nhiều quyết định để đáp ứng đòi hỏi của nước Mỹ. Anh Nguyễn Trung phân tích khá chính xác.

Nhưng thay đổi được đến đâu còn phải chờ bộ máy lãnh đạo mới cùng với Trump. Nếu Trump quyết chọn Mitt Romney làm Bộ trưởng Ngoại giao sẽ cho thấy ông là người có bản lĩnh và dám làm, dám chấp nhận. Tuy nhiên, quyền lực của Tổng Thống không phải là quá lớn trong thể chế dân chủ kiểu Mỹ.

Đất nước ta đang trong giai đoạn cực kỳ khó khăn vì "nợ công, nợ xấu đại vấn đề" phải vay nợ để mà ăn, con đường phát triển tù mù, lòng dân bất an. Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội rất lớn cho Việt Nam phát triển nhưng phải thực sự độc lập với Trung Quốc.

Việt Nam-Trung Hoa núi liền núi, sông liền sông điều này có lẽ là thiên định. Việt Nam không thể "chuyển nhà" và cũng không thể bắt Trung Quốc dời chuyển đi chỗ khác! Đây là cuộc hôn nhân tự nhiên về mặt địa lý, là cuộc hôn nhân định mệnh trớ trêu của tạo hóa.

Trong suốt quá trình phát triển lịch sử mấy ngàn năm, cũng như Nhật Bản và Hàn Quốc, Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn hóa và tư tưởng Trung Quốc nhưng chưa bao giờ dân tộc Việt  bị đồng hóa và luôn giữ gìn truyền thống dân tộc và luôn tìm cách phát triển riêng và độc lập của mình.

Chủ nghĩa cộng sản và Chủ nghĩa xã hội ra đời và tìm được đất để phát triển tại những nước lạc hậu, dân trí thấp như Nga, Trung Quốc, Cuba, Triều tiên và Việt Nam. 

Nói Việt Nam bị ảnh hưởng [Trung Quốc] là quá nhẹ, phải nói là Việt Nam là nô lệ có lẽ chính xác hơn. Có thật Việt Nam chưa bị đồng hóa không? Theo các nhà Việt Nam học, thì hình như là không. Việt Nam luôn tìm cách phát triển riêng, và độc lập thì có lẽ đúng. Nhưng tiếc thay, những cố gắng của Việt Nam thì chưa thành công. Trong lịch sử, những lần Việt Nam chiến thắng Trung Quốc thì chỉ là chiến thắng trong các cuộc chiến, nhưng sau đó thì lại trở thành nô lệ về chính trị, và văn hóa.

Trung Quốc và Việt Nam xây dựng cuộc hôn nhân của mình trên nền tảng ý thức hệ mơ hồ và ảo tưởng hiện nay chủ yếu là để cai trị và củng cố quyền lực của giới thống trị. Ở thế kỷ 21, với trình độ dân trí và phát triển hội nhập thì điều này trở nên " Xưa rồi Diễm ơi !". Về bản chất Trung Quốc và Việt Nam hiện tại đã vứt bỏ toàn bộ những cái tốt đẹp, mơ mộng và ảo tưởng của Chủ nghĩa xã hội để lộ rõ nguyên hình mô hình phát triển "tư bản đỏ", bất chấp tất cả, vì lợi nhuận và quyền lực thống trị.

Câu hỏi được đặt ra Việt Nam có độc lập với Trung Quốc được hay không? Việt Nam có định ra được con đường của mình và tận dụng được lợi thế, thời cơ hay không phụ thuộc rất lớn vào sự "tỉnh ngộ" của tầng lớp lãnh đạo cấp cao đang quản lý điều hành đất nước.

Anh Nguyễn Trung đã nắm bắt được vấn đề về lý do tại sao người Mỹ bầu Trump và những hệ lụy cho thế giới. Tuy nhiên, nhiều người không nghĩ sự đoàn kết của các nước thứ 3 hay "quyền lực của các nước thứ 3" là giải pháp. Rõ ràng trong khối ASEAN không có đoàn kết và không hy vọng gì có đoàn kết. Lào, Campuchia và ngay cả Philipines, Malaysia… ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc.

Tuy nhiên, có thể thấy Nhật Bản và Ấn Độ có chính sách muốn liên minh với nước khác để đối đầu với Trung Quốc. Và VN phải thấy rõ là mình cần thật sự độc lập và có thể liên minh với các nước có thể tin cậy được: đó là Nhật Bản và Ấn Độ. Và dù Trump có làm gì thì Trump lúc này vẫn cần VN. Liên minh với Mỹ vẫn là cái VN cần tiếp tục, để đối trọng với Trung Quốc.

Về dài lâu, sự phát triển hơn nữa của khoa học kỹ thuật chỉ có thể là từ Mỹ là nước có tự do dân chủ, chứ không thể từ Trung Quốc mặc dù Trung Quốc đã đứng hàng thứ hai thế giới sau Mỹ, đã bắt đầu chạm trán tới mức trần có thể và đã bắt đầu đi vào đà đi xuống về kinh tế, và đặc biệt là vấn nạn ô nhiễm môi trường trầm trọng.

Tất nhiên, Việt Nam phải độc lập để không bị (Mỹ) bán rẻ, hoặc bị Trung Quốc mua chuộc (cũng chỉ là nhất thời).

Điều cuối cùng mà anh Nguyễn Trung nói tới (dù không rõ ràng lắm) nhưng  chắc chắn VN phải đổi mới, phải thực hiện dân chủ, bảo đảm nhân quyền, tức là phải hòa đồng với tuyệt đại đa số các nước trên thế giới. Bất kỳ ai nghĩ bám vào Trung Quốc để bảo vệ "chủ nghĩa xã hội" (giữ "ghế" của mình) và hy vọng có hòa bình là ảo tưởng.

"Dựa vào Trung Quốc để giữ CNXH" là sự lầm lạc trung thực của người đề ra nó. Nay, ai nói vậy là trung thành dối trá. Vì tất cả đều phản biện chứng của Mác và đều tác hại như nhau.

Nước Nga có "Chủ nghĩa Đại Nga", đọc bài phê phán "Chủ nghĩa Đại Nga" của Staline thấy rõ hơn.  Nước Tàu có Chủ nghĩa Đại Hán thâm căn hơn Nga. Nước Mỹ có đầu óc và hành xử Sen-đầm quốc tế. Đại Việt ta có Chủ nghĩa dân tộc yêu nước thâm căn cố đế ngàn đời, nhờ vậy mà còn TA là TA. Từ khi có chủ nghĩa quốc tế vô sản chi phối, đôi khi chủ nghĩa yêu nước của ta bị nhạt nhòa ở mức độ đáng ngại như Cải cách ruộng đất, đấu tố, cải tạo kinh tế XHCN, cải tạo thành phần chính trị xã hội, (Trong đó có Tư sản, Văn nghệ sĩ ở Miền Bắc, Sĩ quan chế độ cũ ở Miền Nam, đập phá kinh tế người Hoa ở Miền Nam, v.v...).

Muốn đất nước ổn định và phát triển phải đổi mới song hành cả về chính trị và kinh tế hay nói cách khác liên quan đến THỂ CHẾ VÀ CON NGƯỜI.

Tôi tán thành quan điểm của Chị Phạm Chi Lan về góc độ kinh tế trong bài viết :"Nước Mỹ từ Trump, TPP và kinh tế Việt Nam" đăng trên Vietnam Forbes tháng 12/2016 (xem tại đây), nhất là đoạn kết luận: "Cuối cùng, về số phận của TPP. Nhiều nước trong và ngoài TPP đang toan tính về TPP với những động cơ khác nhau. Việc Nhật thông qua TPP cho thấy Nhật sẵn sàng cùng các nước bàn bạc, điều chỉnh một số qui định cần thiết để cùng nhau thực hiện một TPP không (hoặc chưa) có Mỹ. Xét lợi ích khi tất cả các nước nếu tham gia có thể có được, điều đó cũng không có gì đáng ngạc nhiên, mà đáng hoan nghênh chứ!"

Nói tóm lại:

Nhìn vào danh sách những người được mời tham gia buổi tọa đàm đều là các trí thức có tên tuổi, luôn quan tâm đến vận nước. Con đường duy nhất của Việt Nam  lúc này là phải dũng cảm nhìn lại mình và vượt lên chính mình để cải tổ thể chế, đoàn kết và hòa giải dân tộc và dân chủ hóa để đưa đất nước hòa nhập với cộng đồng văn minh của thế giới.

Khái niệm "Đoàn kết", nó không tồn tại trong khoa học nói chung, nó cũng không tự đứng một mình mà phải có "dung môi". Dung môi đó là Chủ nghĩa yêu nước (vĩ mô) và Tình yêu gia đình (vi mô). Còn lại tất cả đều là Chính trị.  Mọi sai lầm và bất cập của ta luôn luôn thời sự là xuất phát điểm Tại đây!

Nhà Tiền Lê (Dương Thái hậu chủ động trao áo hoàng bào cho Lê Hoàn), nhà Lý, nhà Trần, Lê Thái Tổ kháng chiến và Lê Thánh Tông trị vì là những triều đại phát huy tối đa chủ nghĩa yêu nước nên ĐOÀN KẾT QUỐC GIA. Đó là vốn quí mà rất nhiều dân tộc khác dù có thừa văn minh cũng không có được như ta. Sao ta không giữ gìn, phát huy mà chạy đi "Bỏ hình bắt bóng?".

Suy ngẫm, cách tiếp cận vấn đề "cả chùm" về Trump lúc này đã phải là hợp lý chưa? Khẳng định điều gì về Trump liệu có vội vàng không? Chúng ta (và có lẽ cả thiên hạ nữa) còn đang lúng túng. Lúng túng mà cứ cố giải thích, lại giải thích theo cách tiếp cận quen thuộc thì khó tránh khỏi vũ đoán hay tư biện. Cần quan sát và suy ngẫm nhiều hơn, có thông tin đầy đủ hơn, không phải chỉ dựa trên những điều được cho là Trump nói, cũng không phải những điều mà Trump thực đã nói.

Trước hết, là tìm hiểu tư duy của Trump và những chính sách mà Trump thực sự theo đuổi là gì? Mà điều này thì hầu như chưa có mấy thông tin đáng tin cậy. Trump không phải là hiện tượng, mà là một quá trình, một giai đoạn  vận động khách quan cuả lịch sử, diễn ra bất chấp ý muốn của ai. Phải chăng thế giới đang chuyển sang vận hành một kiểu khác với những gì ta quen thuộc.

Thoát khỏi ảnh hưởng độc hại của Trung Hoa, tẩy rửa những độc hại của cái từng được xem là "xã hội chủ nghĩa" ở Việt Nam, tuy có liên quan chặt chẽ với nhau nhưng là hai yêu cầu độc lập, có tính khách quan.  Nó có quan hệ nhất định với thế giới, với chính trường Mỹ, nhưng dứt khoát không phải là vấn đề lệ thuộc vào việc ai làm Tổng thống Mỹ.

Việt Nam đủ sức làm được cả hai yêu cầu trên, nếu thực sự muốn làm và dám làm, nếu nhận thức được rằng, làm chậm thì thiệt nhiều, không làm thì đi vào tiêu vong. Từ đó, sẽ tìm ra cách làm hiệu quả, mà chắc chắn không phải là cách làm hiện nay. Chậm quá, yếu ớt quá và nhiều sai sót quá.

Vấn đề quan trọng đối với các nhà phản biện xã hội cần có phương pháp đối thoại hữu hiệu (không đối đầu) ngoài lập luận chặt chẽ, (tránh ngôn từ "đao to, búa lớn") phải gắn với thực tế và cũng cần đặt mình vào địa vị của người được góp ý để thấu hiểu câu hỏi tại sao mình nói (đúng) mà người ta vẫn chưa nghe? Cái gì cũng có lý do của nó.

Tôi tin rằng khi phản biện xã hội, luôn biết đặt quyền lợi quốc gia, dân tộc lên trên hết và có phương pháp đúng, thuyết phục thì "Cái gì đến sẽ phải đến"!

Kính chúc các Anh/Chị luôn mạnh khỏe, mọi sự tốt lành.

T.V.T.

Tác giả gửi BVN

Mai Tú Ân: Trần Huỳnh Duy Thức - Con người chân chính nhất năm 2016

Trần Huỳnh Duy Thức - Con người chân chính nhất năm 2016
http://boxitvn.blogspot.com/2016/12/tran-huynh-duy-thuc-con-nguoi-chan.html

 -- via my feedly newsfeed

Những ngày cuối năm đã đến gần với sự chộn rộn chuẩn bị của các gia đình cho những ngày Lễ, Tết thiêng liêng sắp tới. Người đi làm xa trở về mái ấm, người chồng vội vàng lo việc về quê, vợ ẵm con chờ đón vòng tay thương ôm chặt của người chồng, người cha.

Nhưng có một người đàn ông đã không thể thực hiện được những điều giản đơn nhưng cháy bỏng đã kéo dài tới 8 năm đằng đẵng đó. Cha mẹ già mỏi mong đứa con trai không về báo hiếu, vợ hiền, con dại khắc khoải từng đêm đợi chờ người chồng người cha mãi chưa về trong vòng tay ôm. Hơn 2000 ngày hy vọng chen lẫn với hơn 2000 đêm giấc mơ đoàn viên tan vỡ, mộng trùng phùng thảng thốt rời xa. Đã 8 mùa thu vàng võ dài lê thê đồng hành cùng với một người đàn ông đang cô độc âm thầm trả nợ cho quê hương. Tên anh quá đỗi quen thuộc và là biểu tượng cho những điều anh đã làm cho chúng ta.Trần Huỳnh Duy Thức...

Đó là một cái tên mà đã 8 năm rồi luôn sáng chói ở cái nơi tăm tối nhất, tên anh như một cành sen trổ mình trong bùn bẩn, và làm ngọn lửa âm thầm chiếu sáng đêm đen. Ở nơi địa ngục trần gian ấy, tên anh như một biểu tượng luôn cháy bỏng lên ánh sáng của những khát vọng lớn lao, những hy sinh vô bờ bến của một con người muốn được đền đáp cho quê hương Việt Nam. Như một con người chân chính nhất.

Trần Huỳnh Duy Thức. Chúng tôi không quên anh và không thể nào quên anh bởi chúng tôi đã để anh ở trong trái tim của mỗi người. Anh sẽ ở đó cùng chúng tôi như một ngọn lửa nhỏ để nhắc nhở chúng tôi rằng, anh vẫn còn đang ở trong ngục tối, rằng trong số những người đàn ông được hạnh phúc trở về với mái ấm gia đình mùa xuân này sẽ không có tên anh. Rằng đất nước này còn đang nợ cái tên anh.

Vẫn biết rằng danh hiệu "Con Người Chân Chính Nhất Năm 2016" không có nghĩa lý gì so với nỗi thống khổ cùa anh trong ách giam cầm của CS. Vẫn biết rằng không có danh hiệu nào, dù cao quí đến đâu lại có thể bù đắp được cho anh những điều cao đẹp anh đã hy sinh, nhưng chúng tôi vẫn lấy làm hạnh phúc khi được trao danh hiệu cao quí đó cho một con người xứng đáng như anh. Tiếp nối với Quê Choa Nguyễn Quang Lập năm 2014, Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh năm 2015, năm 2016 này dành cho một con người như anh.

Trần Huỳnh Duy Thức - Con Người Chân Chính Nhất Năm 2016!

M.T.A.

Tác giả gửi BVN

Thứ Ba, ngày 29 tháng 11 năm 2016

Phạm Chí Dũng: Vì sao Quốc hội Việt Nam hoãn thông qua Luật về Hội?

Vì sao Quốc hội Việt Nam hoãn thông qua Luật về Hội?
http://boxitvn.blogspot.com/2016/11/vi-sao-quoc-hoi-viet-nam-hoan-thong-qua.html

 -- via my feedly newsfeed

Không ngoài dự đoán của phần lớn giới quan sát độc lập, kỳ họp cuối năm 2016 của Quốc hội Việt Nam đã "nhất trí cao" với đảng cầm quyền về việc hoãn thông qua Luật về Hội.

Buổi sáng Washington và buổi chiều Việt Nam

Luật về Hội đã suýt được thông qua ngay đầu kỳ họp Quốc hội vào cuối Tháng Mười. Tuy nhiên, nội dung khi đó của Luật về Hội lại mang tính "siết" về nhiều vấn đề, khác hẳn với bản dự thảo Tháng Mười, đến mức một Luật sư nhân quyền là ông Trần Vũ Hải phải cảnh báo Dự Luật về Hội này là "luật phản động".

Vào buổi sáng ngày 25 Tháng Mười, các đại biểu Quốc hội đã "tập trung thảo luận" theo hướng vẫn chấp nhận quan điểm của bản giải trình của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về "siết hội" mà không có bất kỳ đại biểu hoặc đề xuất nào trong nghị trường nằm ngoài "đường ray".

Chỉ ngay sau cuộc gặp giữa ông Đinh Thế Huynh và ông John Kerry tại Washington, DC vào buổi sáng ngày 25 Tháng Mười, đến cuối giờ chiều ngày hôm đó (giờ Việt Nam) Dự luật về Hội mới bất ngờ được ông Lê Vĩnh Tân, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, cơ quan về danh nghĩa là "chủ trì soạn thảo Dự luật về Hội, nêu trước Quốc hội: "Thừa nhận việc chuẩn bị dự án luật chưa được chu đáo, và vì còn nhiều ý kiến khác nhau về dự thảo luật nên cần có thời gian chuẩn bị tiếp để trình Quốc hội tại kỳ họp sau, tạo sự đồng thuận cao mới thông qua luật".

Tuy cho đến nay đảng không xác nhận bất cứ mối liên hệ nào giữa cuộc gặp đột biến Đinh Thế Huynh - John Kerry với hiện tượng Quốc hội Việt Nam đột ngột hoãn Luật về Hội, nhưng phần lớn giới quan sát và phân tích cho rằng hẳn một trong những mục đích lớn nhất của chuyến đi của ông Đinh Thế Huynh là nhằm đề nghị phía Mỹ tái cam kết về việc "sẽ cho Việt Nam vào TPP". Mà điều kiện tiên quyết để vào TPP là Việt Nam phải chấp nhận định chế Công đoàn Độc lập và Luật về Hội – tất nhiên là một luật mở chứ không phải đóng đối với các hội đoàn dân sự, đặc biệt là 30 tổ chức xã hội dân sự độc lập đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam.

Rất có thể tác động trực tiếp từ cuộc gặp trên của ông Đinh Thế Huynh đã giúp Quốc hội triển khai thực thi việc hoãn Luật về Hội để chờ kết quả của TPP tại Quốc hội Hoa Kỳ, đồng thời vẫn chuẩn bị sẵn việc thông qua TPP tại Quốc hội Việt Nam nếu nỗ lực trình TPP ra Quốc hội Hoa Kỳ của Tổng thống Barack Obama đạt thành công.

Vì sao "bỏ ngỏ" Luật về Hội?

Đến gần trung tuần Tháng Mười Một, Tổng thống Obama bất ngờ phải nhận một trong số ít thất bại trong nhiệm kỳ của ông, nhưng lại là thất bại nặng nề: Thượng Viện Mỹ tuyên bố thẳng thừng sẽ không họp hành gì về TPP trong năm 2016. Điều đó cũng có nghĩa là TPP, nếu còn đôi chút tương lai để được xem xét và thông qua, sẽ phải bị treo lại thêm ít nhất một năm nữa.

Ngay lập tức, tác động tiêu cực trên đã khiến chẳng cần đảng phải chỉ đạo, Quốc hội Việt Nam cũng mau mắn "hoãn bỏ phiếu thông qua TPP". Cũng chẳng còn ai nhắc đến Công đoàn Độc lập nữa.

Nhưng riêng Luật về Hội thì lại là một câu chuyện tương đối khác biệt.

Luật về Hội không chỉ là một trong những yêu cầu cải cách luật pháp về nhân quyền mà Mỹ và phương Tây đặt ra đối với giới lãnh đạo Việt Nam liên quan mật thiết đến TPP, mà còn tương tác mật thiết với hiện tồn Việt Nam đang là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Từ đầu năm 2014 đến nay, nhiều quốc gia thành viên của Hội đồng này liên tục khuyến cáo chính thể Việt Nam phải công nhận xã hội dân sự và các tổ chức dân sự độc lập nằm trong mô hình tiến bộ này.

Dù sao, việc Quốc hội quyết định không thông qua Luật về Hội tại kỳ họp cuối năm 2016 cũng là một dấu hiệu cho thấy chủ trương "Việt Nam luôn quan tâm và bảo đảm quyền con người" chưa đến nỗi quá tệ: nếu thông qua với nội dung siết bức, Quốc hội sẽ phải tiếp nhận vô số phản ứng từ cộng đồng dân chủ và có thiện cảm với dân chủ trong nước, đồng thời gây bất lợi không nhỏ về kinh tế, ngoại giao và cả chính trị cho chế độ một đảng Việt Nam trong quan hệ với các nước phương Tây.

Khả năng rõ nhất là chính thể một đảng ở Việt Nam không còn dám áp đặt luật pháp độc trị theo cách đã từng thông qua Hiến pháp 2013 khi vẫn giữ nguyên những nội dung cực kỳ bảo thủ như "kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo" và "sở hữu đất đai toàn dân", khiến từ năm 2014 đến nay lượng tín dụng cho vay của các tổ chức tài chính quốc tế cho Việt Nam đã giảm hẳn, còn số viện trợ không hoàn lại từ các chính phủ Bắc Âu đối với Việt Nam cũng xuống dốc thê thảm. Khả năng rõ nhất là chế độ độc trị ở Việt Nam muốn kéo lùi Dự luật về Hội để ngó chừng "tình hình mới".

Nếu tạm loại bỏ yếu tố rất quan trọng xúc tác cho Luật về Hội là TPP, Luật về Hội vẫn là một điều kiện để phương Tây và các ngân hàng chủ nợ của Việt Nam đặt điều kiện về vấn đề cho Việt Nam vay tín dụng, thậm chí có thể liên quan cả chủ đề sự hiện diện của hải quân Mỹ ở Biển Đông.

Hẳn giới lãnh đạo Việt Nam không bỏ qua những điều kiện "còn nước còn tát" liên quan mật thiết đến nền kinh tế và chân đứng chế độ Việt Nam như thế.

"Nhóm muốn thay đổi"

Cần chú ý một biểu hiện khá lạ lùng là cùng thời điểm công bố bản dự thảo "phản động" Luật về Hội vào Tháng Mười Một, trên Tạp chí Tuyên giáo (thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương) đã xuất hiện một bản tin có tựa đề "Dự thảo Luật về hội còn những điểm 'sai lệch' cần tháo gỡ", ghi nhận những ý kiến "đề nghị Quốc hội cân nhắc, dành thêm thời gian để hoàn thiện dự thảo luật và có thể để lùi lại việc thông qua vào kỳ họp sau trong năm 2017".

Trước kỳ họp Quốc hội cuối năm 2016, cũng xuất hiện hiện tượng một số quan chức trung và cả cao cấp từ cơ quan kinh tế, tuyên giáo, dân vận tỉnh thành đến văn phòng Chính phủ và văn phòng Chủ tịch nước tỏ ý đồng thuận với việc ban hành một luật về hội mang tính "mở", thay vì "siết". Trong bối cảnh Việt Nam đang phải đối mặt không chỉ với "vách đá tài chính" mà cả với cơn sóng ngầm phản kháng dữ dội từ dân chúng về quá nhiều vấn nạn và quốc nạn xã hội, rất có thể đang xuất hiện ngày càng nhiều quan chức bộc lộ quan điểm "cải cách" theo hướng mị dân hoặc nói văn hoa hơn là chủ nghĩa dân túy.

Dù chưa có một thống kê chính thức nào, nhưng rất nhiều tin tức ngoài lề cho biết nhiều quan chức trung cấp và cả cao cấp của Việt Nam có tài sản cố định, tài khoản ngân hàng và thân nhân ở Mỹ và các nước phương Tây. Cho tới nay, bằng chứng sống động nhất là đã có đến $19 tỷ được chuyển từ Việt Nam ra nước ngoài vào năm 2015. Rất nhiều nghi vấn đã được nêu ra nhắm vào giới quan chức Việt Nam đã và đang âm thầm kiếm tìm "bến bờ mới".

Khuynh hướng "ngả về phương Tây" trong giới quan chức Việt Nam cũng bởi thế hầu như tương đồng với giới quan chức ăn đậm ở Trung Quốc. Kìm nén quyền dân về tự do lập hội đã quá lâu, nhưng nay thời thế đã quá đổi khác. Trong bối cảnh các tổ chức dân sự độc lập ra đời ở Việt Nam đã thỏa mãn phần lớn tên gọi quyền dân của xã hội, Luật về Hội nếu có ban hành cũng chẳng khiến phát sinh thêm nhiều tổ chức xã hội dân sự. Trong khi đó, luật này lại luôn có thể được xem như một "món quà" trong con mắt phương Tây nếu chính thể Việt Nam buộc phải nới pháp luật về nhân quyền để đổi lấy những lợi ích về kinh tế, chính trị và cả quân sự.

Có thể đặt cho nhóm quan chức đang ngày càng mở rộng về số lượng "ngả về phương Tây" là "nhóm muốn thay đổi", tuy vẫn chưa nhận ra một dấu hiệu nào thật sự mang tính cải cách từ họ. Nhưng chính nhóm này và ảnh hưởng của họ tại các địa phương và khối cơ quan trung ương đang và sẽ dần có tác động, khiến chính sách bảo thủ trì trệ và áp chế dân chúng của đảng cầm quyền không còn nhiều cơ hội nảy nòi như trong quá khứ.

Trong khi đó, tình hình thế giới trong năm 2017 như giới lãnh đạo Việt Nam dự đoán là "vẫn còn rất phức tạp". Thật ra, với một Tổng thống mới của Hoa Kỳ là Donald Trump, tương lai sẽ không biết đâu mà lường. Có thể tệ hơn, nhưng cũng không loại trừ xác suất có thể tốt lên. Bằng chứng rõ nhất cho đến nay là phần lớn kết quả thăm dò về ông Trump trước khi bầu cử Tổng thống Mỹ diễn ra đều sai lầm, tương tự phần lớn dự doán về thị trường chứng khoán Mỹ sẽ sụt mạnh nếu ông Trump đắc cử Tổng thống cũng sai nốt.

Những biến chuyển kỳ lạ vẫn có thể xảy ra ở Mỹ trong thời gian tới. Trong đó, không loại trừ có cả vài động thái chính trị, ngoại giao, quân sự liên quan đến Việt Nam và do đó có thể khiến thay đổi dẫn đến "bứt phá" cho chính sách đối ngoại ngả nghiêng của giới lãnh đạo Hà Nội.

P.C.D.

VNTB gửi BVN

Nguyễn Thị Từ Huy: Phạm Toàn và Huệ Chi

Phạm Toàn và Huệ Chi
http://boxitvn.blogspot.com/2016/11/pham-toan-va-hue-chi.html

 -- via my feedly newsfeed

Những thảo luận gần đây về vấn đề liên minh và chia rẽ khiến tôi nhớ lại một câu chuyện giữa hai cá nhân: Phạm Toàn và Huệ Chi. Cách đây mấy năm, vào thời điểm khi tôi trở về Việt Nam sau lần du học đầu tiên, một buổi chiều tôi nhận được điện thoại của Phạm Toàn, giọng rất nghiêm trọng: "Tối nay toa bận gì, hẹn gì với ai cũng phải bỏ để đến ngay nhà moi, có việc gấp, quan trọng" (Chắc nghĩ tôi mới ở Pháp về nên Phạm Toàn thỉnh thoảng chua tiếng Pháp vào các cuộc trò chuyện). Tôi nghe giọng điệu cũng cảm thấy là quan trọng, liền trả lời không chần chừ: "Cháu sẽ huỷ mọi cuộc hẹn để đến nhà chú, lúc 8h tối". Lúc đó Phạm Toàn còn thuê nhà ở khu Ciputra. Lúc tôi bước vào căn hộ rộng rãi và bày biện rất hiện đại thì đã thấy Phạm Toàn chỉnh tề ngồi đợi sẵn. Theo phong cách "tây" Phạm Toàn mời tôi chọn đồ uống, tôi chọn uống trà, đúng kiểu Việt Nam. Sau đó Phạm Toàn bắt đầu nói rất dài về Huệ Chi, dĩ nhiên, giờ đây tôi chẳng còn nhớ gì, mà chắc Phạm Toàn cũng chẳng còn nhớ gì. Bởi vì lúc đó ông nói trong giận dữ. Tôi ngồi nghe, nghe với kinh nghiệm của một người từng làm việc vài năm trong một dịch vụ gọi là "Trung tâm tư vấn tâm lý tình cảm" (phải nói rằng những kinh nghiệm làm việc trong thời gian đó thực sự quý giá đối với tôi). Tôi để Phạm Toàn đi hết cơn giận của ông. Rồi cũng đến lúc ông hỏi: "Vậy theo toa thì moi nên làm như thế nào? Moi định cắt đứt với Bô-xít. Moi không chấp nhận được". Tôi xin thêm một ly trà thứ hai, và quyết định nói thực sự những gì tôi nghĩ: "Cháu không thể nói gì về chuyện giữa chú và chú Huệ Chi. Cháu chỉ nghe mỗi mình chú, không được nghe chú Huệ Chi nên không biết thực hư câu chuyện như thế nào. Mà cái version (phiên bản) của chú lại được nói trong lúc chú tức giận như thế thì nó chính xác đến mức nào, cháu không dám chắc. Vì thế, cháu không thể nhận định gì về chuyện riêng giữa chú và chú Huệ Chi. Cháu cũng không thể khuyên chú điều gì, làm sao cháu dám khuyên chú! Cháu chỉ muốn nói một điều thôi: dù chú quyết định như thế nào, dù chú lựa chọn giải pháp nào, thì Bô-xít, trong đánh giá của cháu, và có lẽ cũng là của nhiều người, là một thành quả của công cuộc dân chủ hoá, và nó sẽ đi vào lịch sử báo chí như là một thành quả của nỗ lực của người Việt Nam ở giai đoạn này. Chú cân nhắc điều đó khi lựa chọn giải pháp, cháu chỉ muốn nói như vậy thôi". Ông Toàn gật gật gù gù rồi nói: "Nhưng moi tức không chịu được". Lúc đó tôi hỏi thêm: "Chú có nghĩ rằng đây là một sự hiểu lầm không, chú có nghĩ là có yếu tố an ninh trong tất cả những chuyện này không?" Tôi không còn nhớ câu trả lời, nhưng phản ứng của Phạm Toàn vẫn trong tình trạng giận dữ. Sau đó chúng tôi chuyển sang chuyện khác, chuyện làm sách giáo dục. Rồi tôi ra về, vẫn không biết được Phạm Toàn sẽ quyết định như thế nào, có thể trong giới đấu tranh lại sắp có một xcăng-đan. Vài ngày sau, an ninh gửi đi một email từ một địa chỉ gần giống hệt địa chỉ Phạm Toàn (hình như chỉ thêm vào một chữ cái). Email đó được gửi đến cho tất cả những người có trong danh sách địa chỉ mail của Phạm Toàn, tôi không nhớ nội dung cụ thể, chỉ biết là nó rất tệ, góp phần khắc sâu mâu thuẫn giữa Phạm Toàn và Huệ Chi và đặt Bô-xít vào tình trạng bê bối. Tôi vội gọi cho Phạm Toàn thì được biết đó là địa chỉ giả. Mọi việc lập tức được soi sáng. Cùng lúc đó an ninh liên tục gọi Huệ Chi lên để thẩm vấn. Trong những ngày ấy, ngày nào Phạm Toàn cũng đến nhà Huệ Chi, ngồi chờ cho đến lúc Huệ Chi từ đồn công an trở về, động viên gia đình Huệ Chi. Phạm Toàn viết bài đăng lên Bô-Xít để bày tỏ tình cảm tương ái và tình cảm yêu mến đối với Huệ Chi. Lúc đó mới thấy thật là khó có ai thương Huệ Chi hơn Phạm Toàn. Câu chuyện về đại thể là như vậy. Bô-xít tiếp tục hành trình tranh đấu. Tình bạn của Phạm Toàn và Huệ Chi sâu đậm hơn, bền chặt hơn. Chính Phạm Toàn đã dẫn tôi tới thăm Huệ Chi tại nhà ông. Phạm Toàn và Huệ Chi, từ hợp tác đến tan vỡ có thể chỉ trong khoảnh khắc, nhưng từ tan vỡ đến thương quý và thấu hiểu cũng chỉ trong khoảnh khắc. Trí nhớ của tôi vốn rất tệ, nhưng nó đã lưu giữ câu chuyện này, bởi đó là một câu chuyện đẹp. Thật khó mà quên được một câu chuyện đẹp như thế. (Bài được đăng với sự đồng ý của Phạm Toàn và Huệ Chi???) N.T.T.H. Tác giả gửi BVN

Thứ Hai, ngày 28 tháng 11 năm 2016

Mai An Nguyễn Anh Tuấn: Một bản tuyên ngôn chống giặc nội xâm đầu thế kỷ XVII

Một bản tuyên ngôn chống giặc nội xâm đầu thế kỷ XVII
http://boxitvn.blogspot.com/2016/11/mot-ban-tuyen-ngon-chong-giac-noi-xam.html

 -- via my feedly newsfeed

Trong lịch sử văn hoá-tư tưởng nước ta, có những bản tuyên ngôn nổi tiếng tới muôn đời: đó là bản tuyên ngôn lập quốc đầu tiên bằng "Thiên đô chiếu" do đức Lý Thái Tổ viết, bản tuyên ngôn chiến trận đời Trần bằng "Hịch tướng sĩ văn" tương truyền của Đại vương Trần Quốc Tuấn thảo, bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Đại Việt bằng áng thiên cổ hùng văn "Bình Ngô đại cáo thiên hạ" do vị Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi chấp bút, bản tuyên ngôn độc lập thời hiện đại của nước VNDCCH do Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt quốc dân đồng bào đọc… Nhưng, ở đầu thế kỷ XVII, có một bản khải văn cũng mang tầm vóc của một bản tuyên ngôn rất đáng đi vào lịch sử thì còn được ít người biết đến. Đó là bản khải văn có thể gọi tên: "Lấy dân làm gốc"(1). Lần đầu tiên được đọc bài khải văn do nhà văn Hoàng Quốc Hải giới thiệu, tôi thấy sững sờ, và có cảm giác rõ rệt: dường như tác giả đã viết nó cho cả ngày hôm nay nữa! Đây là một luận văn chính trị sắc bén, chứa đựng những suy nghĩ thấu đáo về thời cuộc, tràn trề xúc cảm, chan chứa tình thương dân, hôi hổi tính thời sự, theo tôi rất đáng được chọn đưa vào SGK phổ thông trung học! Vào thời xuất hiện bản khải văn, chính quyền Lê-Trịnh tuy đã tương đối ổn định, trong nước đã tạm yên bình, nhưng cuộc nội chiến với nhà Mạc lên miên suốt mấy chục năm đã khiến cho sản xuất nông nghiệp đình đốn, làng xóm tiêu điều, nhiều năm mất mùa liên tiếp, trong khi đó nạn nhũng nhiễu dân lành của quan lại đã trở thành hiện trạng nhức nhối có nguy cơ làm nổ tung cơ cấu xã hội, đưa cả dân tộc tới chỗ diệt vong… Trước tình hình đó, vào tháng 9 năm 1612, Thiêm đô ngự sử Nguyễn Duy Thì (NDT) cùng Giám sát ngự Phạm Trân và các đồng liêu đã dâng lên Bình An vương (tức chúa Trịnh Tùng) bài khải bộc lộ mối quan tâm của các ông trước hiện tình triều chính, đồng thời nêu lên "những việc chính sự cấp thiết phải tu chỉnh để chuyển tai họa thành điềm lành, trên hợp với ý trời, dưới thuận với lòng người". Toàn bộ văn bản bài khải như sau(2): "Dân là gốc của nước, đạo trị nước chỉ là yên dân mà thôi. Lại nghĩ rằng trời với dân cùng một lẽ, lòng dân vui thích tức là được ý trời rồi. Cho nên người giỏi trị nước, yêu dân như cha mẹ yêu con, thấy họ đói rét thì thương, thấy họ lao khổ thì xót, cấm hà khắc bạo ngược, ngăn thuế khoá bừa bãi, để cho dân được thoả sống mà không còn tiếng sầu hận oán than. Thế mới là biết đạo trị nước, biết cách sai dân. Nay Thánh thượng (chỉ chúa Trịnh) để ý tới dân, thi hành một chính sách cốt để nuôi dân, ban ra một mệnh lệnh, cũng nghiêm răn nhiễu dân. Lòng yêu dân đó, thực là lượng cả của trời đất, cha mẹ vậy. Nhưng kẻ thừa hành thì chưa biết thể theo đức ý của bề trên, chỉ chăm làm điều hà khắc bạo ngược, đua nhau xa xỉ, coi một huyện thì làm khổ dân một huyện, coi một xã thì làm khổ dân một xã, mọi việc nhiễu dân, không điều gì không làm, khiến dân trong nước, con trai thì không có áo, con gái thì không có váy, tiệc hát xướng không còn, lễ cưới xin không đủ, sống nuôi chết đưa không trông cậy vào đâu, ăn uống chi dùng hàng ngày mọi bề đều thiếu, dân mọn nghèo hèn cho đến sâu bọ cỏ cây đều không sống nổi. Vì thế, cảm động đến đất trời, khiến cho lòng trời ở trên không thuận, tai hoạ lũ lụt tràn ngập quá mức thường, chắc là có quan hệ với chính sự hiện nay, há chẳng nên sợ hãi, tu tỉnh, nghĩ đến tội lỗi gây nên thế sao? Nếu biết thi hành chính sách bảo vệ dân thì dưới thuận lòng người, trên hợp ý trời, và chuyển tai hoạ thành điềm lành, lúa được mùa luôn, người người no đủ, trong nước thái bình, cơ nghiệp ức muôn năm của nước nhà từ nay cũng do đó mà bền vững lâu dài vậy"(3). Danh nhân Nguyễn Duy Thì (1571-1651), tác giả chính của bài khải trên, là một trong những nhân vật nổi tiếng của vùng đất Yên Lãng, Bình Xuyên, Vĩnh Phúc. Sau đây là vài dòng tiểu sử của cụ do một nhà nghiên cứu đúc kết: Năm 1598, khi 27 tuổi, Nguyễn Duy Thì thi đỗ Hoàng giáp. Tên tuổi của ông được khắc trên bia đá tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám… Là một trí thức có vị trí và vai trò quan trọng trong xã hội Việt Nam thời Lê Trung Hưng, Nguyễn Duy Thì đã đem hết sức mình cống hiến cho sự ổn định tình hình chính trị đất nước ở buổi đầu thời Lê Trịnh, trong thì giữ yên chính trị, ngoài thì trấn áp phản loạn, khôi phục mối bang giao hữu hảo với phía Bắc, giữ gìn tình cảm truyền thống người Việt với nhà Nguyễn ở phía Nam; một lòng trung quân, ái quốc, thương dân. Ông được người đời nhờ cậy và tôn trọng trong suốt 30 năm; Phủ đường nơi ông làm việc khi về quê, sau khi ông mất, nhân dân sử dụng làm nơi hương đăng thờ phụng, tưởng nhớ công lao của ông suốt hơn 350 năm nay. Nhà sử học Phan Huy Chú đã xếp ông vào hàng 38 vị phù tá có công lao tài đức của nhà Lê Trung Hưng. Xin trở lại với bài khải. Mở đầu bài khải, bằng sự khôn khéo tỉnh táo của một chính trị gia chuyên nghiệp, cụ NDT đã đưa ra những chân lý không ai chối cãi nổi: "Dân là gốc nước, đạo trị nước là yêu quý dân mà thôi. Trời và dân theo một lẽ, lòng dân vui thích tức là được ý trời. Vì thế người giỏi trị nước phải yêu dân như cha mẹ yêu con, thấy dân đói rét thì thương, thấy họ lao khổ thì xót, cấm hà khắc bạo ngược, ngăn thuế khoá bừa bãi, để cho dân được thoả sống mà không còn tiếng sầu hận oán than. Thế mới là biết đạo trị nước, biết cách sai dân". Những điều này-như là cái lẽ Trị quốc An dân sáng tỏ tựa mặt trăng mặt trời mà người cầm quyền của một quốc gia cần lấy làm lòng thì đã được nhiều người trước cụ Nguyễn Duy Thì nói đến, tiêu biểu là danh nhân Nguyễn Trãi… Nhưng ngay ở đoạn mở đầu có tính chất đặt nền tảng như trên, ta có thể thấy trái tim cụ NDT đã rớm máu thế nào, những lời thốt ra không chỉ là kinh điển Nho gia mà chính là đòi hỏi của Lương tri thông thường lẫn đòi hỏi của Sứ mệnh "chăn Dân" được đặt trong tình thế kêu gọi thiêng liêng! Với cái tiền đề nặng đầy lý trí và tràn trề cảm xúc như vậy, cụ NDT đã khéo léo đưa ngưòi cầm đầu QG vào cuộc: "Nay Thánh thượng (chỉ chúa Trịnh) để ý tới dân, thi hành một chính sách cốt để nuôi dân, ban ra một mệnh lệnh, cũng nghiêm răn nhiễu dân. Lòng yêu dân đó, thực là lượng cả của trời đất, cha mẹ vậy". Tháng 4 năm Quý Tỵ (1593), vua Lê Thế Tông trở về Thăng Long, đánh dấu sự phục hưng của triều Lê nhưng chỉ là trên danh nghĩa, còn thực quyền đã nằm trong tay chúa Trịnh. Còn kể từ năm 1527, khi Mạc Đăng Dung đoạt ngôi triều Lê, chế độ quân chủ Đại Việt lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện, những cuộc tranh giành quyền lực gây nên nội chiến Lê-Mạc, Trịnh-Nguyễn chia cắt đất nước. Khắp nơi, nông dân nổi dậy chống lại chế độ quân chủ áp bức tàn bạo. Vài nhà nghiên cứu lịch sử đã có nhận định khá thống nhất: các vua Lê thời đó đều trẻ người non dạ trước tiền đồ của giang sơn xã tắc, và Trịnh Tùng, muốn giữ vững ngôi vị, ngoài tài năng cai trị và cầm quân, buộc phải trở thành người cứng rắn, quyết đoán và thậm chí tàn nhẫn; với tài năng sẵn có trong thời loạn, ông đã trở thành kẻ gian hùng khuynh đảo triều chính nhà hậu Lê… Những dòng văn khải trên có tác dụng một mũi tên trúng hai đích: vừa để nhấn mạnh cái phần tài năng trị quốc, khẳng định mặt tích cực trong các chính sách của Trịnh Tùng; đồng thời cũng ngầm đem cái sức mạnh nguyên thuỷ của "Thiên đạo" (khái niệm của Lão Tử) diễn đạt theo cách dân dã và Việt hoá là: "lượng cả của trời đất, cha mẹ" để răn dạy bậc cầm quyền; điều đặc biệt có ý nghĩa là cụ đã lồng vào cái "Thiên đạo" xa lạ kia bằng nội dung "Lòng yêu dân"! Là một trí thức tỉnh táo, ông thừa hiểu bản tính của con người là ham lợi, là khát khao quyền lực, là ước nguyện đè nén người khác, như triết gia Hàn Phi đời Chiến Quốc đã khái quát- nhất là chúng lại nằm ở một người đứng trên đầu cả thiên hạ như Trịnh Tùng! Nhưng, trong cái thời loạn đó, cụ NDT cũng hiểu hơn ai hết, cần phải có người có đủ bản lĩnh, tài năng và quyết đoán như Trịnh Tùng để giữ sự bình yên cho Đất nước. Nhà sử học Phan Huy Chú đã viết về Trịnh Tùng như sau: "Ông tính khoan hậu, yêu người, khéo vỗ về tướng sĩ… dùng binh như thần… Ông thực sự làm chúa cầm quyền chính, công lao sự nghiệp danh vọng lừng lẫy…"(4). Dù Phan Huy Chú là sử gia đương thời bắt buộc phải nói sao cho đẹp lòng quân vương, song rõ ràng cũng phải có ít nhiều sự thật trong những dòng sử trên! Và khác với nhà triết học chính trị người Ý N. Machiavelli, người đã khuyên bậc quân vương rằng: "Quân vương phải biết học hỏi từ bản tính của dã thú, biết kết hợp sức mạnh của sư tử với sự tinh ranh của cáo. Sư tử không thể tự bảo vệ mình tránh các cạm bẫy còn cáo thì không chống lại được sói", cụ NDT nước ta, sống sau Machiavelli gần hai thế kỷ, đã khuyên bậc quân vương của mình điều hệ trọng bậc nhất: Cần phải yêu Dân, quý Dân thực sự, bởi lẽ Dân là gốc của nước; và yêu quý Dân chính là cái gốc của đạo trị Dân. Dân không phải là kẻ thù, nên không thể xử sự với Dân như loài dã thú đã làm! Điều này, ta có cảm tưởng cụ NDT đang nói trực tiếp với những người Việt Nam của thế kỷ XXI! Những cuộc khởi nghĩa nông dân, những cuộc đấu đá huynh đệ tương tàn vì quyền lực và đất đai giữa các thế lực chính trị, mối đe doạ ngoại xâm thường trực từ phương Bắc…, tất cả đều nguy hiểm cho an ninh quốc gia, song đều không nguy hiểm bằng hoạ nội xâm do sự thối nát tự bên trong chính quyền, những kẻ "ăn lộc của dân" nhưng lại "đền ơn kẻ cấy cày" bằng sự cướp đoạt trắng trợn mồ hôi nước mắt của dân! Cụ NDT biết rõ điều này, và bằng mọi cách để Trịnh vương cũng phải giật mình cảnh giác. Vì thế, trong tâm trạng bức xúc đến cuồng nộ, tiếp theo, tác giả tờ khải cấp báo và lên án gay gắt tình trạng đe doạ sự tồn vong của Đất nước hiện thời, đó là chính sự hà khắc, quan lại bạo ngược, nạn tham nhũng hoành hành, kẻ "phụ mẫu chi dân" từ trên xuống dưới thì bất chấp đạo lý, luật pháp và vơ vét tận máu mủ dân lành: "Chỉ vì kẻ thừa hành chưa biết thể theo đức ý của bề trên, chăm làm sự hà khắc bạo ngược, đua đòi xa xỉ. Coi một huyện thì làm khổ dân một huyện, coi một xã thì làm khổ dân một xã". Những điều đó đã dẫn tới sự bần cùng hóa của tầng lớp "dân đen con đỏ": "khiến cho dân trong nước, con trai thì không có áo, con gái thì không có váy, tiệc hát xướng không còn, lễ cưới xin không đủ, sống nuôi chết đưa không trông cậy vào đâu, ăn uống chi dùng hàng ngày mọi bề đều thiếu, dân mọn nghèo hèn cho đến sâu bọ cỏ cây đều không sống nổi". Rõ ràng là, dù cụ NDT không nói ra, song người đương thời và người hôm nay đều có thể hiểu rằng, những kẻ có quyền hành mà tha hoá, tham lam, "phàm những việc nhiễu lạm, không việc gì không làm", "ăn không chừa thứ gì của Dân" (theo cách nói của một người có chức quyền hiện nay), thì chúng chẳng khác gì giặc nội xâm hiểm độc nhất, chúng tàn phá tài nguyên đất nước, huỷ hoại lòng tin của mọi người đối với hệ thống công quyền, thiêu huỷ máu xương của bao thế hệ người đã đổ xuống cho Tổ quốc, bần cùng hoá người dân- những người đang nai lưng làm ra của cải xã hội và đóng thuế để nuôi sống bộ máy cai trị! Nhà nho giàu tâm hồn thi sĩ NDT hiểu thấu nỗi khổ ải cùng cực của người dân lành trước tai hoạ nội xâm đó và hình tượng hoá chúng một cách sinh động trong những dòng văn rung động nỗi xót xa thương cảm lạ thường, hiếm thấy trong văn chương trung đại. Phần cuối của bài khải nói tới luật nhân quả nhỡn tiền, kể ra những thiên tai khủng khiếp mà lũ lụt là tiêu biểu, theo tác giả, đó là ông trời giáng họa xuống nhân gian, bởi trời và người vốn có mối giao cảm với nhau ("Thiên nhân tương cảm", theo quan niệm của Nho giáo). Sử đã ghi lại chuyện "núi Tản Viên bị lở đến hơn 12 trượng", một huyện ở Hà Bắc "trời mưa máu suốt một ngày một đêm"(5)… Những hiện tượng thiên tai này có liên quan đến nhân tai, đến chính sự hà khắc, lục đục, thối nát, dân lầm than đói khổ, oán thán ngút trời. Và trời đã gieo tai họa như để thức tỉnh người cầm quyền cần phải thay đổi đường lối chính sách kíp thời, cần hành động sao để cái ác, cái xấu buộc phải chùn tay, nếu không, Đất nước sẽ phải chịu những hậu quả nặng nề hơn nữa! Tờ khải viết tiếp: "Vì thế cảm động đến đất trời, khiến cho lòng trời ở trên không thuận, tai họa lũ lụt tràn ngập quá mức thường, chắc là có quan hệ đến chính sự hiện nay, há chẳng nên sợ hãi, tu tỉnh, nghĩ đến tội lỗi gây nên thế sao?". Phải chăng, đây cũng là những lời bộc trực thẳng thắn, trực tiếp khuyên nhủ, nhắc nhở chúa (ở đây là Trịnh Tùng): "hãy nên sợ hãi, tu tỉnh, nghĩ đến tội lỗi" của mình! Ai dám bạo gan như cụ NDT? Bạo gan hơn, cụ còn thay mặt đạo trời đạo người vạch ra cái đòi hỏi cấp bách của thời cuộc cho người cầm quyền tối cao: "Nếu biết thi hành chính sách bảo vệ dân thì dưới thuận lòng người, trên hợp ý trời, và chuyển tai hoạ thành điềm lành, lúa được mùa luôn, người người no đủ, trong nước thái bình, cơ nghiệp ức muôn năm của nước nhà từ nay cũng do đó mà bền vững lâu dài vậy". Kết quả là: "Triết vương (Trịnh Tùng) khen và nhận lời. Năm Bính Thìn (1616) ông được đổi sang Đô ngự sử, rồi lại thăng Tả thị lang bộ Lễ"(6). Điều quan trọng nhất là chúa không chỉ lắng nghe, khen ngợi, thăng chức cho cụ, mà còn từ đó có những hành động cụ thể góp phần thay đổi chính sự. May thay, chính thể của chúa Trịnh Tùng đã không trở thành "con quái vật máu lạnh"-theo cách nói của một triết gia phương Tây là Nietzsche về một nhà nước dửng dưng với mọi tâm tư nguyện vọng của các tầng lớp dân chúng và chỉ lo giữ cho sự tồn tại của chính mình! Sử cũ ghi rằng, năm sau, tức khoảng cuối năm 1613, "Mùa đông tháng 11, sai triều thần chia nhau đi các xứ xét hỏi nỗi đau khổ của dân gian. Người phiêu dạt thì tha tạp dịch ba năm để về an cư phục nghiệp"(7). Sức mạnh của những lời nói chân thực và chứa đựng chân lý của kẻ sĩ đối với người cầm quyền thật màu nhiệm, tuy không phải là nhiều trong lịch sử xưa nay… Ngày hôm nay, đọc lại và ngẫm nghĩ về bài khải văn trên, chúng ta có thể dễ dàng trực tiếp liên hệ tới thời cuộc nóng bỏng, và có thể dễ dàng chỉ ra các hoạ nội xâm là gì, những kẻ nội xâm là ai… đang tàn phá khủng khiếp Đất nước này! Còn riêng tôi thì nhớ ngay đến một bài viết còn chưa ráo mực cũng của một nhà sử học, nói về 5 điều ngụy biện của những quan chức "vì dân"- nói trắng ra đang là kẻ nội xâm nguy hiểm: "Những người phụ trách các đập thủy điện xả lũ vô trách nhiệm, coi cuộc sống, sinh mạng của người dân như cỏ rác phải bồi thường và phải bị truy cứu trách nhiệm nghiêm khắc. Những cơ quan lập ra dự án, tạo ra vô số tai ương cho đất nước cũng phải chịu trách nhiệm tương tự. Không thể có một đất nước mà mọi sai lầm đều đổ hết lên đầu dân còn quan chức cứ cò cưa ngụy biện vòng quanh, ngang nhiên ve vẩy những nụ cười thỏa mãn vô lương"(8). Và có rất nhiều bản "khải văn" tâm huyết thời hiện đại nhiều năm qua kêu gọi việc "thi hành chính sách bảo vệ dân" một cách xứng đáng và tử tế đã được dâng lên các "chúa thượng" kiểu mới, liệu chúng đã/sẽ được lắng nghe tới đâu? Đáng mừng là những phát súng lệnh đã khai mở ròn rã để tiêu diệt giặc nội xâm. Mới đây nhất, Phó thủ tướng Chính phủ Trương Hoà Bình đã nói: tình trạng tham nhũng và lãng phí hiện nay đang đe doạ đến sự phát triển của đất nước. Tham ô, lãng phí và quan liêu là kẻ thù của nhân dân, mà đấu tranh chống tham ô, lãng phí là đấu tranh chống "kẻ địch bên trong" (cũng có nghĩa là nội xâm)(9). Toàn dân Việt trong nước và nước ngoài đang chờ đợi, và hy vọng. Hà Nội, đầu tháng 11. 2016 N.A.T. __________ (1) Tâu là lời dâng lên vua, khải là lời dâng lên chúa. (2) Hoàng Văn Lâu & Ngô Thế Long dịch từ chữ Hán. (3) Đại Việt sử ký toàn thư, Tập III, Nxb. Văn hoá Thông tin, HN, 2000. Tr. 335-336. Bản khải này cũng được chép lại đầy đủ trong bộ sách đồ sộ của Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007. Tr. 320-321. (4) Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, tr. 251. (5) ĐVSKTT, Sđd, Tập III, tr. 335. (6) Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, tr. 321. (7) ĐVSKTT, Sđd, tr. 337. (8) Ngụy biện ác tàn - Hà Văn Thịnh, dẫn theo vuongthuc.wordpress & http://chieulang.com.vn/chieu-lang/tin-trang-chu/chi-tiet/nguy-bien-ac-tan-ha-van-thinh-9891.html (9) Báo cáo tại Hội nghị lấy ý kiến cho dự thảo Đề án tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá 10) về phòng chống tham nhũng, lãng phí, tổ chức sáng 27.10.2016 tại Hà Nội. Tác giả gửi BVN.

Thứ Bảy, ngày 26 tháng 11 năm 2016

Đoan Trang: Tình hình biển miền Trung: Thị trường bế tắc

Tình hình biển miền Trung: Thị trường bế tắc
http://www.phamdoantrang.com/2016/11/tinh-hinh-bien-mien-trung-thi-truong-be.html

 -- via my feedly newsfeed

Trong những ngày qua, một số đại diện của nhóm Green Trees (trước là Vì Một Hà Nội Xanh) đã đến Hà Tĩnh và Nghệ An để trao tận tay báo cáo "Toàn cảnh thảm họa môi trường biển miền Trung" cho ngư dân – những người chịu thiệt hại nặng nề nhất từ thảm họa này.

Đây là những đại diện cho hơn 10.000 thành viên của Green Trees, và cũng là đồng tác giả của báo cáo. 

Tình hình môi trường ở các tỉnh miền Trung không có gì tiến triển. Mặc dù các quan chức, chẳng hạn như Bộ trưởng Tài nguyên-Môi trường Trần Hồng Hà, vẫn nói rằng "biển đã sạch", nhưng ngư dân không nhận thấy một dấu hiệu nào chứng tỏ điều đó. Hàng chục chiếc ghe vẫn phủ vải nằm im trên bãi. Ngư dân gần như đã bỏ biển.

Ông Lê Xuân Thế (xã Kỳ Lợi, Kỳ Anh, Hà Tĩnh) cho biết, từ khi thảm họa xảy ra (được tính là từ ngày 6/4/2016), ông chỉ đi biển có… ba lần, mà đi là do quá nhớ biển, nhớ nghề, chứ không phải do còn hy vọng đánh bắt được cá. 

Một vài ngư dân khác thỉnh thoảng cũng đi biển, nhưng số lượng hải sản đánh bắt được rất ít, theo ghi nhận của Green Trees. Họ đã phải bắt đến cả cá con, mực con, điều này đe dọa khả năng tăng trưởng và phục hồi của hải sản. Ở trong một ghe, giữa lèo tèo vài con cá, Green Trees trông thấy một cá mập con, dài chỉ chừng 60cm.



Thị trường tê liệt

Tuy nhiên, vấn đề nghiêm trọng nhất chưa phải là không còn hải sản để đánh bắt, mà là hải sản mang về hầu như không bán được vì không còn ai tiêu thụ. Thỉnh thoảng, có một số tư thương vẫn đến mua của bà con, nhưng họ ép giá rất mạnh. Ví dụ như ghẹ, trước khi có thảm họa, giá có thể lên tới 400-500.000 đồng/kg thì giờ chỉ còn trên dưới 100.000 đồng. Số hải sản đó được tư thương chuyển đi đâu sau khi mua và xử lý như thế nào, cũng không ai biết.

Nhìn bãi biển vắng tanh vắng ngắt và các mâm cơm không có cá, các thành viên của Green Trees – tác giả bản báo cáo về thảm họa Formosa – hiểu rằng: Nghề đánh bắt, kinh doanh hải sản ở các vùng biển một thời rất giàu tôm cá, nay đã chết. Nghề này chỉ có thể sống lại khi thị trường hải sản đã được khơi thông, mà thị trường hải sản thì chỉ có thể được khơi thông khi người mua, người bán tin chắc là biển đã sạch. Niềm tin đó, hiện không có mảy may.

Không chỉ nghề đánh bắt hải sản, Green Trees ghi nhận rằng các nghề khác có liên quan đến biển như kinh doanh du lịch, làm muối, làm sỏi… cũng đều bế tắc. Dân bỏ nghề, ruộng muối bỏ không, nhà nghỉ, khách sạn ế khách. 



Bốn tỉnh miền Trung chịu ảnh hưởng của thảm họa đều là địa phương có biển, tỷ lệ sinh rất cao (vì đặc thù của nghề đi biển là tiêu hao sức lao động, cần lao động nam). Mỗi hộ gia đình đều có 6-7 con, nhà nào hiếm lắm thì 3-4 con. Thảm họa biển miền Trung làm số thanh niên trai tráng thất nghiệp, bỏ biển tăng vọt. Họ ở nhà chơi cả ngày. Có một số tìm đến lối thoát khác, là theo tàu đánh bắt xa bờ ở miền Nam, hoặc trốn sang Lào, Campuchia, Thái Lan làm thuê (nhập cư bất hợp pháp). 

Hoàng Tiến Sỹ, một ngư dân trẻ, là người đã từng lái tàu đưa các tác giả báo cáo ra gần nơi Formosa xây cảng nước sâu Sơn Dương vào tháng 8 vừa qua. Em cho biết đó là lần đầu tiên em đi biển kể từ xảy ra thảm họa. Mới đây, lúc nhóm gặp lại em là lúc em đang ngồi chơi trước cổng nhà. Em nói: "Mọi việc vẫn thế", và tỏ ra rất vui khi được Green Trees ký tặng một cuốn báo cáo.

Bồi thường không thỏa đáng

Liên quan đến khoản bồi thường 500 triệu USD của Formosa, chính quyền xã Kỳ Lợi đã tiến hành thống kê thiệt hại của người dân theo Quyết định 1880/QĐ-TTg ngày 19/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ, nhưng chưa có hộ nào được chi trả gì. Xin lưu ý: Ngay cả khi được bồi thường, thì thời gian tính bồi thường thiệt hại tối đa cũng chỉ là sáu tháng, từ tháng 4/2016 đến hết tháng 9/2016.

Còn ở huyện Lộc Hà (Hà Tĩnh), chính quyền đã và đang trả tiền bồi thường cho dân. Tuy nhiên, phần lớn cư dân bị áp một mức chung là 17.460.000 đồng cho cả sáu tháng. Trong khi đó, theo kê khai của ngư dân, trước khi xảy ra thảm họa, thu nhập của họ đạt trung bình 2 triệu đồng/ngày.

Mức bồi thường không thỏa đáng đang gây bức xúc cho rất nhiều người dân.



Bản báo cáo "Toàn cảnh thảm họa môi trường biển" của nhóm Green Trees được xuất bản vào đầu tháng 10, bằng ba thứ tiếng Việt, Anh, Đài Loan. 

Green Trees đã gửi báo cáo đến Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, và hai bộ Tài nguyên-Môi trường, Thông tin-Truyền thông, nhưng không nhận được phản hồi nào từ đó đến nay.

Bài và ảnh: Green Trees, tháng 11/2016

Thứ Sáu, ngày 25 tháng 11 năm 2016

Trương Duy Nhất : Chuyện tị nạn giữa thủ đô tị nạn

Chuyện tị nạn giữa thủ đô tị nạn
http://rfavietnam.com/node/3564

 -- via my feedly newsfeed

Tị nạn, không tị nạn Không hiểu sao, ai cũng nghĩ mình tị nạn. Từ hôm ở DC đã vậy. Qua Cali càng hỏi tợn hơn. Tội, nhiều người còn thẳng thừng "bước đầu khó khăn, có gì cứ nói, mỗi người xúm giúp một tí". Có quan chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cũng tưởng vậy khi hỏi tôi "Anh qua đây sống vùng nào?". Thấy cái tình của bà con mà cảm động. Nhiều người, xa lạ đấy, đã gặp, biết gì đâu, vậy mà quan tâm lo lắng như thể thiết thân, còn hơn ruột rà. Cảm động. Nhưng đấy không phải là cách mình lựa chọn. Nếu chọn đi, có lẽ tôi đã rời ngay từ trước khi... kết thúc điều tra. Không hiểu sao khi ở B14, đến 3 lần khi lấy cung gã điều tra viên hỏi "anh Nhất có ý định ra nước ngoài...?". Lần đầu, tưởng hắn đùa khích mình, tôi ngơ không nói gì. Lần sau vẫn câu ấy, tức khí đưa ngón tay trỏ di di qua lại trên trán "Hình như trong cái đầu tôi chưa bao giờ, dù chỉ manh nha một... ý tưởng thế!". Xong, chỉ tiếp vào thằng đang hỏi "Nếu có, tôi nghĩ tìm ngay trong chính lực lượng của các anh!". Ra tù, nghe vợ con kể: 2 lần, người của Đại sứ Mỹ điện thoại nêu nhã ý muốn gặp trực tiếp để thăm hỏi và... "trao đổi". Chẳng biết thực hư gì, nhưng khi ấy tôi và gia đình chọn cách im lặng, tránh tiếp xúc. Tuần đầu ở Toronto (Canada), Phạm Ngọc Cương cũng dặm "Em hỏi thật anh nhé, anh nghiêm túc suy nghĩ đi. Nếu chọn ở lại, sáng mai em chở lên Ottawa, vào Bộ Ngoại giao". Thương Cương quá, chỉ cười "cậu tha cho tớ về, lâu lâu có tiền mua cho cặp vé cho tớ bay qua nhậu trận chơi, vậy sướng rồi!". Mỗi người một chọn lựa. Thậm chí nhiều khi không thể, và không có quyền lựa chọn. Như Điếu Cày đấy, anh có chịu ký tá gì đâu nhưng vẫn bị tống ra sân bay đẩy đi. Và nhiều trường hợp khác, trước anh. Hoặc như Trần Huỳnh Duy Thức bây giờ. Đi hay ở lại, đều là những chọn lựa khó khăn và đau đớn. Đến Bolsa, tránh điều gì? Điếu Cày đón tôi về "nhà". Một góc phố nhỏ, giữa trung tâm "thủ đô tị nạn" Little Sài Gòn. Cái phòng trọ chỉ đủ kê vỏn vẹn một chiếc giường, cái kệ chén bát và một chiếc bàn viết xộc xệch. Thương anh quá! Điếu Cày hiểu tôi, nên chẳng cần dặn nhiều. Nhưng quá nhiều người lo cho mình. Trăm sự, bởi ai cũng nghĩ Trương Duy Nhất sang tị nạn. Đến lúc biết tôi qua Mỹ chỉ để chơi, no tị nạn, lại càng thương và đâm... sợ cho tôi. Sợ khó khăn khi trở về, nên nhiều người khuyên "Về Bolsa, ông nhớ tránh 3 điều: tránh cờ vàng, không dùng từ "giải phóng", và đừng đụng Việt Tân". Thật tình, ngay từ khi qua Mỹ những lần trước, khi vẫn còn mang cái thẻ nhà báo quốc doanh, tôi đã về ngủ với... cờ vàng. Ơ. Họ cũng là người Việt. Đỏ - vàng chi cũng Việt. Sao phải tránh? Sử là vậy. Thắng thua hay vàng đỏ chi vẫn là lịch sử. Và như thế mới là sử. Vì thế, tôi đếch ngại điều này. Mỗi người một chọn lựa. Và tôi tôn trọng họ. Muốn người ta tôn trọng mình thì mình cũng phải biết tôn trọng họ. Với tôi, đỏ vàng - vàng đỏ chi cũng là sử Việt. Rồi cũng phải đến lúc nhìn lại một cách công tâm về từng thời giá trị của tất cả các loại cờ quạt, cho dù vàng hay đỏ. Dù sao, đó cũng là một thể chế thực tồn tại mấy chục năm trên nước Việt. Là thực tế một thời của nửa phần nước Việt đấy thôi! Còn chữ "giải phóng", có lẽ nhiều người đụng, riêng tôi khó. Hôm ở DC, nhiều người đã ngạc nhiên khi thấy tôi viết câu này, sau cuộc gặp với ngài Dan Southerland, Phó tổng giám đốc chương trình Đài Á châu tự do (RFA): "... Ông là cựu phóng viên chiến trường Việt Nam. Một trong nhóm ký giả ngoại quốc cuối cùng còn ở lại, chứng kiến sự kiện Sài Gòn 30/4/1975". Tôi không dùng chữ "giải phóng", cũng không dùng cách gọi "giờ phút cuối cùng của chính quyền Sài Gòn". Tôi viết, đó là "sự kiện Sài Gòn 30/4/1975". Bởi thắng thua gì, đỏ vàng chi cũng là lịch sử. Đó là sự kiện lịch sử chung của cả hai phía, của người Việt. Lịch sử, đâu phải riêng của phe nào. Với Việt Tân. Thật tình suốt 36 ngày ở Mỹ, không thấy một "đồng chí" Việt Tân nào chào hỏi, mời hẹn gì. Tiếc là không thấy, nếu có cớ sao lại phải chối từ? Ai ngại, với tôi không! Cứ cho là họ khác ta, thậm chí chống ta, sao không một lần ngồi xuống cùng họ, nghe họ nói gì, họ nghĩ sao? Sinh thời, ông Thanh (Nguyễn Bá Thanh, Trưởng Ban Nội chính trung ương, Bí thư Thành uỷ Đà Nẵng - có lần thổ lộ với tôi rằng: Mình mà có quyền, sẽ mời hết tất tật các tổ nhóm chống đối, phản động chi đó ở hải ngoại. Chừng mươi hoặc vài mươi nhóm chứ mấy. Mời hết về, ngồi... nhậu với nhau đàng hoàng, nghe xem họ phản đối cái gì, chống cái chi? Làm được chứ, tại sao không? Cũng như cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt: Có hàng trăm con đường yêu nước khác nhau. Tổ quốc Việt Nam đâu phải của riêng đảng Cộng sản, hay một phe phái, tôn giáo nào... Vậy thì hà cớ gì cứ Việt Cộng - Việt Tân gây thù chuốc oán? Đúng ra, tôi suýt gặp Việt Tân một lần. Hôm ở DC, lên xe chạy một đoạn rồi mới nghe cô lái xe bảo "anh Lý Thái Hùng, Tổng Bí thư Việt Tân điện, nói định chào anh Nhất một tiếng mà anh đi nhanh quá". Thì ra, tôi và Tổng Bí thư Việt Tân suýt gặp nhau. Cũng hơi... tiếc! Cho dù cũng chưa hề gặp, chưa biết Lý Thái Hùng là ai. Thực ra, giữa phố Bolsa ấy, tôi cũng chả biết ai là Việt Tân, ai Việt Cộng? Nghe nói bên ấy, Việt Cộng cũng đầy! Mà biết để làm gì nhỉ? Bởi với tôi, Cộng cũng như Tân. Hơn nửa thế kỷ sống cùng Cộng sản. Bố tôi là Cộng sản. Nhưng tôi có Cộng sản đâu. Không Việt Cộng, cũng chẳng Việt Tân. Vì thế, tôi ngồi được tất. Cộng - Tân gì, nhậu tốt cả. Bolsa, với tôi, là đến với người Việt. Thoải mái vậy thôi, như anh bạn đồng nghiệp của tôi ở nhật báo Người Việt cười vui rằng: Chẳng khác chi ở nhà, đến nỗi hơn bốn chục năm rồi, mình chỉ sài tiếng Anh khi... ra khỏi nước Mỹ! Giản đơn vậy. Và cũng nhẹ nhõm vậy thôi. Chẳng ai dại chi, khoác trên mình cái áo váy đỏ lòm như nhà cậu Hùng Cửu Long kia đòi "hoà hợp hoá giải" giữa phố Bolsa. Có lẽ, sau sự kiện này, ngoài 3 điều tránh như trên, sẽ phải thêm một điều tránh thứ tư nữa: tránh mặc áo (váy) màu đỏ sao vàng tới phố Bolsa. "Ka ka ka" (nhại lời cậu Hùng Cửu Long tưng tửng), nhưng chớ "hoà hợp hoà giải" kiểu ai - nớp - du thế mà ăn đòn khổ thân.