Thứ Bảy, ngày 02 tháng 5 năm 2015

TS Nguyễn Bách Phúc : “BÁO CÁO ĐẦU TƯ DỰ ÁN CẢNG HÀNG KHÔNG QUỐC TẾ LONG THÀNH”: NHỮNG BẤT CẬP VỀ PHÁP LUẬT

Nguồn boxitvn

02/05/2015


TS Nguyễn Bách Phúc

Chủ tịch Hội Tư vấn Khoa học công nghệ & Quản lý TP.HCM HASCON

Viện trưởng Viện Điện – Điện tử - Tin học EEI

Chúng tôi may mắn được Văn phòng Quốc hội và Ủy ban Kinh tế của Quốc hội gửi cho trọn bộ Hồ sơ "Báo cáo đầu tư dự án cảng Hàng không Quốc tế Long Thành" (sau đây gọi tắt là Báo cáo) mà Chính phủ trình trước Quốc hội cuối năm 20014.

Sau khi nghiên cứu thận trọng, chúng tôi nhận ra nhiều bất cập lớn của Báo cáo, và hết sức ngạc nhiên khi thấy văn bản trình Quốc hội mà lại có quá nhiều lỗi nghiêm trọng về pháp luật. Xin được viết thành các bài bình luận.

Bình luận 1: Tên gọi của Báo cáo sai pháp luật

Theo 2 văn bản pháp luật, là Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26/11/2003, tại Điều 3 Khoản 16, và Điều 36 khoản 2, và Nghị định số 12/2009/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình ngày 12   tháng 02  năm 2009, tại Điều 5, thì với công trình Sân bay Long Thành, Chính phủ phải trình Quốc hội Báo cáo với tên chính xác là"Báo cáo đầu tư xây dựng công trình cảng Hàng không Quốc tế Sân bay Long Thành", cũng được gọi là "Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng công trình cảng Hàng không Quốc tế Sân bay Long Thành". Nhưng vừa qua Chính phủ đã trình Quốc hội "Báo cáo đầu tư dự án cảng Hàng không Quốc tế Long Thành", đã sửa cụm từ "xây dựng công trình" thành từ "dự án".

Lỗi này không thể xem là nhỏ, không chỉ thể hiện cung cách làm việc thiếu tôn trọng pháp luật, mà quan trọng hơn, là chứng tỏ tác giả không hiểu rõ văn bản pháp luật, bởi lẽ từ "Dự án", theo Luật xây dựng 2003 và Nghị định 12/2009, lại đồng nghĩa với "Báo cáo nghiên cứu khả thi", là Báo cáo chỉ được thiết lập sau khi Quốc hội ra Nghị quyết về chủ trương đầu tư.

Lưu ý rằng từ đầu năm 2015, khi Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18 tháng 06 năm 2014  có hiệu lực, thì tên gọi của 2 công việc này sẽ chính thức như sau:

-   "Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng công trình" thay cho "Báo cáo đầu tư xây dựng công trình".

- "Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng công trình" thay cho "Dự án đầu tư xây dựng công trình"

Bình luận 2: Nội dung Báo cáo là nửa vời, trái pháp luật

Báo cáo khẳng định quy mô của công trình là 100 triệu hành khách/ năm, sử dụng 5.000 ha đất; phân kỳ đầu tư làm 3 giai đoạn, giai đoạn 1 kết thúc năm 2023 với công suất 25 triệu hành khách năm, giai đoạn 2 kết thúc năm 2030 với công suất 50 triệu hành khách năm, giai đoạn 3 kết thúc năm 2050 với công suất 100 triệu hành khách năm.

Báo cáo trình Quốc hội, là để xin Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư một công trình hoành tráng như thế, vào cỡ lớn nhất thế giới như thế.

Quốc hội khi "bấm nút" phải xem xét nhiều chỉ tiêu, nhưng quan trọng nhất và quyết định nhất, là hiệu quả kinh tế xã hội của toàn công trình.

Tiếc thay Báo cáo lại chỉ tính toán và trình Quốc hội chỉ tiêu này của giai đoạn 1, còn của giai đoạn 2, của giai đoạn 3 và của toàn công trình thì không thấy trình.

Sự lập lờ nửa vời đó là hoàn toàn trái pháp luật, và có thể nói không sai, là cố tình "đánh đố" những người "bấm nút".

Phải chăng chủ đầu tư chỉ mong Quốc hội "bấm nút" cho "giai đoạn 1 của công trình"?

Xin thưa, Luật Xây dựng 2003, Luật Xây dựng 2014 và Nghị quyết 49/2010/QH12 của Quốc hội không có điều nào khoản nào quy định thông qua một phần hoặc một giai đoạn của công trình.

Ngoài ra, chúng tôi cũng hết sức băn khoăn thắc mắc, rằng việc tính toán các chỉ tiêu của công trình vốn không có gì khó khăn đối với các chuyên gia và các Đơn vị tư vấn đầu tư, tại sao ở đây lại không tính?

Bình luận 3: Trình tự thiết lập Báo cáo là trái pháp luật

Theo 4 Văn bản pháp luật: Luật Xây dựng số16/2003/QH 11, Nghị định số 12/2009/NĐ-CP, LUẬT QUY HOẠCH ĐÔ THỊ số 30/2009/QH12 ngày 17/06/2009 và NGHỊ ĐỊNH về lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch đô thị s37/2010/NĐ-CP ngày 07 tháng 4 năm 2010, thì trình tự đầu tư xây dựng công trình Sân bay Long Thành phải như sau:

- Chủ đầu tư thiết lập "Báo cáo đầu tư xây dựng công trình" ("Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng công trình") trong đó chủ yếu là thiết kế sơ bộ về công trình.

- Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư.

- Chủ đầu tư trên cơ sở quy mô của công trình trong "Báo cáo đầu tư xây dựng công trình", thiết lập "Quy hoạch xây dựng chi tiết", là quy hoạch về sử dụng đất, về không gian kiến trúc, cảnh quan, môi trường, sao cho phù hợp với Quy hoạch vùng, Quy hoạch chung. "Quy hoạch xây dựng chi tiết" sau khi được Thủ Tướng duyệt, sẽ là một trong những cơ sở để thiết lập "Dự án đầu tư xây dựng công trình" ("Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng công trình").

- Thủ Tướng Chính phủ giao Bộ Xây dựng thành lập Hội đồng thẩm định, tiến hành thẩm định, trình Thủ Tướng phê duyệt"Quy hoạch xây dựng chi tiết".

Tại sao pháp luật quy định phải thiết lập "Báo cáo đầu tư" trước tiên?

"Báo cáo đầu tư" sơ bộ xác định công trình là gì, quy mô công trình ra sao, lựa chọn kỹ thuật công nghệ và thiết bị nào, dự toán Tổng vốn đầu tư là bao nhiêu, đưa ra những chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, xác định lợi ích kinh tế - xã hội của công trình. Công việc này là công việc của các chuyên gia tư vấn đầu tư, họ phải có chuyên môn sâu sắc và kinh nghiệm dày dạn về chuyên môn hẹp tương ứng với công trình, trong trường hợp này là chuyên môn hẹp về thiết kế sân bay. Những chuyên gia hoặc những đơn vị tư vấn không có chuyên môn về thiết kế sân bay sẽ không làm được Báo cáo đầu tư xây dựng công trình sân bay.

Công việc này có thể gọi chính xác là "Thiết kế sơ bộ". Hiện nay trong Luật Xây dựng 2014 số 50/2014/QH13 ngày 18 tháng 06 năm 2014  đã chính thức sử dụng thuật ngữ này. Điều 3, khoản 40: Thiết kế sơ bộ là thiết kế được lập trong Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, thể hiện những ý tưởng ban đầu về thiết kế xây dựng công trình, lựa chọn sơ bộ về dây chuyền công nghệ, thiết bị làm cơ sở xác định chủ trương đầu tư xây dựng công trình. Điều 53 khoản 4, Điều 78 khoản 1, Điều 134 khoản 1 đều góp phần làm rõ và khẳng định điều này.

Tại sao pháp luật quy định thiết lập "Quy hoạch xây dựng" sau khi lập "Báo cáo đầu tư"?

Quy hoạch xây dựng công trình là quy hoạch về sử dụng đất, về không gian kiến trúc, cảnh quan, môi trường, sao cho phù hợp với Quy hoạch vùng, Quy hoạch chung. Quy hoạch này do các chuyên gia hoặc các đơn vị tư vấn quy hoạch thực hiện. Chuyên môn sâu của họ cho phép họ có thể lập quy hoạch cho mọi loại công trình, như sân bay, bến cảng, khu công nghiệp, khu dân cư, mọi loại nhà máy thuộc mọi lĩnh vực công nghiệp. Khi lập quy hoạch cho công trình, chuyên gia quy hoạch trước tiên phải được cung cấp thiết kế sơ bộ công trình (trong báo cáo đầu tư xây dựng công trình). Nếu không có những thông tin này, thì họ chẳng biết công trình ra sao, chẳng biết quy hoạch cái gì.

Chúng tôi không hiểu các chuyên gia quy hoạch của chủ đầu tư đã căn cứ vào đâu để lập quy hoạch cảng hàng không quốc tế Long Thành, trong khi chưa có thiết kế sơ bộ của Báo cáo đầu tư?

Thực ra khi lập Quy hoạch xây dựng công trình, pháp luật quy định phải có các bước "thiết kế quy hoạch", lập "đồ án quy hoạch". Nhưng những cái đó là những bước đi của chuyên môn quy hoạch, chứ không thể thay thế cho Thiết kế sơ bộ trong Báo cáo đầu tư xây dựng.

Nhưng rất tiếc Chủ đầu tư và tác giả Báo cáo đã không theo trình tự này, cụ thể:

- Trước ngày 21/2/2011 chủ đầu tư đã thiết lập "Quy hoạch cảng hàng không Quốc tế Long Thành" (khi chưa thiết lập"Báo cáo đầu tư xây dựng công trình", khi chưa được Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư).

- Ngày 21/2/2011 Bộ Giao thông Vận tải đã thiết lập "Báo cáo thẩm định Quy hoạch cảng hàng không Quốc tế Long Thành", số 875/BC-BGTVT, là Báo cáo thẩm định của Bộ Giao thông Vận tải chứ không phải của Hội đồng thẩm định do Bộ Xây dựng chủ trì.

- Ngày 24/2/2011, Bộ Giao thông Vận tải đã trình thủ Tướng Chính phủ, tờ trình số 947/TTr-BGTVT, về việc "trình phê duyệt Quy hoạch Cảng hàng không Quốc tế Long Thành".

- Ngày 14/6/2011 Thủ Tướng Chính phủ đã ra "Quyết định phê duyệt Quy hoạch Cảng hàng không Quốc tế Long Thành" số 909/QĐ-TTg.

- Ngày 8/5/2012, trên cơ sở Quyết định phê duyệt này, chủ đầu tư đã Quyết định chọn tư vấn lập "Báo cáo đầu tư", là Công ty tư vấn Cảng hàng không Nhật Bản, Quyết định số 178/QĐ-TCTCHKVN (xem trang 2 của Tóm tắt Báo cáo).

- Ngày 1/10/2014, Chính phủ đã trình Quốc hội "Tờ trình Báo cáo đầu tư dự án đầu tư xây dựng Cảng hàng không Quốc tế Long Thành", số 360/TTr-CP, cơ sở pháp lý của Tờ trình là 16 căn cứ pháp lý, trong đó quan trọng nhất vẫn chỉ là Quyết định phê duyệt Quy hoạch Cảng hàng không Quốc tế Long Thành số 909/QĐ-TTg, ngày 14/6/2011 của Thủ Tướng Chính phủ kể trên.

Sai trái tai hại nhất là ở chỗ: thiết lập "Quy hoạch cảng hàng không Quốc tế Long Thành" trước khi thiết lập "Báo cáo đầu tư xây dựng công trình cảng hàng không Quốc tế Long Thành". Việc này thực chất đã gây ra những hậu quả nặng nề cho Báo cáo và cho công trình nếu được xây dựng mai sau.

Bình luận 4: Hậu quả nặng nề của sai trái

Chủ đầu tư đã căn cứ vào đâu để thiết lập Quy hoạch xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành khi chưa có Báo cáo đầu tư?

Chúng tôi không có trong tay văn bản Quy hoạch này của chủ đầu tư nên không thể trả lời được. Tuy nhiên cũng có thể "đoán mò" như sau:

"Quyết định phê duyệt Quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Long Thành", số 909/QĐ-TTg ngày 14/06/2011 của Thủ Tướng Chính phủ, có 6 điểm căn cứ, trong đó 4 căn cứ liên quan đến luật pháp và 2 căn cứ liên quan đến nội dung Quyết định, đó là:

- Quyết đinh số 21/QĐ-TTg ngày 8 tháng 01 năm 2009 của Thủ Tướng Chính phủ, phê duyệt Quy hoạch phát triển Giao thông vận tải Hàng không giai đoạn đến năm 2020, định hướng đến 2030.

- Quyết định số 703/ QĐ-TTg ngày 20 tháng 7 năm 2005 của Thủ Tướng Chính phủ, phê duyệt Quy hoạch vị trí, quy mô và khu chức năng Cảng hàng không quốc tế Long Thành.

Có thể đoán không nhầm rằng, chủ đầu tư trong khi không có thiết kế sơ bộ của Báo cáo đầu tư, đã sử dụng 2 Quy hoạch đã được phê duyệt trước đó để làm căn cứ cho Quy hoạch thứ 3 hôm nay.

Lưu ý rằng Quy hoạch thứ nhất và thứ hai, dẫu được phê duyệt, nhưng cũng chỉ là Quy hoạch.

Trong khi chưa có Báo cáo đầu tư, chưa có thiết kế sơ bộ, thì như phân tích ở trên, mọi Quy hoạch đều là giả tưởng, không có căn cứ thực. Và từ đó có thể hiểu ra rằng những thông số của công trình trong các Quy hoach đó chẳng qua chỉ có thể là tưởng tượng vô trách nhiệm của những người dựng lên Quy hoạch.

Hậu quả của sai trái này là thế nào? Là những thông số lạ lùng trong Báo cáo đầu tư hiện nay chắc chắn được hình thành từ mấy lần Quy hoạch của những chuyên gia Quy hoạch, những người không biết gì về thiết kế sân bay.

Điều này có thể dễ dàng chứng minh bằng một vài con số sau đây:

- Dự báo công suất sân bay Long Thành 100 triệu hành khách/năm sau năm 2050 là hoàn toàn thiếu cơ sở tính toán khoa học.

- Suất sử dụng đất của sân bay Long Thành là 50 ha/triệu hành khách (5.000 ha/100 triệu hành khách), trong khi các sân bay lớn trên thế giới, suất này chỉ từ 15 đến 25 ha/triệu hành khách, nghĩa là sân bay Long Thành nhiều gấp 2 đến 3,3 lần thế giới.

- Suất sử dụng đất Giai đoạn 1 của sân bay Long Thành là 102 ha/triệu hành khách (2565 ha/25 triệu hành khách), trong khi các sân bay lớn trên thế giới chỉ từ 15 đến 25 ha/triệu hành khách, nghĩa là Giai đoạn 1 sân bay Long Thành nhiều gấp 4 đến 6,6 lần thế giới.

- Suất đầu tư của sân bay Long Thành, giai đoạn 1 là 312 triệu USD/triệu hành khách (7,8 tỉ USD/25 triệu hành khách), trong khi các sân bay lớn trên thế giới thấp hơn nhiều, bình quân chỉ vào khoảng 90 đến 100 triệu USD/triệu hành khách. Ví dụ, sân bay Suvarnabhumi (Thái Lan) khoảng 90 triệu USD/triệu hành khách, sân bay Changi của Singapore (thường xuyên được bình chọn là sân bay tốt nhất thế giới) khoảng 101 triệu USD/triệu hành khách. Như vậy suất đầu tư giai đoạn 1 của sân bay Long Thành lớn hơn mức bình quân thế giới hơn 3,1 lần (312/100 = 3,1 lần).

- Riêng sân bay Quốc tế Hồng Kông, công suất thiết kế 87 triệu hành khách/năm, đầu tư 20 tỉ USD, suất đầu tư 20 tỉ USD/87 triệu hành khách = 230 triệu USD/ triệu hành khách. Lưu ý rằng suất đầu tư của sân bay quốc tế Hông Kông là cao nhất thế giới, bởi chi phí rất lớn cho việc san bằng núi, lắp biển, và làm đường ngầm dưới đáy biển từ thành phố ra hòn đảo sân bay này. Sân bay Long Thành không mất chi phí san núi lắp biển, con đường giao thông thì đã có công trình đường cao tốc Sài Gòn – Dầu Giây chịu chi phí, thế nhưng suất đầu tư của Long Thành vẫn cao hơn sân bay Hồng Kông tới 312/230= 1,35 lần.

Bình luận 5: Trái pháp luật khi tự tiện quy định "phần kết cấu hạ tầng không có khả năng thu hồi vốn đầu tư"

Điều hết sức lạ lùng là những người lập Báo cáo đầu tư đã khẳng định như đinh đóng cột rằng "đầu tư phần kết cấu hạ tầng không có khả năng thu hồi vốn đầu tư" (trang 48).

Xin hỏi, tại sao "phần đầu tư kết cấu hạ tầng" lại "không có khả năng thu hồi vốn đầu tư"? Luật pháp nào của Việt Nam nói như vậy? Nghị quyết nào của Đảng Cộng sản VN nói như vậy? Và ai có quyền quyết định không thu hồi vốn đầu tư?

Đồng vốn đầu tư nhưng không thu hồi có nghĩa là đồng vốn vứt đi, ai có quyền vứt đồng vốn của Nhà nước, của nhân dân, ai có quyền tước đoạt đồng vốn của Nhà nước, của nhân dân?

Lưu ý rằng trên thế giới này chỉ có Việt Nam chúng ta mới có khái niệm "đầu tư phần kết cấu hạ tầng không có khả năng thu hồi vốn đầu tư".

Bình luận 6: Trái pháp luật khi tự tiện quy định "Vốn đầu tư thực hiện sẽ được gắn với các dự án đầu tư cụ thể, theo nguyên tắc Nhà nước chỉ đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư phần kết cấu hạ tầng không có khả năng thu hồi vốn đầu tư"

Xin hỏi, tại sao lại "theo nguyên tắc Nhà nước chỉ đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư phần kết cấu hạ tầng không có khả năng thu hồi vốn đầu tư"? Luật pháp nào của Việt Nam nói như vậy? Nghị quyết nào của Đảng Cộng sản VN nói như vậy? Và ai có quyền quyết định như vậy?

Nhà nước lấy đâu ra tiền để đầu tư phần này? Báo cáo đầu tư xác định đó là tiền Ngân sách và tiền vay ODA. Ai cũng biết tiền ngân sách là tiền thuế của dân, vốn vay ODA cuối cùng cũng lấy tiền thuế của dân để trả nợ, đồng vốn của dân đó tại sao lại đem đầu tư vào thứ "không có khả năng thu hồi"?

Đồng vốn của Nhà nước, của nhân dân đóng góp xây dựng nền tảng cho công trình, thực chất là đóng góp cho giới tư bản tư nhân kinh doanh, họ thì được thu lời, trong khi Nhà nước và nhân dân không những không được thu lời mà còn bị tước đoạt hết đồng vốn đó. Tại sao?

Đó là một hành vi bóc lột, còn tệ hại hơn sự bóc lột tước đoạt của chế độ nô lệ và chế độ phong kiến, sự bóc lột và tước đoạt mà chủ nghĩa tư bản cũng không dám làm.

Bình luận 7: Trái pháp luật khi tự tiện quy định "khuyến khích (các Doanh nghiệp tư nhân trong ngoài nước) đầu tư vào các hạng mục thành phần dịch vụ khai thác, có khả năng thu hồi vốn đầu tư", còn "Nhà nước chỉ đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư phần kết cấu hạ tầng không có khả năng thu hồi vốn đầu tư" (trang 48)

Điều lạ lùng là ở đây chủ đầu tư và tác giả của Báo cáo còn khẳng định rằng các đơn vị tư nhân có quyền kinh doanh lấy lời tại sân bay Long Thành, còn Nhà nước và Nhân dân thì không. Luật pháp nào của Việt Nam nói như vậy? Nghị quyết nào của Đảng Cộng sản VN nói như vậy?  ai có quyền quyết định như vậy?

N.B.P.

Tác giả gửi BVN

Thứ Sáu, ngày 01 tháng 5 năm 2015

Nguyễn Thị Từ Huy : Cho ngày ba mươi tháng tư : nỗi đau và tình yêu

Nguồn RFA

Wed, 04/29/2015 - 14:45 — nguyenthituhuy

Nếu một cộng đồng có một ngày mà trong ngày đó một nửa số người cảm thấy hạnh phúc và một nửa số người cảm thấy đau khổ thì ta nên đứng về nửa nào ?

Những người có hiểu biết và lương tri sẽ chọn đứng về phía nỗi đau.

Tôi chưa bao giờ dám nói gì về ngày ba mươi tháng tư. Bởi vì thực tế quá phức tạp và những gì tôi biết là quá ít ỏi và rất có thể là không chính xác so với sự thật của cuộc chiến, một cuộc chiến mà chỉ tên gọi của nó thôi cũng đã có thể gây ra cả một cuộc chiến khác.

Nhưng hôm nay, tình cờ tôi đọc một tập sách của Václav Havel có tựa đề : « Tình yêu và sự thật cần phải chiến thắng hận thù và dối trá ». Cuốn sách tập hợp một số diễn từ của Havel trong hai năm 1989-1990, trong thời gian ông đứng ra tranh cử và được bầu làm tổng thống của nước Tiệp Khắc, một nước Tiệp Khắc dân chủ ở thời điểm vừa thoát khỏi đêm trường cộng sản chủ nghĩa.

Câu nói trên đây của Havel và tư tưởng của ông khiến tôi có đủ can đảm để muốn viết một vài lời vào dịp này, vào dịp bốn mươi năm kết thúc cuộc nội chiến hay cuộc chiến tranh chống Mỹ giành độc lập hay cuộc chiến tranh giữa hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa. Phân định bản chất của cuộc chiến là công việc khó khăn của những người có chuyên môn về khoa học lịch sử, nó đòi hỏi sử gia phải có cả bản lĩnh khoa học lẫn sự can đảm của người trí thức. Việc phân định ấy không thuộc chuyên môn của tôi và tôi cũng không định làm ở đây. Tôi chỉ muốn nói rằng tôi ý thức được tính chất phức tạp của cuộc chiến.

Độc giả đừng quan tâm tôi sinh ra lớn lên ở đâu hay được dạy dỗ như thế nào. Dù tôi sinh ra và lớn lên ở đâu, dù tôi nhìn lịch sử ra sao, dù tôi đánh giá cuộc chiến như thế nào, thì tôi cũng lựa chọn đứng về phía những người mang nỗi đau đã bốn mươi năm nay chưa được hóa giải. Những nỗi đau cũ vẫn còn nguyên và những nỗi đau mới. Những người mang nỗi đau có thể là người miền Nam, có thể là người miền Trung, cũng có thể là người miền Bắc.

Nhiều người cho rằng, người Mỹ rút khỏi Việt Nam đã bốn mươi năm, nhưng từ đó đến nay cuộc chiến giữa những người Việt với nhau vẫn chưa kết thúc. Những người này không phải là không có lý của họ. Cái lý đó không chỉ được chứng minh bởi hiện tượng di tản vẫn tiếp tục tồn tại cho đến ngày nay, mà còn được chứng minh bởi các vụ bắt bớ những người bất đồng với chính quyền không ngừng tăng lên trong những năm vừa qua.

Vì thế hòa hợp hòa giải được đặt ra như một vấn đề quan trọng đối với dân tộc.

Có những người nghĩ rằng chỉ khi nào chủ nghĩa cộng sản sụp đổ ở Việt Nam lúc đó mới có hòa hợp hòa giải dân tộc. Những người ấy chắc chắn có lý riêng của mình.

Tuy nhiên, liệu ta có thể nghĩ theo một cách khác : chỉ khi nào những người dân hòa hợp hòa giải với nhau, kết hợp lại với nhau để tạo nên sức mạnh chung, thì lúc đó chủ nghĩa cộng sản mới có thể bị sụp đổ ở Việt Nam ?

Tôi là một trong những người nghĩ theo hướng này, và cho rằng tình trạng nghi kỵ, chia rẽ, ly tán hiện nay của người Việt dẫn tới sự suy yếu nội lực của dân tộc, và trở thành điều kiện tốt cho chủ nghĩa cộng sản tiếp tục duy trì và phát triển.

Có những người nghĩ rằng chỉ khi nào chính quyền tiến hành các động thái cần thiết thì mới có thể tiến hành hòa hợp hòa giải dân tộc, và dĩ nhiên họ có lý của họ, đồng thời những gợi ý, những đề xuất mà họ đưa ra đều thuyết phục.

Tuy nhiên, người ta không thể nào tiến hành hòa hợp hòa giải dân tộc một khi còn lấy nỗi đau của người khác làm niềm vui của mình, nhất là khi họ lấy nỗi đau của anh em trong nhà làm niềm tự hào của họ.

Trước niềm vui mà chính quyền đang lộ liễu phô trương (như đã không ngừng phô trương suốt từ bốn mươi năm nay với một sự kiêu ngạo thái quá), chúng ta không thể hy vọng rằng bộ máy chính quyền đương nhiệm có thể thực hiện việc hòa giải hòa hợp dân tộc.

Vì vậy, tôi nghĩ rằng chỉ còn hy vọng vào chính chúng ta, những người dân bình thường, những thường dân trong xã hội, của cả hai miền. Cần hy vọng rằng những thường dân chúng ta có thể vượt lên trên (chứ không phải là xóa đi hay quên đi) vết thương lòng của chính mình, để có thể hiểu nhau và từ đó mà tìm lại niềm tin đối với nhau, để có thể kết hợp lại với nhau mà tạo thành sức mạnh chung.

Làm thế nào để có thể vượt lên vết thương lòng của mỗi chúng ta ? Tôi sẽ nói hai ý, đó chính là hai ý tưởng mà Havel đã đề cập đến : tình yêu và sự thật. Tôi đảo ngược trật tự hai cụm từ này của Havel để nói về vấn đề sự thật trước.

  1. Sự thật :

Có lẽ chúng ta đều đồng ý với Havel rằng chỉ có sự thật mới có thể chiến thắng sự dối trá. Chúng ta cũng biết rằng bộ máy tuyên truyền khổng lồ của chính quyền độc tài, độc đảng chỉ tuyên truyền những gì có lợi cho chính chính quyền và cho đảng, và như thế tất yếu họ phải tạo ra những dối trá, hoặc tránh không đề cập đến những sự thật bất lợi cho họ.

Các sử gia là những người lẽ ra phải giúp dân chúng nhận thức sự thật lịch sử. Nhưng chúng ta đều biết, trong chế độ toàn trị, sử gia (và không riêng gì sử gia) bị sử dụng như một công cụ phục vụ cho bộ máy tuyên truyền. Vì thế chính họ, chứ không phải ai khác, đã biến lịch sử thành những chuyện kể có lợi cho chính quyền và cho đảng.

Vậy thì, câu hỏi đặt ra là: những ai có thể và phải làm gì để có thể trả lại sự thật cho lịch sử ?

Tôi không có câu trả lời cụ thể. Có lẽ nhìn một cách khái quát thì đó là công việc của những người có trách nhiệm và lương tri, nghĩa là những ai cảm thấy bị thôi thúc bởi trách nhiệm và lương tâm thì cần phải lên tiếng.

Ở đây, tôi muốn nói tới một điểm, một khó khăn thì đúng hơn : thế nào là sự thật?

Có lẽ chúng ta ai cũng muốn mình nói lên tiếng nói của sự thật, ai cũng muốn mình là đại diện cho sự thật. Nhưng khó khăn là ở chỗ : chúng ta chỉ có thể xuất phát từ điểm nhìn của riêng mình, trong khi thực tế là : nếu ta xuất phát từ điểm nhìn riêng mình thì người khác cũng sẽ xuất phát từ điểm nhìn riêng của họ. Nghĩa là 90 triệu người sẽ có 90 triệu điểm nhìn khác nhau, tùy thuộc vào nghiệm sinh và hiểu biết của mỗi người. Nghĩa là sự thật của mỗi người chúng ta chỉ là một trong muôn vàn sự thật của muôn người. Điều này cũng có nghĩa : để có thể tiếp cận với sự thật, chúng ta cần phải đặt sự thật của mình trong quy chiếu với sự thật của muôn người. Nếu ta khăng khăng rằng chỉ có sự thật của ta mới là sự thật, thì lúc đó có thể ta sẽ ở rất xa sự thật.

Toàn bộ đoạn văn trên của tôi (mà độc giả có thể cảm thấy nó rất lằng nhằng) nhằm nói lên điều này : chúng ta rất có thể tự đẩy mình vào tình trạng bị giam cầm trong chính cái điều mà ta tin là sự thật. Lúc đó, dù rằng đúng là ta nắm giữ sự thật ta vẫn sẽ đánh mất sự sáng suốt, cùng với việc đánh mất sự sáng suốt, ta đánh mất khả năng kết hợp với người khác, và như thế đánh mất luôn sức mạnh của mình.

Bao giờ ta thừa nhận rằng trên đời này không chỉ có một sự thật duy nhất của một mình ta, trái lại, có rất nhiều sự thật khác nhau, lúc đó ta mới có thể tìm cách để nhìn sự thật như nó vốn tồn tại, trong toàn bộ tính chất phức tạp và khó nắm bắt của nó.

Bao giờ trong đầu óc của mình, ta chừa chỗ cho những suy nghĩ, cảm xúc, nhận thức của người khác, lúc đó ta mới mong có thể thoát ra khỏi vị thế hạn hẹp của mình để nhìn thực tế từ những góc độ khác, lúc đó ta mới mong có thể giải thoát được chính mình, để ra khỏi không gian riêng của mình và đi đến với người khác, mở rộng trái tim và chìa bàn tay của ta cho họ.

       2. Tình yêu và nỗi đau

Có lẽ chúng ta sẽ đồng ý với Havel rằng chỉ có tình yêu mới chiến thắng được thù hận.

Bao giờ chúng ta suy nghĩ và hành động theo hướng tích cực, không còn bị giam cầm trong thù hận, trong ghét bỏ, nghĩa là không còn bị ràng buộc trong những xúc cảm tiêu cực nữa, thì lúc đó hành động của chúng ta mới có thể có hiệu quả như chúng ta mong muốn.

Bằng thù hận, chúng ta không thể thắng được những kẻ đang nhân danh chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội để « làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân » (cảm ơn nghệ sĩ Kim Chi về cụm từ này). Chúng ta chỉ có thể thắng họ bằng « tình yêu và sự thật » (chữ của Havel), và bằng trí tuệ của chúng ta. Đất nước của chúng ta đang bị tàn phá bởi lòng tham và sự mù quáng của lãnh đạo.

Chúng ta chỉ có thể chống lại lòng tham và sự mù quáng của họ bằng chính tình yêu và sự sáng suốt của chúng ta. Như một nhóm người Hà Nội ít ỏi đang chống lại lòng tham và sự mù quáng của những kẻ tàn phá cây bằng chính tình yêu cây và tình yêu môi trường sống của họ.

Hận thù không giúp chúng ta trở nên sáng suốt, trái lại, hận thù sẽ đẩy chúng ta vào tình trạng mù quáng. Chúng ta có thể nào lấy sự mù quáng để chống lại sự mù quáng ?

Chúng ta chỉ có thể thuyết phục cùng với bằng chứng và lý lẽ, lý lẽ của trí tuệ và lý lẽ của tình yêu.  Hơn nữa, chúng ta cũng không thể giải thoát khỏi nỗi đau của mình, nếu chỉ bằng cách dùng những lời lẽ thô bạo và cay nghiệt. Những lời lẽ ấy có thể giúp giải tỏa cho tâm lý của ta trong chốc lát, trong một giây phút ngắn ngủi khi ta nói ra hoặc viết ra những lời đó. Nhưng khi giây phút đó qua đi, ta sẽ phải tiếp tục đối diện với một thực tế vẫn còn y nguyên trước mắt, thậm chí thực tế ấy ngày càng tồi tệ hơn, ngày càng tuyệt vọng hơn, bởi thực tế ấy được tạo ra từ lòng tham và sự mù quáng của những người đang nắm các vị trí lãnh đạo.

Chúng ta lựa chọn điều gì giữa hai mong muốn : mong muốn giải thoát khỏi nỗi đau đớn của cá nhân mình, và mong muốn toàn bộ đất nước được giải thoát khỏi sự kìm kẹp của chế độ cộng sản, để có thể phát triển một cách lành mạnh, đảm bảo công bằng và nhân quyền cho tất cả mọi người ?

Liệu chúng ta có thể để cho các dân tộc khác nhận thấy vẻ đẹp nhân văn của tình yêu và sự hy sinh trong những nỗ lực bền bỉ, không mệt mỏi của chúng ta nhằm chống lại hệ thống toàn trị ? Liệu chúng ta có thể để lại cho nhân loại những kinh nghiệm quý giá riêng của dân tộc chúng ta, những kinh nghiệm nhân bản dù chúng ta phải trả giá đắt, trong nỗ lực bảo vệ quyền con người và bảo vệ các giá trị người phổ quát ?

Liệu sẽ có một ngày chúng ta có thể nói về chính chúng ta như Václav Havel từng nói về dân tộc Tiệp Khắc: « Khắp nơi trên thế giới, người ta ngạc nhiên tự hỏi ở đâu ra cái sức mạnh to lớn của các công dân Tiệp Khắc, những người vốn cho tới lúc này vẫn phục tùng, chịu tủi nhục, hoài nghi và tưởng chừng như chẳng còn tin gì nữa, nhưng trong vài tuần lễ, một cách chính trực và hòa bình họ đã thành công trong việc tự giải thoát khỏi hệ thống toàn trị. » (L'amour et la vérité doivent triompher de la haine et du mensonge, Václav Havel, Editions de l'Aube, tr.28)

Nếu ngày 30/4 còn có thể cho chúng ta một hy vọng, thì tôi sẽ nói : chúng ta có thể làm được điều đó nếu mỗi người chúng ta có thể vượt lên trên nỗi đau riêng của mình.

Tôi nói điều này trong khi hoàn toàn ý thức được rằng nỗi đau của mỗi người cần được tôn trọng, cần được hiểu và cần được chia sẻ. Và tôi cũng hiểu rằng khi chúng ta vượt khỏi nỗi đau của mình để nhìn thấy nỗi đau của người khác thì lúc đó nỗi đau của chúng ta sẽ mang một chiều kích khác.

Chúng ta có nên thử gộp nỗi đau của cả hai miền lại với nhau, biết đâu chúng ta sẽ đỡ đau hơn, và biết đâu chừng ta có thể tin nhau ?

Có thể chính là trong ánh sáng của nỗi đau, chính là trong khi người này nhìn thấy nỗi đau của người kia, mà chúng ta có thể xóa bỏ thù hận, xóa bỏ bức tường dựng lên giữa hai chiến tuyến; cái bức tường vô hình vẫn tồn tại trong lòng mỗi người từ bốn mươi năm nay; cái bức tường khiến chúng ta người này không thể tin ở người kia, khiến chúng ta nghi kỵ và chia rẽ; cái bức tường khiến cho cờ đỏ và cờ vàng thành ra những vật trở ngại, ngăn cản chúng ta xích lại gần nhau, ngăn cản chúng ta cùng nhìn về tương lai và cùng tạo dựng một tương lai chung.

Những nỗi đau cộng hưởng với nhau có thể tạo thành sức mạnh, và đến lượt nó, sức mạnh này có thể hóa giải nỗi đau, và có thể biến nỗi đau thành tình yêu…

Paris, 29/4/2015

Nguyễn Thị Từ Huy

Thứ Năm, ngày 30 tháng 4 năm 2015

NGÀY SUY NGẪM CỦA DÂN TỘC

Nguồn viet-studies

 

- Thay vì "Ngày toàn thắng", "Ngày thống nhất", "Ngày quốc hận"... ngày 30 tháng 4 năm 1975 từ nay nên được coi là "Ngày suy ngẫm" của dân tộc.

Chris Tran.

 

Hà Nội, Chủ nhật, 26 tháng 4 năm 2015.

 

Ký ức về cuộc chiến

Tôi sinh ra trong một gia đình cha mẹ là những đảng viên cộng sản tập kết ra miền Bắc vào năm 1954. Những người như cha mẹ tôi là thiểu số trong đại gia đình hai bên. Đa số họ ở lại miền Nam. Và rồi Tổng tuyển cử không diễn ra như dự kiến do Hiệp định Geneva bị phá vỡ. Đất nước bị chia cắt thành hai miền, Bắc và Nam. Cơ hội thống nhất trong hòa bình đã bị bỏ lỡ.

Tuổi thơ của tôi trải qua toàn bộ thời kỳ chiến tranh mà đối với miền Bắc Việt Nam là hai giai đoạn Mỹ ném bom, lần thứ nhất là từ 1964 đến 1968, và lần thứ 2 là từ tháng 4 năm 1972 đến tháng 12 năm 1972, đánh dấu bằng thất bại của chiến dịch rải thảm B52 của Mỹ, với tuyên bố của Tổng thống Mỹ Nixon "đưa Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá".

Với những cuộc ném bom hủy diệt miền Bắc và đưa một nửa triệu quân đổ vào miền Nam, Mỹ đương nhiên được coi là xâm lượcViệt Nam, và bị cộng đồng quốc tế kịch liệt phản đối, với phong trào chống can thiệp của Mỹ vào Việt Nam diễn ra trên khắp thế giới.

Cha mẹ tôi không kể nhiều cho các con của mình về những người thân ở miền Nam, ngoại trừ một người cậu của tôi, một Việt Cộng ở Quảng Nam bị mù hai mắt vì trúng bom Mỹ, được đưa ra miền Bắc và có thời gian an dưỡng ở Trung Quốc. Sau năm 1975 tôi được biết rằng, tất cả những người khác trong gia đình hai bên cha mẹ tôi đều là những người phục vụ chính quyền Sài Gòn, dân sự hay quân sự.

Thế rồi ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến...

"Đất nước hoàn toàn thống nhất, sạch bóng quân thù, non sông từ nay liền một dải..." - Đó là những gì mọi người luôn được nghe những ngày sau đó trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng. Sau ngày đầu tiên cùng nhà trường đi diễu hành mừng "miền Nam giải phóng" hô khẩu hiệu đến khản giọng, tôi trở lại cuộc sống bình thường với tâm trạng háo hức, tò mò của một thiếu niên về chuyến vào Nam gặp người thân họ hàng mà tôi chưa từng biết.

 

Thống nhất đất nước và hai phía của gia đình

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đánh dấu thời kỳ "Đất nước thống nhất".

Thông tin tuyên truyền từ miền Bắc làm cho người ta phân biệt "nhân dân miền Nam" - những người được xem là sống dưới ách kìm kẹp của chế độ Sài Gòn, với "ngụy quân và ngụy quyền" - những người phục vụ trong bộ máy nhà nước và quân đội của chính quyền Sài Gòn, "tay sai" của đế quốc Mỹ.

Thông tin tuyên truyền từ miền Nam làm cho người ta khiếp sợ về một cuộc trả thù "tắm máu" của cộng sản, về chế độ "cộng vợ, cộng chồng"... nếu miền Bắc chiến thắng.

Bất chấp tuyên truyền từ hai phía làm cho người ta dễ dàng có những dự cảm tiêu cực về người thân trong một gia đình từ hai miền Nam và Bắc, các cuộc đoàn tụ với người thân cả hai bên nội ngoại của gia đình tôi đều chan chứa tình cảm ruột thịt.

Khi đó, tôi không thấy sự thấp kém của những người thân được coi là "ngụy quân, ngụy quyền" như tuyên truyền, và tôi tin những người thân của gia đình tôi cũng không coi chúng tôi, những người từ miền Bắc vào là "cộng sản man rợ". Tình yêu thương gia đình trong dòng họ tràn ngập trong chúng tôi. Không những thế, tôi còn chứng kiến sự ngưỡng mộ của những người thân từ miền Nam đối với cha mẹ tôi là những người thành đạt và có địa vị xã hội nhất định trong chính quyền miền Bắc Việt Nam, cũng như thấy cha mẹ tôi ngưỡng mộ những người thân thành đạt trong chính quyền miền Nam Việt Nam, từ sĩ quan quân đội đến nghị sĩ quốc hội.

Và tôi cũng thấy điều hoàn toàn tương tự ở những gia đình có người thân từ cả hai miền Bắc, Nam. Tuy nhiên, không ai biểu thị tình cảm đó một cách công khai, mà chỉ trong gia đình, với người thân mà thôi.

Sau này trưởng thành, xây dựng gia đình, tôi lại được chứng kiến mạnh mẽ một lần nữa bức tranh đó ở gia đình của vợ tôi, một gia đình có nhiều người thành đạt và có địa vị xã hội ở cả hai chính quyền miền Bắc và miền Nam.

 

Cải tạo, phân biệt đối xử

Đó là trong gia đình, còn ở bình diện xã hội, mọi điều diễn ra rất khác. Có rất nhiều người thân của gia đình tôi thuộc "ngụy quân, ngụy quyền" phải trải qua những năm cải tạo khắc nghiệt, từ vài năm đến hàng chục năm.

Sau những cuộc cải tạo đó, không một ai cải tạo cả.

Cậu tôi, một trung tá tâm lý chiến của quân đội Sài Gòn khi chiến tranh chấm dứt, có nói với tôi sau khi đi trại cải tạo về: "Cải tạo gì? Chính họ được cậu cải tạo họ vì họ có biết gì đâu". Nếu biết nội dung của những cuộc cải tạo đó là gì, chắc ngày nay người ta đều đồng ý với cậu tôi.

Rất nhiều người, sau những cuộc cải tạo đó đã lựa chọn định cư ở Mỹ.

Một người anh họ của tôi, chỉ là một giáo viên dạy tiếng Anh giỏi, cũng bị sa thải, phải kiếm sống bằng nghề xe đạp ôm và không bao giờ trở lại sự nghiệp của mình nữa.

Con cái của những người thuộc chế độ Sài Gòn còn không được học hành như các bạn cùng trang lứa, như không thể vào trường đại học, không được du học... Khi tương lai mờ mịt, họ phải tìm đường di cư ra nước ngoài.

Trong hàng triệu người bỏ nước sau 1975, cho đến những năm 1990 có những người thân của tôi. Có người phải "vượt biên" tới bảy lần, vô cùng tốn kém và nguy hiểm, mới có thể định cư ở nước ngoài. Có trường hợp nhiều gia đình người thân của tôi tổ chức cùng vượt biên, và may mắn thành công. Sau này tôi mới được nghe về thảm họa "thuyền nhân" với hàng chục ngàn người Việt Nam mất mạng dưới biển hay vào tay cướp biển.

May mắn thay, thế giới đã dang tay đón nhận họ khi họ bị từ chối ở chính quê hương mình. Chỉ mới năm 2013, tôi mới được biết đất nước Israel nhỏ bé cũng từng đón nhận hàng trăm thuyền nhân từ Việt Nam, điều mà nhiều người Việt Nam không hay biết.

Tôi vẫn còn thắc mắc, vì sao một thảm họa nhân đạo quy mô toàn cầu như vậy lại không được ghi lại ở bất kỳ đâu trên thế giới, như những khu tưởng niệm về diệt chủng người Do thái của chủ nghĩa phát-xít tại nhiều nơi trên thế giới, để không bao giờ nó được lặp lại?

 

Ngày chiến thắng, ngày quốc hận và chia rẽ

Những ngôn từ cao sang nhất đã được giành cho chiến thắng vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, với đỉnh cao là "Chiến thắng vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc" mà số người Việt Nam đồng ý hay không đồng ý có lẽ đều là hàng triệu.

Ở phía khác... Mãi đến năm 2000, kỷ niệm 25 năm ngày chiến tranh kết thúc, tôi mới được biết và chứng kiến lễ kỷ niệm "Ngày quốc hận" tại Washington DC. Và số người Việt Nam đồng ý hay không đồng ý về tên gọi của ngày này có lẽ cũng là hàng triệu. Tôi cảm thấy có lỗi khi biết về ngày này quá muộn để có thể chia sẻ về đau thương và mất mát của hàng triệu người Việt xa xứ, trong đó có những người thân của tôi, và hàng triệu người đã phải trải qua cơn ác mộng về cải tạo, về phân biệt đối xử, và trên tất cả, về thảm họa thuyền nhân.

Trong ngày lễ kỷ niệm đó, đi dọc theo Washington Mall, trong vô số biểu ngữ, tôi thấy có "Ở đâu có cộng sản, ở đó có chia rẽ". Tôi dịch cho anh bạn Mỹ đi cùng, người đã từng phục vụ trong thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam. Anh ta nói: "Người Việt Nam các anh, ở đâu cũng chia rẽ". Với hiểu biết của mình ở phía khác, miền Bắc, tôi không có gì khác hơn là đồng ý với anh bạn Mỹ đó.

Và tôi lại nhớ đến câu nói của người cậu trung tá tâm lý chiến: "Không có một dân tộc nào nói về đoàn kết nhiều, mà lại chia rẽ như dân tộc Việt Nam".

Ông cũng là người nói với tôi sau khi đi cải tạo về, những năm 1980: "Đừng tưởng thắng nhau là vinh quang. Việt Nam chỉ là con bài trong ván bài của các nước lớn, là Mỹ, là Liên Xô, là Trung Quốc".

Đó là điều chua xót, đáng suy ngẫm của người Việt Nam về sự chia rẽ bị lợi dụng của mình.

 

Bắc hay Nam, bên này hay bên kia

Người ta có thể phân chia người Việt Nam một cách đơn giản là người Bắc và người Nam, cộng sản hay không cộng sản, thắng cuộc hay thua cuộc. Sự phân chia phiến diện từ tiềm thức này là cơ sở của sự chia rẽ người Việt Nam.

Tôi sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, yêu quý thành phố tươi đẹp này, nhất là những năm tháng của tuổi thơ khi nó còn là đẹp nhất - Tôi là một "người Bắc". Quê nội ngoại của tôi ở Quảng Nam, dù chỉ về thăm vài lần trong đời, nhưng cảm thấy thân thương, ruột thịt - Tôi là một "người Nam". Cha mẹ tôi là đảng viên cộng sản. Mẹ tôi là một đảng viên mẫu mực với nhiều thành tích đóng góp cho xã hội, cha tôi là một đảng viên, mà theo lời ông, "chạy sang phía Việt Minh, vào đảng cộng sản vì sợ bị thủ tiêu" (cha tôi từng là một đảng viên của Quốc dân đảng) - Gia đình tôi là cộng sản. Tôi từng có nhiều năm phấn đấu, nhưng rồi từ bỏ và không bao giờ là đảng viên cộng sản - Tôi vừa là cộng sản, vừa không phải là cộng sản. Tôi thuộc "bên thắng cuộc", vào Nam với tâm trạng vui mừng khấp khởi và tò mò xem "bên thua cuộc" ra sao, rồi cảm thấy mình chính là "bên thua cuộc" khi chua xót thấy những người anh em họ hàng mình mất mát to lớn như thế nào khi thuộc về "bên thua cuộc".

Tôi cảm thấy mình ở khắp nơi, Bắc, Nam, cộng sản, không cộng sản, bên thắng cuộc, bên thua cuộc, được hưởng những điều tốt đẹp mà nhà nước ban cho, nhưng cũng bị tước những quyền cơ bản hiến định.

Có hàng triệu người Việt như tôi, cảm nhận thấy mình thuộc cả hai bên của ranh giới hiềm khích và hận thù?

Và, hơn tất cả sự phân biệt "bên này, bên kia" đó, trong khi hàng triệu người bị cuốn vào xung đột "ý thức hệ" - cộng sản hay không cộng sản, thì cái cộng sản từng luôn cuốn hàng triệu người, trong đó có những công dân ưu tú, với lý tưởng  độc lập tự do cao đẹp, không biết từ lúc nào đã trở thành công cụ đắc lực cho những kẻ xấu ngày càng đông đảo lợi dụng, trở thành quyền lực vô biên, đang hối hả củng cố vị thế ngự trị của mình với số đông đang sống trong sợ hãi, dốt nát và đói nghèo.

 

Lời kết, về hòa giải và hòa hợp dân tộc

Có lẽ tôi phải viết hàng trăm trang mới nói hết được những ý nghĩ của mình về nước Việt Nam và người Việt Nam vào giai đoạn lịch sử phức tạp này của dân tộc.

Qua câu chuyện cuộc đời của rất nhiều người mà tôi có dịp được biết đến về cuộc chiến, trước và sau đó, tôi thấy rằng có thể  nhiều triệu trang cần phải được viết về giai đoạn lịch sử này đã chưa được viết, hoặc bởi bị cấm đoán, hoặc bởi người ta đã lãng quên trong lo toan của cuộc sống đời thường...

Với Internet, người ta tiếp nhận được nhiều thông tin hơn, có cơ sở để có nhận thức và phán quyết của riêng mình về lịch sử. Đối với tôi, những nhận thức và phán quyết cá nhân đó có những chuyển biến theo thời gian mà dường như ngày càng gần với thực tại khách quan hơn, làm chính tôi phải ngỡ ngàng.

Ông Võ Văn Kiệt, một lãnh đạo cao cấp của nhà nước thống nhất đã có một phát biểu nổi tiếng  về ngày 30 tháng 4, tuy không được phổ biến rộng rãi: "Ngày có hàng triệu người vui nhưng cũng có hàng triệu người buồn". Đó luôn là nhận thức của ông, từ 30 tháng 4 năm 1975, hay phải chăng chính ông sau này đã nhận được đủ thông tin hơn để thay đổi nhận thức và phán quyết của mình về lịch sử?

Tôi nghĩ, trên thực tế tâm trạng của những người Việt Nam khắp nơi trên thế giới vào ngày này là phức tạp, là sâu sắc hơn là nỗi buồn hay niềm vui.

Phía những người vui... Nếu chỉ là vui, phải chăng đó là những người không có nhiều mất mát trong cuộc chiến để mà suy ngẫm? Có lẽ còn hơn cả niềm vui, họ còn kiêu hãnh về chiến thắng mà mình đóng góp.

Với niềm tin là mình đóng góp xương máu cho nền độc lập, cho thống nhất đất nước, giải phóng dân tộc... làm sao mà người ta không kiêu hãnh?

Phía những người buồn... Nếu chỉ là buồn, phải chăng đó là những người không có nhiều mất mát trong cuộc chiến để mà suy ngẫm? Có lẽ còn hơn cả nỗi buồn, họ còn có mối hận thù vì bị đối xử tàn tệ, bị cướp đi cơ hội có một cuộc sống bình thường.

Bị đầy đọa, bị mất người thân yêu, người ta khó có thể vượt qua được hận thù?

Ở phía được coi là hận thù, tôi còn thấy sự tiếc nuối về thất bại của một lý tưởng độc lập, tự do khác, bị vùi dập và quên lãng...

Đất nước Việt Nam đã thống nhất 40 năm, nhưng dân tộc vẫn còn chia rẽ trong những con sóng ngầm. Hòa giải và hòa hợp dân tộc dường như còn xa vời, bất chấp tuyên bố của ai về điều ngược lại.

Hòa giải và hòa hợp dân tộc, tiếc thay, chưa bao giờ được đặt ra như một chương trình dài hạn của quốc gia, trong khi nó không thể được phát động từ cộng đồng dân sự trong hoàn cảnh chính trị - xã hội hiện nay của Việt Nam.

Trong khi đó, hòa giải chưa được đưa ra bởi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Các sáng kiến hòa giải từ bên ngoài Việt Nam ở bất kỳ một quốc gia nào, trớ  trêu thay, dường như cũng luôn được coi là hành động thù địch, làm phương hại đến quan hệ của Việt Nam với quốc gia đó.

Ngày 30 tháng 4 đối với tôi ngày càng trở thành một ngày đem đến cảm xúc phức tạp. Cảm xúc về sự yếu thế của một dân tộc tự chia sẽ, tự chấp nhận sống trong lừa dối, tự chấp nhận sống trong vô thức của ngạo mạn hay hận thù, với chính đồng tộc của mình.

Các thế hệ sẽ dần qua đi, để không còn có ai đáng cho ai ngạo nghễ về chiến thắng, không còn có ai đáng cho ai hận thù vì tội ác đã gây ra.

Nước Mỹ đã hòa giải với Việt Nam sau nhiều tội ác điên rồ. Hình ảnh cựu chiến binh Mỹ ôm hôn cựu chiến binh Bắc Việt Nam đã trở thành biểu tượng của sự hòa giải. Họ đang tích cực tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh từ rà phá bom mìn, cứu giúp nạn nhân chiến tranh, xây dựng trường học, bệnh viện... Hai quốc gia Mỹ và Việt Nam đã trở thành những đối tác thân thiết về thương mại, đầu tư, văn hóa, giáo dục. 

Nhưng chúng ta còn chưa thấy được hình ảnh cựu chiến binh miền Nam và miền Bắc ôm hôn nhau, dù đã có nhiều cựu chiến binh Nam Việt Nam định cư ở nước ngoài, theo tôi được biết, đã về nước tham gia làm từ thiện, tham gia xây dựng quê hương, trong lặng lẽ. Điều khác biệt của họ so với các cựu chiến binh Mỹ là, họ hành động với lòng yêu quê hương, đồng bào, chứ không phải từ mặc cảm tội lỗi trong chiến tranh.

Tôi ước mong ngày này trở thành "Ngày suy ngẫm" của dân tộc. Suy ngẫm về chiến thắng, về hận thù, về hòa giải, về khoan dung với đồng tộc của mình, vượt lên trên vô thức và định kiến vốn đã đầy ắp trong mỗi con người, vượt lên trên bất đồng chính kiến.

Suy ngẫm để cùng đối mặt với những sự thật phũ phàng, dù ở bất kỳ "bên" nào, để có được nhận thức và phán quyết tường minh về lịch sử cho mình và cho các thế hệ tương lai.

Suy ngẫm để cùng đưa ra được một chương trình nghị sự, từ ý chí của cộng đồng, chính trị và phi chính trị, về hòa giải và hòa hợp của người Việt Nam trên toàn Thế giới, như một dân tộc thống nhất, vĩ đại.

 

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 28-4-15

Thứ Ba, ngày 28 tháng 4 năm 2015

Các nạn nhân của vụ án chính trị "Trần Huỳnh Duy Thức và đồng bọn" tố cáo cơ quan điều tra sử dụng nhục hình

Nguồn danluan

Dân Luận tổng hợp

DL - Theo tin Dân Luận vừa nhận được, ông Lê Thăng Long, Nguyễn Tiến Trung và Lê Công Định đã gửi đơn tới Tòa Án Nhân Dân Tối Cao vào ngày 9/1/2015 yêu cầu xem xét lại bản án sơ thẩm (ngày 20/1/2010) và phúc thẩm (ngày 11/5/2010) theo trình tự giám đốc thẩm. Lý do yêu cầu kháng nghị giám đốc thẩm là vì thủ tục tố tụng đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật tố tụng hình sự liên quan đến việc điều tra, truy tố và xét xử.


Từ trái qua phải: Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Lê Thăng Long và luật sư Lê Công Định tại phiên tòa sơ thẩm ngày 20/1/2010. Ảnh: Reuteurs/VNA.

Các nạn nhân của vụ án chính trị này, bao gồm Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long và Nguyễn Tiến Trung đã bị Cơ quan an ninh điều tra sử dụng những biện pháp có tính chất nhục hình để bức cung bị nghiêm cấm bởi pháp luật, như:

- Bị gọi lên thẩm vấn liên tục, từ sáng sớm tới tối khuya, khiến tinh thần người bị thẩm vấn mệt mỏi;

- Bị giam trong phòng kín, chỉ có một lỗ nhỏ để thông hơi, vừa thiếu không khí, vừa thiếu nước sạch, khiến người bị giam ngột thở và căng thẳng;

- Bị đe dọa áp dụng mức hình phạt tử hình;

- Bị đe dọa đánh và bêu xấu chuyện riêng tư, và

- Bị gây áp lực về tình trạng gia đình.

Việc xét xử ở cả hai phiên tòa đều chỉ dựa trên hồ sơ do Cơ quan an ninh điều tra lập trong tình trạng sử dụng những biện pháp có tính chất nhục hình nói trên, các luật sư không được phép hỏi các bị cáo cùng một lúc để đối chiếu lời khai và xác minh sự việc, khiến việc điều tra xét hỏi ở phiên tòa phiến diện và không đầy đủ. Tòa chỉ dựa trên các nhận định và kết luận có sẵn trong các bản Kết luận điều tra của Cơ quan an ninh điều tra và Cáo trạng của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao, trong khi đó các nhận định và kết luận này chủ yếu dựa trên suy đoán và áp đặt, nhưng lại suy đoán theo hướng có tội, vi phạm nghiêm trọng pháp luật Việt Nam và nền tảng của tất cả luật hình sự trên thế giới.

Các nạn nhân yêu cầu xem xét lại toàn bộ vụ án, và phải ra quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án sơ thẩm và phúc thẩm cho tới khi có kết quả cuối cùng.

Trước đó, ngày 2/1/2015 ông Trần Văn Huỳnh, phụ thân của Trần Huỳnh Duy Thức cũng đã gửi đơn tới nhiều nơi tố cáo việc Trần Huỳnh Duy Thức bị truy bức và nhục hình trong quá trình điều tra. Được biết ngày 17/10/2014 Ủy ban Tư pháp của Quốc Hội đã chuyển đơn khiếu nại của ông Trần Huỳnh Duy Thức tới Tòa Án Nhân Dân Tối Cao yêu cầu xem xét lại bản án phúc thẩm theo trình tự giám đốc thẩm, với lý do ông đã thông báo với Hội đồng xét xử tại phiên tòa về việc ông bị bức cung và nhục hình trong quá trình điều tra nhưng không được các cấp Tòa xem xét, do đó kết quả ở các phiên tòa này không khách quan, không đúng pháp luật và làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông. Tuy nhiên, cho đến nay đơn kêu oan và yêu cầu giám đốc thẩm của ông Trần Huỳnh Duy Thức vẫn chìm trong im lặng.

Xin nhắc lại vụ án "Trần Huỳnh Duy Thức và đồng bọn" với cáo buộc "lật đổ chính quyền nhân dân" vào năm 2009 đã làm chấn động dư luận trong nước và quốc tế. Việc chính quyền tuyên án nặng nề cho các bị cáo đã bị các quốc gia phương tây như Anh, Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu lên tiếng phản đối. Bộ ngoại giao Anh ra thông cáo và bày tỏ quan ngại: "Không thể cầm tù bất kỳ ai vì người đó bày tỏ quan điểm của mình một cách hòa bình", còn đại diện của Hoa Kỳ ra thông cáo: "Chúng tôi cũng quan ngại về việc tiến hành phiên toà rõ ràng đã thiếu trình tự chuẩn mực, các bản án đã đi ngược lại với Tuyên ngôn Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, việc kết tội này cũng đặt ra những câu hỏi nghiêm trọng đối với cam kết của Việt Nam về nền pháp trị và cải cách". Các tổ chức nhân quyền quốc tế như Tổ chức Ân Xá Quốc Tế cũng bày tỏ quan ngại: "Những người này đáng ra không bao giờ nên bị bắt chứ đừng nói là bị buộc tội và nhận án tù, phiên tòa rõ ràng là sự nhạo báng công lý". Tổ chức Civil Rights Defenders cũng đã nhắc đến trường hợp Trần Huỳnh Duy Thức tại buổi lễ trao giải "Người bảo vệ các quyền dân sự của năm 2015" vào đầu tháng 4 năm 2015.

Đơn yêu cầu giám đốc thẩm của Lê Thăng Long, Nguyễn Tiến Trung và Lê Công Định




Đơn tố cáo của ông Trần Văn Huỳnh


Thư chuyển tiếp của Ủy Ban Tư Pháp của Quốc Hội



RFA. Cuộc đàn áp quy mô Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất sau 30/4

Nguồn RFA

Ỷ Lan, Phóng viên RFA, Paris
2015-04-27

Cuộc đàn áp quy mô Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống NhấtPhần âm thanh Tải xuống âm thanh

4892908803_c9f120b1b7.jpg
Từ trái sang phải: HT Thích Quảng Độ, Nhật Thường, Thích Nhật Ban, Đồng Ngọc, Thích Trí Lực, Thích Không Tánh tại TAND TPHCM tháng 8 năm 1995.
Photo courtesy of lehienduc.blogspot.com

Danh xưng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) ra đời tại Saigon ngày 4 tháng giêng 1964, sau cuộc đấu tranh đòi hỏi bình đẳng tôn giáo và tự do tín ngưỡng năm 63. Vì trước đó, Dụ số 10 của Pháp bó buộc phải hoạt động theo quy chế Hiệp hội.

Kể từ tháng 9 năm 75, cuộc đàn áp Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất bắt đầu theo Chỉ thị số 20 của Đảng do ông Lê Duẩn ký năm 1960, khiến  Phật giáo miền Bắc bị tiêu vong. Nay đem thực hiện tại Miền Nam.

Cuối tháng 9 năm 75, Hoà thượng Thích Huyền Quang nhân danh Viện Hoá Đạo đã có văn thư phản đối Chủ tịch Cách Mạng Lâm thời về việc đập phá các tượng Phật lộ thiên.

Nhiều hiện tượng khác, như bắt treo hình Hồ Chí Minh trên bàn thờ tổ tiên, áp lực chư Tăng hoàn tục, hoặc đưa sang chiến trường Kampuchia, cấm treo cờ Phật giáo trong các chùa viện, cưỡng chiếm các cơ sở văn hoá, giáo dục, từ thiện Phật giáo, như Cô nhi viện Quách Thị Trang, Viện Đại học Vạn Hạnh, v.v…, hàng chục nghìn Tăng Ni, Phật tử bị đưa vào trại Cải tạo.

Trong lịch sử Việt Nam, chưa có thời đại nào mà số lượng Tăng Ni, Phật tử bị cầm tù đông đảo như dưới triều đại Hồ Chí Minh.

Tình trạng đàn áp bức thiết khiến 12 Tăng Ni tự thiêu tập thể ngày 2-11 năm 75 tại Thiền viện Dược Sư, tỉnh Cần Thơ, dưới hàng biểu ngữ "Chết vinh hơn sống nhục". Đại đức Thích Huệ Hiền để lại chúc thư yêu sách chính quyền Cách mạng thực hiện nhân quyền, tự do tôn giáo, chấm dứt đàn áp GHPGVNTN.

Tình trạng đàn áp có chủ trương và chính sách này, không ai lên tiếng rõ hơn Đức cố Đệ Tam Tăng Thống Thích Đôn Hậu. Năm Mậu Thân 68, ngài bị cộng sản bắt đưa lên rừng rồi đưa ra Hà Nội áp lực tuyên truyền cho chế độ, nhằm đánh lừa dư luận quốc tế là Phật giáo ủng hộ Bắc Việt. Thế nhưng, trở về lại miền Nam, ngài từ nhiệm tất cả các chức vụ mà Hà Nội gán cho, lại còn tố cáo đàn áp Phật giáo và thảm sát cố Hoà thượng Thích Thiện Minh. Sau đây là tiếng Ngài qua một băng thu âm, được đăng tải trên tạp chí Quê Mẹ tại Paris :

"Từ khi giải phóng đến nay, Phật giáo đồ chúng tôi bị bao nhiêu khổ đau tan tác. Đi bất cứ đâu, đạo khác thì chúng tôi không biết, chớ về gặp các nhà chùa Phật giáo, cán bộ, bộ đội phát biểu "Hòa bình Độc lập rồi, tu mà làm gì nữa? Tuân thủ thờ Cách mạng hơn là thờ Phật".

"Bắt đầu từ đó, sự vận động, khủng bố không cho họ được làm lễ. Phá hoại tượng Phật lộ thiên ở Gia Lai, Kontum, Ban Mê Thuột, Biện Hồ, Vũng Tàu, Quy Nhơn, Quảng Ngãi… Bộ đội cột giây lên kéo xuống, đập vỡ tan hết.

"Sau đây còn bắt các vị tu sĩ lấy lý do mấy ông Sư đó phản động theo CIA, theo Mỹ, theo Nguỵ. Rồi lần lượt bắt cho đến các vị lãnh đạo trong Viện Hoá Đạo nữa, Thượng toạ Huyền Quang, Thượng toạ Quảng Độ, rồi đến bắt Thượng toạ Thiện Minh nữa, để Thiện Minh chết nữa.

"Thiện Minh không có tội chi hết, thì tại sao chính phủ làm cái việc lạ lùng hết sức. Đi bắt tội người không có tội chi hết là Thiện Minh mà lại dung tha cho người có tội là cơ quan. Tôi thì không biết rõ luật quốc tế lắm. Nhưng tôi đoán chắc rằng, luật quốc tế không cho phép để cho người bị bắt chết trong trại giam. Mà đây Thiện Minh đã chết trong trại giam. Cơ quan nói Thiện Minh chết vì xuất huyết não. Tôi có thể kết luận, Thiện Minh chết không phải vì xuất huyết não, mà vì bàn tay tội ác chính trong cơ quan tạo ra. Là bởi được tin Thiện Minh chết, Viện Hoá Đạo về liền, thấy các ông bỏ trong hòm mà liệm rồi, chỉ chừa cái mặt. Viện Hoá Đạo xin đem về chôn cất, các ông không cho.

"Tại sao vậy ? Đây thấy rõ ràng quá. Rõ ràng như hai với hai là bốn. Là trong người của Thiện Minh đầy cả thương tích. Muốn che đậy thương tích đó, muốn che đậy lấp liếm cái việc làm của mình, bằng cách bỏ trong hòm liệm đi. Bởi vì sợ người ta thấy những cái vết thương mà các ông đã đánh đập.

"Là một công dân, tôi không thể để cho cơ quan làm những việc bất chính như vậy. Tôi xin nhắc lại ba điều yêu cầu:

"Một là yêu cầu chánh phủ trả tự do cho tất cả các tu sĩ bị bắt giam cầm đã lâu mà không can án;

"Thứ hai là đưa cái chết của Thượng toạ Thiện Minh ra ánh sáng, nghĩa là phải đưa người giết Thiện Minh ra ánh sáng. Không nói lôi thôi gì hết. Có người giết;

"Thứ ba phải chấm dứt tình trạng khủng bố các tín đồ ở các địa phương".

Ngày 16-4-1977, Uỷ ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ra Thông báo kêu gọi Phật tử Saigon đấu tranh chống lại GHPGVNTN. Thông báo cho rằng, "trong giới lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất phái Ấn Quang có nhiều người vốn có mưu đồ xấu chống cách mạng, chống Cọng sản" (…) "Số này đã thao túng Giáo hội âm mưu kích động Phật tử chống lại các chính sách của Nhà nước". Thông báo còn hăm doạ ra tay đàn áp.

Hăm doạ biến thành sự thật, bảy vị lãnh đạo Viện Hoá Đạo bị bắt giam. Hoà thượng Huyền Quang, Quảng Độ bị giam 20 tháng, nhờ áp lực quốc tế mới được thả nhưng bị quản chế. Hoà thượng Thích Thiện Minh bị tra tấn đến chết tại Trại thẩm vấn X4, đường Nguyễn Trãi, Saigon, như Hoà thượng Đôn Hậu tố giác.

Suốt 5 năm đàn áp, khủng bố, nhưng không thành công tiêu diệt GHPGVNTN. Năm 1981, nhà cầm quyền Cộng sản chuyển qua chiêu bài mới, gọi là "Thống nhất Phật giáo", thành lập "Hội Phật giáo Việt Nam" tại chùa Quán Sứ, Hà Nội, ngày 4-11để làm công cụ chính trị cho Đảng và Nhà nước. Ép buộc Tăng Ni, Phật tử thuộc GHPGVNTN phải gia nhập.

Ông Xuân Thuỷ, Bí thư Trung ương Đảng kiêm Trưởng ban Dân Vận chỉ thị cho ông Đỗ Trung Hiếu, cán bộ tôn giáo vận, thực hiện cuộc Thống nhất Phật giáo này. Ông giải thích cho ông Hiếu vì sao phải dẹp bỏ GHPGVNTN như sau :

"Quan trọng là Đảng không bao giờ lãnh đạo được Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, mà ngược lại Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trở thành một tổ chức tôn giáo rộng lớn có đông đảo quần chúng, là một tổ chức có áp lực chính trị thường trực với Đảng và chính phủ Việt Nam".

Năm 1994, hối hận việc làm sai lạc của mình, ông cho phát hành tập sách "Thống nhất Phật giáo" nói lên tất cả sự thật và tiết lộ :

thichquangdo11-400.jpg
Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ ban hành Thông điệp Hãy bảo vệ Thăng Long nhân 1000 Năm Thăng Long

"Cuộc thống nhất Phật giáo lần này, bên ngoài do các Hòa thượng gánh vác, nhưng bên trong bàn tay Đảng Cộng sản Việt Nam xuyên suốt quá trình thống nhất để nắm và biến Phật giáo Việt Nam trở thành một tổ chức bù nhìn của Đảng. (…) Nội dung hoạt động là do cúng bái chùa chiền, không có hoạt động gì liên quan tới quần chúng và xã hội. Hội Phật Giáo Việt Nam ở trong Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, tuân thủ luật pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam".

Kể từ đó, GHPGVNTN bị đưa ra ngoài vòng pháp luật, dù Nhà nước không có văn kiện nào chính thức giải thể. Một cuộc đàn áp mới sắp khai trương.

Vài tháng sau Giáo hội Phật giáo nhà nước ra đời tại Hà Nội, ngày 24-2-1982, Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định trục xuất hai Hoà thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ về quản chế tại quê quán Quảng Ngãi và Thái Bình, không qua sự xét xử của toà án. Ngày 7-7 cùng năm, cưỡng chiếm chùa Ấn Quang là trụ sở của GHPGVNTN. Toàn bộ tư liệu, hồ sơ của Viện Hoá Đạo bị đốt sạch trong năm ngày mới hết.

Năm 1991, Đức cố Đệ Tam Tăng Thống Thích Đôn Hậu viên tịch tại chùa Linh Mụ, Huế. Nhà nước muốn lợi dụng tang lễ này tuyên truyền chính trị cho Đảng. Nhưng Di chúc Ngài ngăn cấm không tổ chức rầm rộ, không đọc điếu văn, ca tụng, v.v… Nên 50 Tăng Ni tuyệt thực phản đối tại chùa Linh Mụ. Có vị đòi tự thiêu. Ngài để lại khuôn dấu Giáo hội và trao quyền cho hai Hoà thượng Huyền Quang và Quảng Độ tiếp tục lãnh đạo GHPGVNTN để phục hồi quyền pháp lý cho Giáo hội. Mặc dù bị công an phong toả, cấm đoán, tại lễ tang, Hoà thượng Huyền Quang dõng dạc tuyên bố trước Linh đài quyết tâm thực hiện Di chúc giao phó :

"Pháp lý là cái gì ? Giấy tờ chỉ được viết ra cho một tổ chức tân lập, còn Giáo hội ta đã có mặt trên dải đất này 2000 năm rồi. Đinh, Lê, Lý. Trần đã chấp nhận Phật giáo.

"Pháp lý của Giáo hội là 2000 năm truyền đạo trên dải đất Việt Nam này. Địa vị của Giáo hội là 80% dân chúng và thành thị, nông thôn, hải đảo. Đó là cơ sở vững chắc, rộng rãi muôn năm của Giáo hội.

"Như vậy Pháp lý có thể cho ra và có thể thu lại. Vậy cho nên đừng đặt vấn đề pháp lý của thời đại, mà phải đặt lịch sử truyền đạo và sự chấp nhận của dân chúng Phật tử".

Trước sự bùng dậy của khối Phật giáo đồ sau tang lễ, tài liệu Tuyệt Mật của Bộ Nội vụ viết ngày 18-8-1992 chỉ thị 5 biện pháp đấu tranh chống khối Phật giáo Thống Nhất, đặc biệt là phân hoá cao hàng ngũ giáo sĩ ; "cắt đứt chân tay" với số cực đoan chống đối ; và thâm nhập đặc tình trong Tăng tín đồ Phật giáo.

Vì thực hiện và phổ biến Di chúc Ngài Đôn Hậu, chư Tăng chùa Linh Mụ bị đàn áp dữ dội, đưa tới cuộc biểu tình bốn mươi nghìn Phật tử Huế xuống đường ngày 24-5-1993 đòi hỏi nhân quyền và tự do tôn giáo. Đây là cuộc biểu tình lớn nhất chưa hề có dưới chế độ Cộng sản. Tại Hội nghị "Diễn biến Hoà bình" ở Hải phòng ngày 26.6 cùng năm, Tướng Đặng Vũ Hiệp đánh giá cuộc biểu tình của Phật tử Huế có "nguy cơ mất nước".

Sự kiện hi hữu xẩy ra là ngày 2-4-2003, Thủ tướng Phan Văn Khải tiếp Hoà thượng Thích Huyền Quang, nhân dịp ngài ra Hà Nội giải phẫu khối u ở mặt. Một thủ tướng tiếp một tù nhân ! Thủ tướng xin Hòa thượng hỉ xả cho chuyện đã qua, vì cán bộ cấp địa phương làm sai. Nhiều nhà quan sát tưởng rằng vấn đề Phật giáo được lắng yên.

Thế nhưng, sau Đại hội Phật giáo kỳ VIII do Hoà thượng Huyền Quang triệu tập tại Tu viện Nguyên Thiều, tỉnh Bình Định, ngày 1-10-2003, để bổ sung nhân sự vào hai Viện Tăng Thống và Viện Hoá Đạo, thì chuyến xe chở 10 vị giáo phẩm về lại Saigon bị chận bắt tại Lương Sơn hôm 8-10, trong số có hai ngài Huyền Quang và Quảng Độ. Tất cả đều bị bắt đi "làm việc" và ra khẩu lệnh quản chế.

Từ đó đến nay Giáo hội luôn bị đàn áp, sách nhiễu thường trực. Mọi hoạt động của 20 Ban Đại diện Giáo hội tại các tỉnh thành đều bị ngăn cấm. Chùa Giác Minh của Hoà thượng Thanh Quang ở Đà Nẵng bị phong toả thường trực, các Đại lễ Phật Đản, Vu Lan hay Tết bị ngăn cấm tổ chức.

Thế nhưng Giáo hội không ngừng lên tiếng cho những vấn nạn xã hội hay đất nước. Từ nơi quản chế Quảng Ngãi, ngày 20-11-1993, Hoà thượng Thích Huyền Quang ra Tuyên cáo Giải trừ Quốc nạn và Pháp nạn, yêu sách bỏ điều 4 trên Hiến Pháp và bầu cử lại Quốc hội dưới sự giám sát của LHQ với sự tham gia của tất cả các đảng phái quốc gia.

Đầu năm 1994, Hoà thượng Thích Quảng Độ bị bắt khi dẫn phái đoàn Viện Hoá Đạo đi cứu trợ nạn bão lụt khủng khiếp ở đồng bằng sông Cửu Long. Bị kết án 5 năm tù, giam tại nhà tù Ba Sao. Được ân xá năm 1998, nhưng vẫn còn quản chế tại Thanh Minh Thiền Viện, Saigon. Ngài tuyên bố : "Tôi đi từ nhà tù nhỏ vào nhà tù lớn".

Năm 2001 ngài công bố "Lời kêu gọi cho Dân chủ" với giải pháp 8 điểm thực hiện, mà ngài xem như giải pháp duy nhất cứu nguy dân tộc.

Ngày 17-5-2007, Hoà thượng Quảng Độ đến uỷ lạo và tiếp tế thực phẩm thuốc men cho Dân oan khiếu kiện trước tiền đình Quốc hội II ở Saigon. Việc làm bị báo chí truyền thông nhà nước tố cáo, hăm doạ trong vòng 3 tháng. Ngài cũng nhiều lần lên tiếng tố cáo về việc Trung quốc xâm lấn lãnh thổ và biển đảo, nạn bô xít Tây nguyên nơi Trung quốc nắm yết hầu quân sự, chiếm đóng Hoàng Sa Trường Sa, cho đến gần đây, năm 2014, biến cố giàn khoan Hải dương 981.

Nhiều vị Đại sứ các nước như Hoa Kỳ, Na Uy, Đức, Anh, Pháp… vẫn thường  xuyên đến vấn an, trao đổi với Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ. Liên tiếp nhiều năm, ngài được đề cử ứng viên Giải Nobel Hoà bình. Năm 2003, ngài và ngài Huyền Quang được trao Giải Nhân quyền của Tiệp dưới sự chủ trì của cựu Tổng thống Vaclav Havel, năm 2006 ngài được Giải Nhân quyền Quốc tế Rafto của Vương quốc Na Uy.

Nhờ sự lưu tâm quốc tế này mà ngài và hàng giáo phẩm Giáo hội không bị khủng bố, bắt giam tuỳ tiện như những năm sau 30 tháng Tư 75.

Ngài xác nhận lập trường Giáo hội suốt 40 năm qua không hề thay đổi như sau:

"Chừng nào mà chế độ Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam còn, thì Giáo hội không được sinh hoạt bình thường đâu.

"Họ dùng đủ cách để mà xoá sổ, xoá sạch cái danh nghĩa của Giao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trên đất nước Việt Nam. Mà chưa hết đâu, còn nhiều. Vì thế cho nên cứ sẵn sàng chuẩn bị tinh thần để đón nhận, để đương đầu.

"Cho nên trước khi tiễn đưa Đức Tăng Thống đến nơi an nghỉ cuối cùng, thì chúng tôi đã nói rồi : Chúng tôi sẽ tiếp tục con đường đi của Ngài.

"Còn rất nhiều khó khăn, còn rất nhiều chông gai, nhưng sẵn sàng vượt qua. Còn hơi thở thì vẫn cứ tiếp tục. Đó là cái chí nguyện của Giáo hội".

Nguyễn Hưng Quốc : Chiến tranh Việt Nam có thực sự cần thiết?

Nguồn VOA


28.04.2015

 

Liên quan đến biến cố 30 tháng Tư 1975, có một câu nói của một quan sát viên quốc tế mà tôi rất tâm đắc: "Không có ai chiến thắng cả. Tất cả đều là nạn nhân" (There were no winners, only victims).


Nhưng tại sao lại không có người chiến thắng?


Trước hết, không còn hoài nghi gì nữa, người miền Nam chắc chắn là những người thua cuộc và từ đó, là những nạn nhân không những của chiến tranh mà còn của hoà bình với hàng trăm ngàn người bị bắt đi cải tạo, hàng triệu người liều mạng vượt biển để tìm tự do và hầu như tất cả đều sống trong cảnh vừa lầm than vừa bị áp bức.      

                                                                     

Mỹ cũng không phải là những kẻ chiến thắng. Nói cho đúng, họ thắng trong cuộc chiến tranh lạnh với khối xã hội chủ nghĩa bằng việc phân hoá Trung Quốc và Liên Xô đồng thời bằng cách vô hiệu hoá hiệu ứng liên hoàn, gắn liền với thuyết domino vốn là nguyên nhân chính khiến họ tham dự vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Về phương diện quân sự, họ không thắng không bại: họ đã rút quân ra khỏi Việt Nam mấy năm trước khi cuộc chiến tranh chấm dứt. Tuy nhiên, về phương diện chính trị, họ đã thất bại trong nỗ lực bảo vệ một đồng minh là chế độ Việt Nam Cộng Hoà ở miền Nam. Sau đó, về phương diện tâm lý, họ là những nạn nhân với hội chứng Việt Nam, một ám ảnh đầy day dứt trong lương tâm của những người từng tham chiến. Đó là chưa kể hơn 58.000 người lính bỏ mình tại Việt Nam cũng như hàng mấy trăm ngàn người bị thương tật trở thành một gánh nặng trong xã hội Mỹ.


Thế còn miền Bắc?


Đương nhiên họ là những người thắng cuộc. Thắng về quân sự: đánh bại được quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Thắng về chính trị: thống nhất được đất nước sau 20 năm chia cắt. Tuy nhiên, bên cạnh những chiến thắng ấy, họ cũng gánh chịu không ít thất bại. Những thất bại ấy làm cho chiến thắng của họ trở thành một tai hoạ cho mọi người.


Trước hết, như là hệ quả của việc chà đạp lên hiệp định Paris, xua quân cưỡng chiếm miền Nam, Việt Nam phải gánh chịu sự cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Trừ Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa, họ không có một người bạn nào cả. Ngay cả với một nước đồng minh thân cận từng giúp đỡ họ cả mấy chục năm, Trung Quốc, cũng biến thành kẻ thù với hậu quả là, ngay sau chiến tranh Nam -Bắc chấm dứt, Việt Nam phải chịu đựng thêm hai cuộc chiến tranh mới: chiến tranh với Campuchia và chiến tranh với Trung Quốc.


Hệ quả của tất cả những điều vừa nêu là, về phương diện kinh tế, Việt Nam hoàn toàn kiệt quệ. Lạm phát tăng nhanh; nạn đói lúc nào cũng lởn vởn trước mắt mọi người. Trong nhiều năm, ngay cả lúa gạo, nguồn thực phẩm chính và cũng là điểm mạnh của miền Nam, cũng bị thiếu hụt nghiêm trọng. Dân chúng phải thường xuyên ăn độn hoặc ăn bo bo để thế cơm. Việt Nam trở thành một trong những quốc gia nghèo khó và chậm phát triển nhất thế giới.


Về phương diện xã hội, hầu như mọi người đều bị lâm vào cảnh khốn cùng. Mâu thuẫn giữa hai miền Nam và Bắc càng lúc càng sâu sắc. Sự thống nhất chỉ có trên phương diện chính trị và hành chính, nhưng về tâm lý, nhìn nhau, dân chúng giữa hai miền vẫn đầy những nghi kỵ và đố kỵ.

Về phương diện chính trị, dân chúng không còn chút tự do nào cả. Tự do tư tưởng: Không. Tự do ngôn luận: Không. Tự do cư trú và tự do đi lại: Không. Tất cả các quyền tự do căn bản của dân chủ, từ tự do hội họp đến tự do thành lập và tham gia vào đảng phái đều bị tước sạch.


Có thể nói, trong hơn mười năm, từ 1975 đến 1985, khi phong trào đổi mới xuất hiện, ở Việt Nam, dân chúng trong cả nước đều chia sẻ nỗi bất hạnh chung xuất phát từ việc miền Bắc thắng miền Nam. Không có gì quá đáng nếu chúng ta nói, trừ giới lãnh đạo cộng sản, tất cả mọi người đều là nạn nhân của biến cố 30 tháng Tư 1975. Không phải chỉ những người bị bắt đi học tập cải tạo hoặc bị lùa đi kinh tế mới mới là nạn nhân: Tất cả mọi người đều là nạn nhân. Không phải chỉ những người bị bỏ mình trên biển mới là nạn nhân, ngay cả những người may mắn vượt thoát và được định cư ở nước ngoài cũng là nạn nhân: họ phải xa lìa tổ quốc để sống tha hương, không lúc nào nguôi nỗi khắc khoải trông ngóng về đất nước cũ.


Nhưng nếu mọi người đều là nạn nhân, cuộc chiến tranh Nam Bắc vốn kéo dài hai mươi năm có thực sự cần thiết hay không?


Bộ máy tuyên truyền của miền Bắc trước năm 1975 cũng như trong cả nước sau năm 1975 nêu lên ba lý do chính tại sao miền Bắc phát động cuộc chiến tranh ấy: Một, để giải phóng miền Nam; hai, để phát triển chủ nghĩa xã hội sang nửa phần lãnh thổ còn chịu khổ nạn dưới ách "áp bức" của Mỹ và "nguỵ"; và ba, để đánh bại sự "xâm lược" của "đế quốc" Mỹ.


Xin nói về nguyên nhân thứ ba trước. Đó chỉ là một nguỵ biện. Việc Mỹ đổ cả nửa triệu quân vào miền Nam chỉ là để giúp miền Nam chống lại sự xâm lấn của miền Bắc. Như vậy, nó chỉ là hậu quả chứ không phải là nguyên nhân. Nói cách khác, nếu miền Bắc không mưu toan đánh chiếm miền Nam, chả có lý do gì để Mỹ đổ quân vào miền Nam cả.


Về nguyên nhân thứ hai, người ta dễ dàng nhận thấy là hoàn toàn không chính đáng. Sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước cộng sản tại Đông Âu, hầu như ai cũng biết chủ nghĩa xã hội đồng nghĩa với áp bức và nghèo đói. Mở rộng chủ nghĩa xã hội từ miền Bắc sang miền Nam, do đó, thực chất là việc xuất cảng áp bức và nghèo đói. Đó là một tai hoạ.


Chỉ có nguyên nhân thứ nhất là cần phân tích kỹ. Trước hết, không ai có thể phủ nhận sự cần thiết của việc thống nhất đất nước, một di sản của tổ tiên từ ngàn đời trước. Đó là một mệnh lệnh của lịch sử, của đạo lý và của tình cảm. Tuy nhiên, vấn đề là: sự thống nhất ấy có thể được thực hiện bằng cách nào và được trả bằng giá nào? Nó có cần thiết để cả nước phải trải qua hai chục năm chiến tranh tàn khốc với trên ba triệu người bị giết chết? Lịch sử cung cấp hai bài học chính:  Thứ nhất, Đông Đức và Tây Đức đã được thống nhất mà không cần phải trải qua cuộc chiến tranh nào cả. Thứ hai, Nam và Bắc Triều Tiên đến nay vẫn bị chia cắt. Nhưng sự chia cắt ấy được đền bù bằng mức phát triển cực nhanh và cực cao của Nam Triều Tiên. Sự thống nhất không sớm thì muộn, không bằng cách này thì bằng cách khác cũng sẽ xảy ra, nhưng khi nó xảy ra, Đại Hàn cũng đã có một nền tảng kinh tế và chính trị vững chắc là Nam Triều Tiên (như trường hợp của Tây Đức và Đông Đức). Ở đây, sự chia cắt không có gì đáng phàn nàn hay ân hận cả.


Chúng ta tưởng tượng: nếu miền Bắc đừng phát động chiến tranh thì tình hình chính trị Việt Nam hiện nay sẽ ra sao? Thì tất cả những tai hoạ nêu lên ở phần đầu bài viết này sẽ không có. Thì cả hai miền sẽ có hoà bình và nhờ hoà bình, sẽ được phát triển nhanh chóng. Ngay cả khi hai miền Nam và Bắc chưa được thống nhất thì, tuy về phương diện tình cảm, vẫn là một nỗi nhức nhối, nhưng trên mọi phương diện khác, đó lại là một điều may mắn.


Thứ Hai, ngày 27 tháng 4 năm 2015

Nguyễn Thị Từ Huy : Di chúc Hồ Chí Minh - từ bản thứ nhất tới bản thứ hai (I)

Nguồn rfablog
Sun, 04/26/2015 - 18:21 — nguyenthituhuy

Trong bài này tôi tập trung vào hai vấn đề mà Hồ Chí Minh đã cắt bỏ và sửa đổi khi viết bản di chúc thứ hai, vào dịp sinh nhật năm 1968.

Như bài trước đã nói, văn bản cho phép nhận xét rằng di chúc năm 1968 là một di chúc mới, được viết lại hoàn toàn, viết lại từ phần mở đầu, có cấu trúc riêng, lô gic riêng. Đó là một văn bản mới, dùng để thay thế cho văn bản năm 1965, chứ không phải là để bổ sung cho văn bản năm 1965.

Chính trên cơ sở nhận xét này, trên quan niệm rằng đó là hai văn bản khác nhau, bản sau dùng để thay thế bản trước, mà tôi tiến hành các đối chiếu dưới đây. Ở đây tôi chỉ đề cập đến hai điểm, dĩ nhiên còn có những điểm khác.

  1. Cắt bỏ những nội dung liên quan đến Đảng trong di chúc 1968

Bản di chúc đánh máy năm 1965, sau phần mở đầu là phần nói về Đảng, với sự nhấn mạnh của Hồ Chí Minh, bằng cách gạch dưới cụm từ : « Trước hết nói về Đảng ». Phần nói về « việc riêng », tức là việc chôn cất, ông để ở đoạn cuối cùng của di chúc.

Như vậy có thể thấy, vào thời điểm năm 1965, Đảng là mối quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh. Ưu tiên số một trong di chúc dành cho Đảng. Và ông Hồ viết các ý sau đây về Đảng : đầu tiên ông ca ngợi công lao của Đảng, sau đó là một số lời khuyên nhằm xây dựng Đảng vững mạnh trong tư cách là « đảng cầm quyền » : phải đoàn kết, thực hành dân chủ, phê bình và tự phê bình, đảng viên phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, phải trong sạch, và phải là người đầy tớ của nhân dân.

Tiếp đó, sau « Đảng ta » ông nói đến « Đoàn viên thanh niên ta ». Ông căn dặn phải chăm lo bồi dưỡng đoàn viên thanh niên thành thế hệ cách mạng, thành những người « vừa hồng vừa chuyên ». Tiếp theo, ông đề cập đến cuộc « kháng chiến chống Mỹ ». Và trước khi nói về « việc riêng », ông nói đến « Phong trào cộng sản thế giới », ông tin rằng Đảng cộng sản Việt Nam sẽ góp phần khôi phục khối đoàn kết giữa các đảng anh em quốc tế.

Trong bản di chúc viết tay năm 1968, Hồ Chí Minh bỏ hết toàn bộ những nội dung liên quan đến « Đảng ta », « Đoàn thanh niên ta », và « phong trào cộng sản thế giới ». Xin lưu ý độc giả là ông Hồ bỏ hoàn toàn những nội dung này.

Thay vào đó, liên quan đến đảng, là mấy câu ngắn ngủi nhằm nhấn mạnh « việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng ».

 Điều gì khiến Hồ Chí Minh, trong vòng ba năm từ 1965 đến 1968, có những thay đổi quan trọng trong đánh giá về Đảng, khiến ông đi từ chỗ ca ngợi Đảng tới chỗ thấy rằng Đảng phải được chỉnh đốn lại ?

Việc chỉnh đốn Đảng trở thành việc quan trọng nhất, tại sao ? Hoặc phải đặt câu hỏi theo cách khác : vì sao phải chỉnh đốn Đảng ?

Ta cũng nhận thấy rằng, trong bản di chúc thứ nhất, Hồ Chí Minh chỉ nói đến Đảng, không một lời nào về Chính phủ. Trái lại, trong di chúc thứ hai, cụm từ « Đảng và Chính phủ » được lặp lại nhiều lần. Đảng không còn giữ vị thế độc tôn như trong bản di chúc thứ nhất nữa. Phải chăng trong quan niệm của ông về quyền lực chính trị đã có sự thay đổi : Đảng và Chính phủ là hai thực thể phân biệt và có vai trò ngang nhau trong cán cân quyền lực ?

Ông Hồ cũng xóa bỏ hoàn toàn câu « Đảng ta là đảng cầm quyền ». Ông hoàn toàn không kể đến công lao của Đảng, ông chỉ nói những việc Đảng phải làm đối với xã hội và đối với người dân. Như vậy, phải chăng, trong tư tưởng của Hồ Chí Minh năm 1968, đảng cộng sản không còn được hình dung như là đảng cầm quyền tuyệt đối nữa ? Phải chăng, ông nghĩ rằng, việc chia sẻ quyền lực giữa đảng và chính phủ sẽ giúp giảm bớt các tệ nạn trong đảng ? Các tệ nạn mà ông phải nhìn thấy rất rõ, đến mức điều đầu tiên ông nói về đảng trong di chúc lần này là « chỉnh đốn đảng » ?

Một điểm khác cũng hết sức quan trọng : trong văn bản 1968, Hồ Chí Minh không hề nhắc đến « đạo đức cách mạng ». Đạo đức cách mạng là thứ mà ông nhấn mạnh nhiều lần trong di chúc thứ nhất, nhưng lại đã bị ông loại bỏ hoàn toàn khi viết lại bản di chúc lần thứ hai. Phải chăng ông đã nhìn thấy tính chất nguy hiểm của cái gọi là « đạo đức cách mạng » và không muốn biến nó thành sợi dây thòng lọng thắt cổ các thế hệ tương lai ?

Trong khi bỏ đi toàn bộ những nội dung liên quan đến Đảng, Đoàn và phong trào cộng sản thế giới, thì ưu tiên số một của ông Hồ trong bản di chúc thứ hai là : « Đầu tiên là công việc đối với con người ». Chữ « con người » được nhấn mạnh bằng cách gạch dưới, trong bản viết tay của ông. « Con người » là ai ?

Con người, theo những gì mà bản di chúc thứ hai kể đến, đó là : thương binh, liệt sĩ, thân nhân của họ, thanh niên trong các lực lượng vũ trang nhân dân, phụ nữ, cả các thành phần như : « trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu… », và dĩ nhiên không thể thiếu « nhân dân », ông đề nghị miễn thuế nông nghiệp một năm cho dân. Và… tất cả những nội dung liên quan đến « con người » đều bị Bộ Chính trị cắt bỏ hết trong bản « di chúc » mà họ đem ra công bố, đồng thời, xin nhắc lại, họ cho công bố những gì mà Hồ Chí Minh đã tự cắt bỏ.

Ông Hồ của năm 1968 không còn tin rằng « các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại », cũng không còn tham vọng « Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em », không còn mong đào tạo thanh niên « vừa hồng vừa chuyên », như ông đã từng bộc lộ vào năm 1965. Và như trên đã nói, ông Hồ không còn nói chút nào về công lao của Đảng, trái lại ông nhấn mạnh vào việc cần phải chỉnh đốn Đảng. Những thay đổi này của Hồ Chí Minh là do « tình hình trong nước cũng như tình hình thế giới có rất nhiều thay đổi », như ông đã viết.

Chúng ta biết tình hình thế giới : năm 1968 là năm của mùa xuân Praha, năm của sự kiện « Tháng 5 năm 68 » tại Pháp. Năm 1968 cũng là thời điểm mà cách mạng văn hóa đẩy Trung Quốc vào tình trạng hỗn loạn dưới sự tung hoành của hồng vệ binh. Còn tình hình Việt Nam : cuộc tổng tấn công tết Mậu Thân và thảm sát tại Huế. Xin nhắc lại : tôi không phân tích các sự kiện lịch sử. Tôi chỉ liệt kê một số sự kiện quan trọng của lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam ở thời điểm 1968 mà theo tôi có thể có tác động tới sự thay đổi được thể hiện trong di chúc của Hồ Chí Minh.

Một vấn đề khác cũng cần phải quan tâm là : Hồ Chí Minh của năm 1969 nghĩ gì về Đảng ? Ngoài mấy câu mở đầu, ta không còn được biết ông viết gì trong di chúc năm 1969, lúc mà, như ông tự nhận : « tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt ». Ông đã viết gì vào dịp sinh nhật 79 tuổi ? Đã có những thay đổi nào trong suy nghĩ và nguyện vọng của ông ? Những điều cuối cùng mà ông muốn để lại là gì ? Phải chăng chính vì điều đó mà ông đã bị phản bội và bản di chúc chính thức đã biến mất ? Không rõ chúng ta còn cơ hội để có được câu trả lời rõ ràng và thuyết phục không ? Điều này tùy thuộc vào giới sử gia của nước nhà.

Paris, 26/4/2015

Nguyễn Thị Từ Huy