Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2017

Nguyễn Thanh Trang : Những Điều Nên Biết Về Nhân Quyền

Nguồn http://boxitvn.blogspot.com/2017/02/nhung-ieu-nen-biet-ve-nhan-quyen.html

 -- via my feedly newsfeed

Nguyễn Thanh Trang

Lời Tác Giả: Ngày nay do trào lưu dân chủ hóa toàn cầu, lý tưởng Nhân Quyền càng ngày càng được đề cao khắp nơi trên thế giới. Nhưng tại một số quốc gia chưa có Dân Chủ thật sự như Việt Nam, rất ít người am tường tầm quan trọng của Nhân Quyền. Trong khi đó, Chính Phủ thường ngăn cấm và không muốn dân chúng tìm hiểu Nhân Quyền. Đó là lý do tại sao chúng tôi đã biên soạn tài liệu ngắn gọn nầy nhằm góp phần giúp Cộng Đồng người Việt khắp nơi, nhất là đồng bào tại quê nhà hiểu rõ hơn những Nhân Quyền phổ quát và Luật Quốc Tế Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc (LHQ).

Tài liệu nầy tác giả không giữ bản quyền, trái lại chúng tôi nhiệt liệt hoan nghênh mọi cá nhân và tổ chức xã hội dân sự tham gia chiến dịch phổ biến tài liệu nầy đến đồng bào khắp nơi bằng mọi phương tiện truyền thông như báo chí, truyền thanh, emails và Facebooks, v.v.

*

Hỏi: Trước khi tìm hiểu về Nhân Quyền, xin định nghĩa vắn tắt Nhân Quyền là gì?

Đáp: Nhân Quyền hay quyền làm người là những quyền phổ quát mà mọi người từ lúc mới sinh ra đã được Tạo Hóa ban cho, không phân biệt màu da, chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay giới tính nam, nữ. Đó là những quyền Tự Do căn bản, như tự do sinh sống và mưu cầu hạnh phúc, tự do đi lại và cư trú, tự do sở hữu tài sản, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do sinh hoạt chính trị và tự do ứng cử, bầu cử. Những quyền đó không do nhà nước hay bất cứ cá nhân, tổ chức nào ban cho.

Vì thế, bất cứ nơi nào Nhân Quyền bị chà đạp, dân chúng phải tự mình đứng lên tranh đấu để đòi lại những Nhân Quyền căn bản của mình.

Hỏi: Nhân Quyền và Dân Quyền khác nhau ở chỗ nào?

Đáp: Nhân Quyền là những quyền làm người căn bản và phổ quát đã được các quốc gia hội viên của LHQ công nhận và đề cao. Trong khi đó, Dân Quyền là những quyền công dân của một nước, được quy định bởi hiến pháp và luật lệ của quốc gia. Vì thế dân quyền của các nước không nhất thiết phải giống nhau.

Hỏi: Xin đơn cử một ví dụ cho thấy sự khác biệt giữa Nhân Quyền và Dân Quyền.

Đáp: Với tư cách công dân, mọi người đã trưởng thành đều có quyền tham gia bầu cử và ứng cử. Nhưng tùy theo luật lệ của mỗi quốc gia, muốn tham gia bầu cử, người dân phải

1

hội đủ một số điều kiện, ví dụ phải từ 18 hay 21 tuổi trở lên, đã cư trú tại địa chỉ hiện tại ít nhất là 3 hay 6 tháng, v.v. Đó là Dân Quyền.

Trái lại, bất cứ ai dù trẻ hay già, nam hay nữ, sinh sống tại bất cứ nước nào, dù là công

dân hay chỉ là thường trú nhân cũng đều được hưởng những Nhân Quyền căn bản như tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do hội họp, tự do tham gia hay thành lập nghiệp đoàn, v.v. Không ai có quyền tước đoạt Nhân Quyền của dân chúng.

Hỏi: Nói như thế, Nhân Quyền phải được tôn trọng một cách bình đẳng hay sao?

Đáp: Đúng vậy. Ngay cả những người tội phạm cũng có những Nhân Quyền của họ, vì thế họ phải được tòa án xét xử vô tư, công bằng và không bị đối xử vô nhân đạo như tra tấn và hành hạ dã man.

Hỏi: Có một số người cho rằng Nhân Quyền tại các quốc gia không nhất thiết phải giống nhau vì mỗi nước có văn hóa và hoàn cảnh khác nhau. Lập luận đó có đúng không?

Đáp: Đó chỉ là lập luận của một số chính khách và nhà nước độc tài chỉ ngụy biện để bào chữa cho những hành động vi phạm nhân quyền của họ. Thật vậy, tính phổ quát của Nhân Quyền đã được minh xác trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và đã được tái khẳng định trong bản Tuyên Bố do LHQ đưa ra tại Hội Nghị Quốc Tế về Nhân Quyền tại Vienna, Áo quốc năm 1993.

Theo đó, bản chất phổ quát của các quyền con người và quyền tự do là không thể bàn cải. Tất cả các quyền con người đều phổ quát, không thể tách rời, chúng phụ thuộc và liên quan với nhau.

Hỏi: LHQ đã ra đời từ năm nào và với mục đích gì?

Đáp: Vào đầu năm 1945, trước khi đệ nhị thế chiến kết thúc, 50 quốc gia đã tổ chức một Hội Nghị Quốc Tế tại San Francisco, Hoa Kỳ để ký kết Hiến Chương thành lập LHQ nhằm mục đích duy trì hòa bình và tránh đại họa của một cuộc đại chiến thế giới lần thứ ba mà bom nguyên tử có thể tiêu diệt loài người trên địa cầu nầy.

Hỏi: Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền được ra đời từ khi nào?

Đáp: Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền được Đại Hội Đồng LHQ thông qua ngày 10-12-1948 tại Paris, thủ đô nước Pháp, với 48 phiếu thuận, 6 phiếu trắng và không có phiếu chống.

Sự ra đời của Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền đánh dấu một bước tiến vô cùng lớn lao

và quan trọng của cộng đồng nhân loại văn minh.

Hỏi: Những ai là tác giả đã biên soạn bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền?

2

Đáp: Đó là một công trình tập thể của Ủy Hội Nhân Quyền gồm đại diện của 53 quốc gia hội viên của LHQ, gồm các chính khách, luật gia, giáo sư và những nhà tranh đấu Dân Chủ từ nhiều quốc gia Âu Châu, Phi Châu, Á Châu, Úc Châu và Mỹ Châu.

Hỏi: Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Luật Quốc Tế Nhân Quyền khác nhau ở những điểm nào?

Đáp: Tuyên Ngôn là một văn kiện nói lên lý tưởng đề cao Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc. Đó không phải là một Hiệp Ước hay Công Ước, và vì thế, nó không có hiệu lực pháp lý.

Trong khi đó, Luật Quốc Tế Nhân Quyền bao gồm ba văn kiện: Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị và Công Ước Quốc Tế về Quyền Kinh Tế, Xã Hội và Văn Hóa.

Mọi quốc gia thành viên của LHQ đều chấp nhận bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và xem đó là lý tưởng chung của mọi quốc gia, nhưng nước nào muốn gia nhập các Công

Ước Quốc Tế về Nhân Quyền, phải được Quốc Hội của nước đó phê chuẩn mới có hiệu

lực. Ngoài ra, Luật Quốc Tế Nhân Quyền có giá trị cưỡng hành và cao hơn giá trị của Hiến Pháp và Luật Pháp quốc gia.

Hỏi: Hai Công Ước Quốc Tế về Nhân Quyền đã được thành lập từ năm nào?

Đáp: Hai Công Ước Quốc Tế về Nhân Quyền đã được thông qua từ năm 1966, nhưng đến 10 năm sau hai Công Ước nầy mới được đa số các quốc gia hội viên LHQ phê chuẩn. Vì thế, đến năm 1976 mới được LHQ chính thức công bố.

Hỏi: Quyền Dân Sự và Chính Trị bao gồm những quyền gì?

Đáp: Theo Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị, nhà nước có nghĩa vụ bảo vệ các quyền sau đây của người dân:

- Quyền sống, quyền tự do và an toàn thân thể;

- Không bị làm tôi đòi hay nô lệ;

- Không bị trừng phạt vô nhân đạo, hay bị lăng nhục;

- Không bị bắt bớ hay giam cầm tùy tiện;

- Quyền được xét xử trước một tòa án vô tư, công hằng và có luật sư biện hộ;

- Không bị xâm phạm tùy tiện danh dự cá nhân, đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở hay thư tín;

- Quyền tự do cư trú và đi lại trong quốc gia của mình;

- Quyền được xuất ngoại và hồi hương;

- Quyền tị nạn tại các quốc gia khác;

- Quyền sở hữu tài sản;

- Quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo;

3

- Quyền tư do ngôn luận, tự do tìm kiếm, tiếp nhận tin tức bất kỳ nơi nào và phổ

biến tin tức bằng mọi phương tiện truyền thông, không giới hạn lãnh thổ;

- Quyền tự do hội họp có tính cách hòa bình;

- Quyền tham dự vào việc điều hành chính quyền trực tiếp bằng cách ra ứng cử, hay gián tiếp bằng cách bầu lên người đại diện cho mình trong những cuộc bầu cử bằng phiếu kín, dân chủ và công bằng.

Hỏi: Quyền Kinh Tế, Xã Hội và Văn Hóa bao gồm những quyền gì?

Đáp: Theo Công Ước Quốc Tế về Quyền Kinh Tế, Xã Hội và Văn Hóa, nhà nước có

nghĩa vụ thường xuyên cố gắng cải thiện đời sống của người dân, đặc biệt là những quyền sau đây:

- Quyền có việc làm và lựa chọn việc làm;

- Quyền được hưởng mức lương xứng đáng và công bằng; có điều kiện làm việc an toàn, được huấn luyện và có cơ hội thăng tiến;

- Quyền thành lập nghiệp đoàn và tham gia nghiệp đoàn;

- Quyền được hưởng an sinh xã hội và bảo hiểm sức khỏe;

- Quyền được hưởng giáo dục. Đặc biệt giáo dục bậc tiểu học phải có tính cách cưỡng bách và miễn phí. Giáo dục bậc trung học phải được phổ thông và tiến dần

đến hoàn toàn miễn phí;

- Được bảo vệ những quyền lợi tinh thần và tài chánh do những phát minh khoa

học hay sàn phẩm văn hóa và mỹ thuật của mình mang lại.

Hỏi : Việt Nam đã gia nhập LHQ từ năm nào? Và đến khi nào Quốc Hội VN phê chuẩn hai Công Ước Quốc Tế về Nhân Quyền?

Đáp : Việt Nam gia nhập LHQ năm 1977 và phê chuẩn hai Công Ước Quốc Tế về Nhân Quyền năm 1982.

Hỏi: Những Nhân Quyền đã được ghi trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và hai Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền là những quyền gì?

Đáp: Theo Luật Sư Nguyễn Hữu Thống, Cố Vấn của Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam, để cho dễ nhớ, Nhân Quyền có thể được xếp thành ba bậc như sau:

(1) Nhân Quyền bậc 1, mệnh danh là Tự Do Thân Thể, gồm những quyền liên quan đến thân thể con người, như quyền sống, quyền không bị hành hạ, tra tấn, quyền

không bị nô dịch, quyền an toàn thân thể, không bị bắt giữ và giam cầm trái phép.

Khi bị truy tố, phải được xét xử công bằng bởi một tòa án độc lập và vô tư.

(2) Nhân Quyền bậc 2, mệnh danh là Quyền An Cư và Lạc Nghiệp.

(a) Quyền An Cư gồm có: tự do cư trú và đi lại; tự do xuất ngoại và hồi hương;

quyền riêng tư cho bản thân, gia đình, nhà ở, thư tín; quyền tị nạn; quyền sở

4

hữu, v.v.

(b) Quyền Lạc Nghiệp gồm có: quyền có việc làm với tiền lương xứng đáng và công bằng; quyền được bảo hiểm và an sinh xã hội; có đời sống khả quan cho bản thân và gia đình và quyền được hưởng những phúc lợi về y tế, giáo dục và văn hóa.

(3) Nhân Quyền bậc 3, mệnh danh là Tự Do Tinh Thần và Tự Do Chính Trị. Đó là tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng, tự do phát biểu, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội và tự do hoạt động nghiệp đoàn.

Hỏi : Có người cho rằng đòi hỏi Nhân Quyền và tranh đấu Dân Chủ đều có mục tiêu tối hậu là đem lại Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền cho mọi người. Như thế đòi hỏi Nhân Quyền và tranh đấu Dân Chủ khác nhau ở chỗ nào?

Đáp : Như chúng ta đã thấy, các điểu khoản 18, 19, 20 và 21 của bản Tuyên Ngôn Quốc

Tế Nhân Quyền cũng như các điều khoản 18, 19, 20 và 21 trong Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị đều ghi rõ các quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do sinh hoạt nghiệp đoàn và đảng phái chính trị, và tự do ứng cử, bầu cử. Như thế, trong Nhân Quyền đương nhiên có Dân Chủ.

Tại các nước độc tài, Nhân Quyền của người dân thường bị chà đạp, không có tự do

báo chí, tự do tư tưởng, tự do hội họp và tự do lập hội, v.v. Vì thế, tại các quốc gia đó, dân chúng phải đứng lên tranh đấu đòi hỏi nhà nước thực thi Dân Chủ, vì phải có Dân Chủ mới có Nhân Quyền.

Hỏi: LHQ đã ban hành Luật Quốc Tế Nhân Quyền từ năm 1976, nhưng cho đến nay, tại một số quốc gia, Nhân Quyền vẫn còn bị chà đạp nặng nề, nguyên nhân vì sao?

Đáp: Năm 1998, nhân dịp Kỷ Niệm 50 năm ngày công bố Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, LHQ đã duyệt xét tình hình Nhân Quyền trên thế giới, LHQ đã thấy rằng trong nửa thế kỷ qua tình trạng Nhân Quyền hầu hết khắp nơi đã được cải tiến đáng kể, nhưng tại một số quốc gia Á Châu, Phi Châu và Nam Mỹ, Nhân Quyền vẫn chưa được tôn trọng và dân chúng chưa biết rõ tầm quan trọng của Nhân Quyền vì hai lý do chính yếu sau đây:

- Thứ nhất, đa số dân chúng vẫn còn xa lạ với Nhân Quyền, và chưa được học hỏi về Nhân Quyền và Luật Quốc Tế Nhân Quyền của LHQ;

- Thứ hai, nhà cầm quyền tại các nước độc tài đã không giúp đỡ mà lại còn ngăn

cấm mọi nỗ lực quảng bá và giáo dục dân chúng am hiểu về Nhân Quyền.

Chính vì thế, ngày 8-3-1999 Đại Hội Đồng LHQ đã thông qua Nghị Quyết 53/144,tức

Tuyên Ngôn về Những Quyền và Trách Nhiệm của các Cá Nhân, Hội Đoàn và Cơ Quan

trong xã hội phải cổ võ và bảo vệ Nhân Quyền theo đúng Luật Quốc Tế Nhân Quyền.

Hỏi: Theo Nghị Quyết 53/144 của LHQ, mọi cá nhân và tổ chức ngoài Chính Phủ

5

(NGO) có những Quyền và Nghĩa Vụ gì?

Đáp: Theo Nghị Quyết đó, sau đây là 5 Quyền và Nghĩa Vụ chính yếu của các Cá Nhân và Tổ Chức Xã Hội Dân Sự:

- Quyền đề xướng và đòi hỏi Nhà Nước thực thi Nhân Quyền ;

- Quyền hội họp, thành lập và tham dự các tổ chức ngoài chính phủ (NGO);

- Quyền được tham chính trực tiếp hay gián tiếp và quyền nầy bao gồm cả quyền đề nghị, phê phán và chỉ trích các việc làm của Chính Phủ;

- Cá nhân và tổ chức ngoài chính phủ có Nghĩa Vụ tham gia các hoạt động giáo dục, huấn luyện và nghiên cứu về Nhân Quyền để nâng cao dân trí đồng bào;

- Cá nhân và tổ chức ngoài chính phủ có Nghĩa Vụ và Trách Nhiệm góp phần phát

huy các tổ chức xã hội dân sự và các định chế dân chủ để xây dựng đất nước ngày

càng tiến bộ và tốt đẹp hơn.

Hỏi: Theo Nghị Quyết 53/144 của LHQ, Chính Phủ có những Trách Nhiệm gì?

Đáp: Theo Nghị Quyết đó, Chính Phủ có 5 Trách Nhiệm chính yếu sau đây:

- Quảng bá và bảo vệ Nhân Quyền và những Quyền Tự Do căn bản của dân chúng

bằng cách tạo các điều kiện thiết yếu về giáo dục, xã hội, kinh tế, luật pháp và

chính trị theo đúng Luật Quốc Tế Nhân Quyền;

- Ban hành các văn kiện lập pháp và lập quy để bảo đảm Nhân Quyền và những

Quyền Tự Do căn bản của người dân;

- San định Hiến Pháp và luật lệ quốc gia thế nào cho phù hợp với Hiến Chương của LHQ và Luật Quốc Tế Nhân Quyền;

- Hỗ trợ và khởi xướng các nỗ lực bảo vệ Nhân Quyền như việc thành lập các Ủy Ban Nhân Quyền và Ủy Ban Điều Tra các viên chức vi phạm Nhân Quyền, v.v.

- Tổ chức và yễm trợ các chương trình giảng dạy Nhân Quyền và những Quyền Tự Do căn bản tại học đường. Đặc biệt Luật Quốc Tế Nhân Quyền phải được giảng dạy trong các khóa huấn luyện luật sư, biện lý và lực lượng công an, cảnh sát để giúp họ thi hành nghiệp vụ một cách tốt đẹp và không vi phạm Nhân Quyền của người dân.

-

Nguyễn Thanh Trang

Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam

(Tết Đinh Dậu, 2017)

Ghi Chú: Quý vị có thể đọc toàn bộ Luật Quốc Tế Nhân Quyền nguyên văn tiếng Anh hay bản tiếng Việt do Luật Sư Nguyễn Hữu Thống phiên dịch và diễn giải, xin vui lòng vào Website của Mạng Lưới Nhân Quyền, tại địa chỉ: www.vietnamhumanrights.net

Tác giả gửi BVN

Thứ Sáu, 10 tháng 2, 2017

Phạm Phú Minh: Sách Mới: Trong Đống Tro Tàn (tác giả Trần Văn Thủy)


NHỮNG GÌ THẤY ĐƯỢC 'TRONG ĐỐNG TRO TÀN' CỦA TRẦN VĂN THỦY

Theo sự hiểu biết của tôi thì nhà văn, nhà đạo diễn điện ảnh Trần Văn Thủy là người đầu tiên sống trong xã hội Việt Nam đương thời đã đặt vấn đề Tử Tế bằng tác phẩm của mình. Cuốn phim tài liệu Chuyện Tử Tế của ông thực hiện năm 1985, được công bố ít năm sau đó, đã gây một chấn động trong lương tâm của con người, không những của người Việt Nam mà còn nhiều nơi trên thế giới.
Có chuyện gì vậy? Chuyện tử tế? Thì có gì lạ? Chẳng phải là từ khai thiên lập địa con người vẫn sống giữa cuộc tranh đấu giữa cái Thiện với cái Ác đó sao, một cuộc tranh đấu bất tận như tên của một cuốn phim Mỹ: From Here To Eternity -Từ đây cho đến mãi mãi về sau, được người Pháp chuyển dịch thành Tant qu'il y aura des hommes – Cho đến khi nào còn con người. Hai cái tên tiếng Anh và tiếng Pháp của cuốn phim nổi tiếng ấy đều cho thấy cuộc xung đột giữa cái tốt và cái xấu nó sẽ còn mãi mãi trong xã hội loài người, khiến người ta phải nghĩ một cách sâu xa hơn, là bản chất và mục tiêu đời sống của chúng ta chính là cố gắng đẩy lùi cái xấu để cái tốt được lên ngôi.heo sự hiểu biết của tôi thì nhà văn, nhà đạo diễn điện ảnh Trần Văn Thủy là người đầu tiên sống trong xã hội Việt Nam đương thời đã đặt vấn đề Tử Tế bằng tác phẩm của mình. Cuốn phim tài liệu Chuyện Tử Tế của ông thực hiện năm 1985, được công bố ít năm sau đó, đã gây một chấn động trong lương tâm của con người, không những của người Việt Nam mà còn nhiều nơi trên thế giới.
Nhưng nghĩ cũng lạ, cái trật tự tinh thần để phân biệt tốt xấu thì đã được con người xác định từ rất xa xưa, có lẽ ngay từ bản năng của sự sống: mạng sống là tốt, giết hại là xấu; thương yêu là tốt, thù hận là xấu; tự do thoải mái là tốt, gông cùm kiềm hãm là xấu; sáng kiến phát triển là tốt, hủ lậu trì trệ là xấu; no cơm ấm áo là tốt, đói rét là xấu… Những cặp tốt xấu như thế có thể kể ra vô tận, cho thấy thân phận của con người thật ra rất chênh vênh, nhưng kinh nghiệm sống và sự thăng hoa tinh thần của con người trong quá trình "thành người" của mình đã khẳng định phía nào nên theo, cái gì nên loại bỏ. Ý thức đó tạo nên ĐẠO LÝ chung cho cuộc sống của con người đông tây kim cổ.
Chuyện con người sống tử tế với con người và vạn vật chẳng qua cũng chỉ nằm trong Đạo Lý ấy mà thôi, nhưng sở dĩ có người như Trần Văn Thủy phải làm phim để đặt ra như một vấn nạn trước lương tâm con người, là vì cuộc sống trong cơ chế đang ngự trị trên đất nước Việt Nam xem ra thiếu vắng sự Tốt lành mà ngược lại, nghiêng về phía cái Ác. Đây không phải là chuyện tốt xấu trong một xã hội bình thường, mà là kết quả của một chế độ khác thường. Vì thế nguy cơ của cái Ác trở thành một khuynh hướng đè bẹp cái Thiện ngày càng rõ rệt, và đã trở thành một nguy cơ cho đất nước và dân tộc Việt Nam.
Phim Chuyện Tử Tế ra đời năm 1985, tính năm nay 2016 đã là 31 năm, vậy hành trình của nó và của tác giả làm nên nó, hiện đã tới đâu rồi? Câu chuyện nó vượt biên một cách bí mật để đến được Liên Hoan Phim Leipzig Đông Đức cuối năm 1988 có thể dựng thành một cuốn phim trinh thám nghẹt thở. Và sau khi nó chiếu và được nhiệt liệt hoan nghênh tại liên hoan này thì tới phiên tác giả của nó lập tức "vượt biên" sang Pháp ngay trong đêm đó, cũng nghẹt thở không kém. Khi đã đến Pháp, tác giả của nó mới biết Chuyện Tử Tế đã được giải thưởng Bồ Câu Bạc ở liên hoan phim Leipzig. Rồi nó được chiếu trong rạp hát và đài truyền hình Pháp. Rồi nhiều nước khác đã mua phim Chuyện Tử Tế…
Đạo diễn Trần Văn Thủy vào thời điểm tham dự liên hoan phim Chuyện Tử Tế đã đứng trước một đường ranh giới rất mong manh, hoặc nó đoạt được giải thì ông là người có công, được quay về Việt Nam an toàn, hoặc nó không gặt hái được gì cả thì ông bắt buộc phải chọn con đường lưu vong tại Tây Âu.
Nhưng sự tử tế đã mỉm cười với ông, và hôm nay đạo diễn Trần Văn Thủy, ở tuổi 76, đã đúc kết mọi chuyện với cuốn sách Chuyện Nghề Của Thủy và cuốn Trong Đống Tro Tàn mà độc giả đang cầm trên tay. Hình ảnh "đống tro tàn" mà tác giả gợi ra nó như thế nào là tùy cách nhìn của người đọc, nhưng với tác giả, thì tôi đoán cái tên đó phần nào cũng là tổng kết cái hành trình mà ông đã đi suốt nửa thế kỷ qua, tròn 50 năm (1966-2016). Chưa hẳn nó có ý nghĩa tiêu cực như khi chúng ta đứng trước một căn nhà đã bị thiêu rụi, mọi thứ đã thành tro, mà chỉ là tổng kết thời gian gần cả đời người với nhiều nỗi truân chuyên gay cấn liên tục với một chủ đề gần như duy nhất: sự tử tế. Đống tro tàn chỉ là một cách nói, có thể là một ám chỉ rằng trong cái đám ngổn ngang đó vẫn còn sót lại một vài tàn lửa sẽ làm bùng lên ngọn lửa của cái Thiện.
Nhưng có một điều chắc chắn, trong đống mà tác giả gọi là tro tàn này chứa đựng một tấm lòng hừng hực nóng, qua các câu chuyện đời của tác giả. Có nhiều chuyện được kể lại, xem qua thì là những chuyện vui buồn, những kỷ niệm trong đời, nhưng tất cả hầu như chỉ một chủ đề, đó là sự thăng hoa tốt đẹp của bản chất con người, mà các tôn giáo lớn từ hàng ngàn năm trước đã nhìn ra và dẫn dắt nhân loại.
Đây có thể là tác phẩm văn học cuối cùng của ông, vì có cả lời trăng trối căn dặn mọi chuyện sau khi ông qua đời. Trong Mấy Lời Gửi Lại, xem như là Di Chúc của ông, sau những dặn dò cụ thể liên quan đến tang lễ và việc gia đình, gia tộc, ở phần cuối ông viết:
"Hình như trên đời này chẳng có mấy ai khi nhắm mắt xuôi tay lại không nuối tiếc việc nọ, việc kia. Phần tôi, tự xét mình là thường dân nhưng đã cố gắng trong mọi hoàn cảnh, mọi bổn phận. Sức của tôi có hạn, tôi chỉ thương xót cho bọn trẻ, con cháu tôi và con cháu chúng ta. Chúng thừa hưởng một gia tài quá bề bộn của tiền nhân để lại. Không dễ gì để chúng có được một cuộc sống hạnh phúc đúng nghĩa mà thế hệ chúng ta hằng mơ ước cho chúng.
Dẫu sao, tôi xin chân thành cầu chúc cho mọi người được sống trong niềm vui, trong an bình và sự thanh thản của một xã hội lương thiện, tử tế hơn".
Điều ông nuối tiếc là ở chỗ lớp con cháu sẽ không được sống hạnh phúc đúng nghĩa mà thế hệ ông hằng mong ước, nghĩa là sống trong một "xã hội lương thiện, tử tế hơn". Một chữ "hơn" đầy ý nghĩa, nói lên thực tại đáng buồn của xã hội Việt Nam trong hiện tại.
Chương 2, Cha Tôi, là một bài viết mà tôi cho quan trọng nhất trong tập sách này. Kể lại cuộc đời cha mình, ông đã ghi rõ "tưởng nhớ về Thầy – người Cha đẻ và là người Cha tinh thần của con" cho thấy cái nhìn đầy yêu mến và khâm phục của ông về thân phụ của mình, mà theo tôi, ông coi là một mẫu mực, một tấm gương cho suốt cuộc đời của ông.
Có một câu nói của thân phụ ông mà suốt đời ông không quên, đó là câu thân phụ ông thốt ra một cách bình tĩnh sau khi chứng kiến cảnh người bạn thân của mình (bác Phó Mâu) đã bị bắn chết trong cuộc đấu tố:
"Sau hôm về chợ Cồn để chôn cất bác Phó Mâu, Thầy tôi lên gác nằm. Một lát sau ông cho gọi tôi và Lai, người em sát tôi lên. Hai chúng tôi ngồi chờ bố bảo gì. Ông vẫn nằm vắt tay lên trán, im lặng. Không hiểu sao những lúc Thầy tôi im lặng như thế tôi rất sợ, tôi lên tiếng rất khẽ:
– Thầy bảo gì chúng con ạ?
Một lát sau ông mới thủng thẳng nói một câu rất ngắn:
– Hỏng – hẳn – rồi – các – con ạ!
Tôi không hiểu. Lúc đó tôi hoàn toàn không hiểu. Tôi hỏi lại:
– Thầy bảo gì cơ ạ?
– Thầy và bác Phó Mâu đã giúp Việt Minh quá nhiều, bây giờ bác chết oan, Thầy không còn tin vào cái gì nữa!
Trong cuộc đời, tôi rất nhớ những điều Thầy tôi đã nói với tôi. Đây không phải là lúc kể ra tất cả, nhưng cái câu đau đớn, bất đắc chí: "Hỏng – hẳn – rồi – các – con ạ"! Thì chắc chắn xuống mồ tôi cũng không thể nào quên được".
Kể ra một người trong tuổi thiếu niên mà được nhận lãnh một câu nói như thế từ cha của mình trong một hoàn cảnh đặc biệt của đất nước thì cũng khó mà quên được. "Hỏng-hẳn-rồi-các-con-ạ" là một khẳng định khái quát cả một sự sụp đổ toàn diện trong tâm hồn người cha, truyền lại cho các con mình nhận thức về tương lai của cái chế độ mà họ đang sống trong đó với biết bao kỳ vọng chế độ đó sẽ mở ra một thời kỳ tốt đẹp cho đất nước. "Hỏng hẳn rồi" đã ghi một dấu ấn quan trọng nhất trong lòng tác giả khi mới lớn, để suốt đời ông luôn để tâm nhìn thấy nó hỏng ở chỗ nào, và định hướng các hành vi của ông để lên tiếng cảnh báo cho mọi người về cái nguy cơ vô cùng thảm khốc cho cả một dân tộc.
Trong cuốn sách mà có vẻ tác giả cho là cuối cùng này của mình, chúng tôi nghĩ chương Cha Tôi là nơi Trần Văn Thủy khẳng định điều tâm huyết nhất trong đời mình, đó là nét Đạo Lý mà cha ông đã truyền cho ông. Đạo Lý ấy cha ông đã tiếp nhận từ truyền thống của dân tộc Việt Nam, nó cũng không khác với Đạo Lý chung của nhân loại đã có từ ngàn đời.
Trần Văn Thủy thì quan tâm và suy nghĩ rất nhiều về vấn đề nền tảng ấy trong các chương khác trong cuốn sách này. Ông vốn là người làm phim tài liệu, luôn luôn ghi nhận và viết xuống những đề tài mà ông cho là đáng làm phim trong suốt cuộc đời nghề nghiệp của ông, nhưng tiếc thay không mấy dự định của ông đã được thực hiện. Chương "Những kịch bản không thành phim" ông ghi lại nội dung những đứa con điện ảnh không bao giờ được ra đời ấy, với những nhận xét có khi nhiều phẫn nộ.
Ví dụ từ năm 1980 ông đã có một kịch bản về Trịnh Công Sơn:
"Một kịch bản khác tôi tâm đắc vô cùng đó là khi tôi viết về Trịnh Công Sơn năm 1980. Có lẽ khi ấy vừa ở Nga về, vừa làm xong bộ phim "Phản bội" nổi tiếng (1979 – 1980), đang"hăng tiết vịt", tôi đã viết về Trịnh Công Sơn. Tôi kể những ngày tháng nằm hầm ở chiến trường miền Nam (1966 – 1969), mở trộm đài Sài Gòn, nghe nhạc Trịnh mà nổi da gà. Những Đại bác đêm đêm vọng về thành phố/Người phu quét đường dừng chổi đứng nghe/Những Người con gái Việt Nam da vàng… Con người miền Nam, hơi thở miền Nam, nhạc Trịnh ám ảnh tôi. Sao lại yêu thương đến thế! Sao lại da diết lay động đến thế! Vấn đề tôi đặt ra trong kịch bản đó không chỉ là những giai điệu, những ca từ hút hồn của nhạc Trịnh mà tôi tự vấn: Mảnh đất nào, văn hóa nào, phẩm hạnh nào đã nuôi dưỡng một tâm hồn trong sáng và chân thiện đến thế, đã sản sinh ra con người chân tình đến thế? Nếu như Karl Marx nói: "Con người là sản phẩm của tổng hòa mọi quan hệ xã hội" thì cái xã hội miền Nam đầy rẫy những "Tội ác và tàn dư của Mỹ Ngụy" ấy tại sao lại sản sinh ra Trịnh Công Sơn? "
Ba mươi năm sau khi làm phim Chuyện Tử Tế để kêu gọi lòng tử tế trong xã hội mình đang sống, đạo diễn Trần Văn Thủy cay đắng nhận ra mình vẫn sống trong xã hội ấy, nhưng:
"Ngày nay trong một chế độ nhân danh sự ưu việt, người ta lại thấy bao điều xót xa trong quan hệ giữa người với người. Tham nhũng, bè phái, cửa quyền. Đạo đức xuống cấp một cách khủng khiếp."…
"Ai cũng biết rằng tòa án và pháp luật chỉ làm công việc giải quyết hậu quả của hành động. Còn muốn ngăn chặn cái mầm gây ra tội ác, làm nó triệt tiêu khi còn trong trứng, triệt tiêu ngay trong ý nghĩ của con người, thì không gì bằng tôn giáo" (…) "tôn giáo nói chung, cái đạo chân chính nào cũng khuyên con người nghĩ thiện, làm thiện, tránh xa tội lỗi, xa điều độc ác. Và như vậy nó góp phần tích cực vào việc giữ gìn đạo đức, trật tự an ninh xã hội, làm cho đất nước lành mạnh".
Mỗi một chương của cuốn sách này là một câu chuyện hay, có thể nói là hấp dẫn, nhưng luôn luôn ẩn nỗi cảm động, thấm thía và rất lôi cuốn người đọc. Tác giả quan sát rất tinh tế về các nhân vật mình quen biết, các sự kiện vui buồn xảy ra với mình, nhưng khi kể ra thì chuyện nào cũng đáng là một bài học cho người đọc, bài học về nhân cách, về thái độ sống ở đời với một chủ đề bất biến là tích cực nhấn mạnh về sự tử tế, lòng nhân ái.
Tác giả có sự quan hệ rất rộng rãi, đề tài viết có thể là về giới làm phim Nhật Bản, hoặc những người Mỹ hoạt động văn hóa và nhân đạo; về việc thực hiện một cuốn phim tài liệu về nhà thờ Phát Diệm với kiến trúc tôn giáo độc đáo; về một người thầy thuốc hiếm có về bệnh phong cùi, Bác sĩ Trần Hữu Ngoạn, mà khi đọc xong câu chuyện của ông, độc giả chỉ có thể thốt lên: đó là một bậc Thánh, hoặc là một Bồ Tát; về nhạc sĩ Phạm Duy là người ông rất hâm mộ từ thời còn rất trẻ…
Với con mắt quan sát tinh nhạy của một đạo diễn phim tài liệu cộng với một tấm lòng đề cao cái Thiện và chống lại cái Ác, và cộng thêm nữa sự sắc sảo tinh quái của một người sống trong sự kềm cặp mà lúc nào cũng khao khát xé rào để rao giảng những điều chẳng phù hợp chút nào với đường lối của xã hội đương thời, Trần Văn Thủy rất xứng đáng với câu nhận xét sau đây của Larry Berman, một nhà văn Mỹ:
"… on a war that ravaged so many, yet left us with survivors like Tran Van Thuy, war photographer, filmmaker and ultimately philosopher."
"… về một cuộc chiến đã hủy hoại biết bao sinh mạng, nhưng đã để lại cho chúng ta những người sống sót như Trần Văn Thủy, một nhà quay phim thời chiến, một đạo diễn điện ảnh, và cuối cùng là một triết gia." – [Trích từ lời Tựa trong bản dịch sang Anh ngữ cuốn tự truyện Trong Mắt Ai (In Whose Eyes) của Trần Văn Thủy]
Nhìn cuộc sống ở một xã hội mà ông phải sống và rút ra từ đấy những nhận xét, những phán đoán, thẩm định nhằm phá vỡ hàng rào dây thép gai ý thức hệ quái đản trong thời đại của chúng ta, thì ngoài vai trò nghề nghiệp, đúng Trần Văn Thủy còn là một triết gia, một triết gia dấn thân với những tác phẩm văn học nghệ thuật rất can đảm và hết sức sâu sắc của ông.
Chẳng hạn, nếu chúng ta được xem phim Chuyện Tử Tế, hoặc ít ra được xem kịch bản của phim do chính đạo diễn viết, chúng ta sẽ thấy lời bình trong phim quan hệ tới mức độ nào. Không có lời bình thì chỉ là một phim câm, cái đó đã hẳn, nhưng điều quan trọng, đó là lời bình do Trần Văn Thủy viết. Lời ấy là linh hồn của phim. Đó là những lời gãy gọn dễ hiểu nhưng mang khả năng khái quát rất cao – xem/nghe tới đâu thấm thía tới đó, và đặc biệt là nó có khả năng dẫn dắt người xem hiểu ra ngoài, vượt lên trên những gì đang xem. Như thế, lời bình đã chứa đựng triết lý của sự việc, sự vật, nâng chúng lên một tầng phổ quát.
Rất nhanh, thế giới đã bắt được các tín hiệu nhân bản mà Trần Văn Thủy đã gửi gắm trong phim Chuyện Tử Tế. Vào cuối những năm 80 có tới hơn 10 đài Truyền hình lớn trên thế giới mua bản quyền Chuyện Tử Tế, và đạo diễn Mỹ John Gianvito đã đề cử Chuyện Tử Tế là một trong mười bộ phim Tài liệu hay nhất thế giới của mọi thời đại. Những chuyện như thế chưa từng xảy ra với Điện ảnh Việt Nam.
Cách đây hơn mười năm Trần Văn Thủy đã xuất bản cuốn sách có nhan đề Nếu Đi Hết Biển, nêu lên một thắc mắc vừa cụ thể vừa siêu hình: nếu đi hết biển thì sẽ tới đâu? Thoạt đầu với khái niệm trái đất tròn, tác giả cho rằng "nếu đi hết biển, qua các đại dương và các châu lục, đi mãi, đi mãi thì cuối cùng lại trở về quê mình, làng mình". Nhưng nhiều năm sau, khi tác giả đã đi đến đất Mỹ thì mới thấy rằng người Việt xa xứ "qua các đại dương và các châu lục, đi mãi, đi mãi" mà cuối cùng không thể "trở về quê mình, làng mình" được.
Cuốn sách mới nhất Trong Đống Tro Tàn này cho chúng ta cảm tưởng tác giả không còn điều thắc mắc ấy nữa. Con đường địa lý của quả địa cầu dù trên mặt đất hay mặt biển thì rất rõ ràng, đi mãi thì có thể trở về nơi mình xuất phát. Nhưng con đường của lòng người, với bao nhiêu thứ hệ lụy của cuộc sống thì không thể vạch một lộ trình đơn giản nào. Tâm trạng và mục tiêu của người Việt Nam khi dong thuyền ra khơi để làm một chuyến vượt biên không lãng mạn tự hỏi đi hết biển thì sẽ đến đâu, mà là nhắm tới một bến bờ cụ thể nào đó mình có thể sống được một đời sống tự do, xứng đáng là của một con người. Nhưng một khi cuộc sống đã ổn định trên miền đất mới, thì chắc chắn con đường quay về quê cũ trong lòng họ vẫn còn, dưới rất nhiều dạng: chính trị, kinh tế, tình cảm… hoặc lắm khi chỉ là một giấc mơ về một đất nước tốt đẹp hơn, đáng sống hơn.
Nhưng đâu phải chỉ có con đường cụ thể với hai hướng đi và về nó ràng buộc chúng ta. Trong lòng bất cứ ai cũng có thể mở ra vô số con đường sẽ dẫn đến vô số nơi mà chính trong tác phẩm Trong Đống Tro Tàn tác giả luôn luôn đề cập tới: con đường của lòng tử tế, của sự nhân ái. Con đường tình người rộng rãi thênh thang…
Nhạc sĩ Phạm Duy khi viết câu kết cho trường ca Con Đường Cái Quan của ông, đã mô tả cảm nhận của người Việt Nam khi đã hoàn tất cuộc Nam Tiến của mình tại Mũi Cà Mau:
Đường đi đã tới! Lòng dân đã nối!
Người tạm dừng bước chân vui! Người ơi!
Người mơ ước tới: đường tan ranh giới
Để người được mãi
Đi trong một duyên tình dài.
Con đường thế giới xa xôi,
Trong lòng dân chúng nơi nơi.
Phải chăng khi viết những câu này vào năm 1960, Phạm Duy đã có tiên cảm về "con đường thế giới xa xôi" mà người Việt Nam sẽ dấn bước vào, và sau này đã gây thắc mắc về một bờ bến nơi Trần Văn Thủy? Nhưng Phạm Duy cũng thấy ra niềm vui trong "một duyên tình dài", phải chăng đó là tình của nhân loại, của sự Tử Tế, của lòng Nhân Ái mà Trần Văn Thủy thao thức và vận động suốt đời ông để mong cho nó thắng cái xấu và cái ác?
Nam California ngày 01 tháng Mười Một, 2016.
Phạm Phú Minh

Thứ Năm, 9 tháng 2, 2017

Thỉnh nguyện thư gửi Giáo Hoàng về cựu TGM Ngô Quang Kiệt

ngô quang kiệtBản quyền hình ảnhHOIDONGXITOTHANHGIA
Image captionĐức cha Ngô Quang Kiệt trong lễ mừng kỷ niệm 25 năm hồng ân thiên chức linh mục tại Đan Viện Châu Sơn, Nho Quan, Ninh Bình

1.500 người vừa ký thỉnh nguyện thư gửi Giáo hoàng Francis xin minh xét cho cựu Tổng Giám mục Hà Nội Ngô Quang Kiệt, người mà họ cho là đã "bị oan khiên".

Đức Joseph Ngô Quang Kiệt, sinh năm 1952, đảm nhận chức vụ Tổng giáo phận Hà Nội từ năm 2005 - 2010.

Trong thời gian đó, ông đã gặp nhiều khó khăn với chính quyền, nhất là quanh vụ Tòa Khâm sứ ở phố Nhà Chung.

Tòa Tổng giám mục Hà Nội, đứng đầu là Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt, trong một thời gian dài đã yêu cầu xin lại tòa nhà từng được dùng làm văn phòng của đại diện tòa thánh Vatican.

Giáo dân cũng tổ chức nhiều cuộc cầu nguyện đông người bên ngoài để "đòi khu đất tòa Khâm sứ cũ".

Các nỗ lực đó đã thất bại khi cuối cùng vào năm 2008, chính quyền Hà Nội thu hồi, 'quy hoạch dự án xây dựng công viên cây xanh' tại đây.

Tháng 5/2010, theo Đài Vatican, Giáo Hoàng Benedict XVI nhận đơn từ chức của Tổng Giám Mục Hà Nội Joseph Ngô Quang Kiệt vì lý do sức khỏe, chiếu theo khoản số 401 triệt 2 của Bộ Giáo Luật.

Sau đó, ông chuyển tới Đan viện Châu Sơn, Ninh Bình

'Oan khiên'

Thỉnh nguyện thư ký tên một số cá nhân ở Mỹ, Canada, Bỉ, Pháp… nêu: "Cựu Tổng Giám mục Joseph Ngô Quang Kiệt luôn đứng trước đàn chiên, tuyên bố sẵn sàng chết hay bị tù vì đoàn chiên. Ngài không bỏ chiên, nhưng Ngài bị chính Bề trên, quyền lực Giáo hội tại Vatican chấp nhận yêu sách của sói, buộc Ngài phải rời khỏi đoàn chiên".

"Xin Chúa phù hộ để Đức Thánh Cha [Giáo hoàng] nghĩ đến một kẻ chăn chiên biết bảo vệ đàn chiên và vâng lời Bề trên hiện đang phải ẩn mình trong trong một tu viện, như một người bị lôi ra khỏi hệ thống chăn chiên chỉ vì Vatican và các anh em Ngài đã bức bách Ngài rời bỏ đoàn chiên do áp lực của đàn sói".

Giáo hoàng FrancisBản quyền hình ảnhREUTERS
Image captionLinh mục Anton Lê Ngọc Thanh: "Giáo hoàng chỉ nhận được thông tin qua lăng kính ngoại giao'

Hôm 8/2, trả lời BBC từ TP Hồ Chí Minh, Linh mục Anton Lê Ngọc Thanh, phòng Công lý Hòa bình, Dòng Chúa Cứu thế Sài Gòn, nói: "Thỉnh nguyện thư cho thấy tiếng nói của giáo dân có thể khiến Vatican nhìn lại vấn đề liên quan đến Đức cha Kiệt một cách toàn diện hơn."

"Giáo dân không đòi hỏi Vatican phải quyết định theo ý của họ mà mong nhận được những chỉ dẫn mang tính ơn Chúa chứ không phải dàn xếp chính trị."

"Lần này, nếu thỉnh nguyện thư đến được tay Giáo hoàng Francis, tôi tin là Ngài sẽ xem xét nghiêm túc, vì Ngài đang trong tiến trình cải tổ Roma và có những vấn đề mà Ngài quan tâm đến Việt Nam nhưng chỉ nhận được thông tin qua lăng kính ngoại giao hơn là từ giáo dân."

Giáo Hoàng nhận đơn từ chức của TGM Kiệt

Vụ Tòa Khâm: Đối thoại bất thành

"Hiện Đức cha Kiệt tuy không có chức danh chính thức nhưng có đóng góp cho giáo dân, giáo sĩ trong và ngoài nước."

"Nếu ở vị trí chính thức, Ngài sẽ gánh vác trách nhiệm trọn vẹn hơn."

"Tôi không đặt vấn đề Đức cha Kiệt có được quay về Giáo phận Hà Nội sau thỉnh nguyện thư này hay không."

Chủ tịch VN Trần Đại Quang và Đức Giáo hoàng Francis tại Vatican 23/11/2016Bản quyền hình ảnhAFP
Image captionChủ tịch VN Trần Đại Quang và Đức Giáo hoàng Francis tại Vatican 23/11/2016

"Vấn đề lớn hơn là đã đến lúc Hà Nội trả lại tự do thật sự cho cộng đồng tôn giáo và tín ngưỡng, chứ không phải sự kềm kẹp và nhả ra từ từ."

"Còn chuyện Đức cha Kiệt có trở lại Hà Nội hay không thì có khi chính quyền muốn mà chưa chắc Vatican muốn, vì ngài có thể được đặt vào một vị trí phù hợp hơn với ơn Chúa," linh mục Thanh nói với BBC.

Hôm 8/2, BBC liên hệ với Đan viện Thánh Mẫu Châu Sơn, Nho Quan, Ninh Bình, nơi Cựu Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt sống từ bảy năm qua, để hỏi suy nghĩ của ông về thỉnh nguyện thư nêu trên.

Tuy vậy, ông nhắn lại qua một người khác rằng "đang muốn nghỉ ngơi".

Huỳnh Ngọc Chênh: YêU NướC Là PhảN độNg?

Nguồn http://huynhngocchenh.blogspot.com/2017/02/yeu-nuoc-la-phan-ong.html

 -- via my feedly newsfeed
Huỳnh Ngọc Chênh: Khi nhà cầm quyền vô cớ bắt một người yêu nước là y như rằng đẩy toàn bộ người thân tron gia đình người đó vào con đường thức tỉnh, vượt qua nổi sợ hãi, đứng lên đấu tranh chống lại bạo quyền.
Đã có Dương Thị Tân, Nguyễn Trí Dũng đứng lên vì Điếu Cày, đã có Nguyễn Thị Kim Liên, Đinh Như Quỳnh đứng lên vì Đinh Nguyên Kha và Đinh Nhật Uy, đã có Nguyễn Thị Nhung đứng lên vì Nguyễn Phương Uyên, đã có Lê Thị Minh Hà đứng lên vì Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh...
Nay thì Cô Mười Nhà Họ Lê đã làm nhiều người phải giật mình kinh ngạc vì sự sắc sảo và am hiểu chính trị của chị khi chồng chị là anh Vịnh Lưu bị bắt vô cớ và thô bạo. Chị chỉ là một nông dân chất phác, một phụ nữ đảm đang chỉ biết ở nhà tảo tần buôn bán lo cho chồng con.
Thế mà chế độ nầy đã đẩy chị phải bước ra khỏi nhà để đứng lên đấu tranh. Đọc những giòng chị đối đáp và viết ra dưới đây tôi đã không thể nào không hổ thẹn với lòng mình. (Huỳnh Ngọc Chênh)

Cô Mười Họ Lê 
Tối qua, mấy mẹ con đang ngồi nói chuyện thì điện thoại reo.
- Alo, em à!
- Vâng ạ!
- Anh thấy gia đình em có truyền thống cách mạng. Em đừng tin và nghe theo lũ phản quốc, những gì em chia sẻ trên mạng đều bất lợi cho nhà nước ta và trúng kế của kẻ thù. Em đang bị kẻ xấu lợi dụng. Mình sinh ra lớn lên được sống trong hòa bình hạnh phúc, là nhờ thế hệ trước đã tạo dựng lên.

Đảng chính phủ luôn khoan hồng cho những người biết ăn năn hối cải. Trước anh đã nói với em rồi, em không khuyên được chồng em để dấn thân vào con đường sai trái. Em có biết chúng nó là những kẻ phản quốc ko? Là bạn bè, anh khuyên thật lòng, anh mong rằng em xem tổ quốc làm trọng mà hi sinh tình riêng..
- Thôi, em nghe đủ rồi, giờ anh nghe em nói một chút.
+ Một, là trước đây em còn ngây thơ, em cũng nghĩ như anh. Nhưng rồi dần dần em đã hiểu ra, đặc biệt từ khi họ vô cớ và thô bạo bắt anh Vịnh, em đã biết đâu là đúng, sai, là oan ức, bất công. Nhiều hoàn cảnh án oan trái, bất công, những tiếng kêu thảm thương của dân oan mất đất khi họ lê lết ở Ban tiếp dân TƯ, ở phủ Thủ tướng, Thanh tra chính phủ… diễn ra hàng ngày, anh không nghe thấy trên youtube, không xem internet sao?
Kẻ đẩy người lương thiện vào tù tội, thậm chí đẩy người khác vào án tử oan là người yêu nước sao?
Những kẻ để TQ chiếm đất đai, biển đảo VN, là kẻ yêu nước sao? 
Và phải CHẤP HÀNH, ỦNG HỘ NHỮNG KẺ ĐÓ, NHỮNG CHỦ TRƯƠNG ĐÓ MỚI LÀ YÊU NƯỚC?
Những điều em nói trên, để anh hiểu rằng, em không phải là người không biết phân biệt tốt, xấu. Em đủ tim, óc, mắt để đọc, xem, nghe, nhìn, suy nghĩ để biết được thế nào là đúng sai, thế nào là phản động, thế nào là yêu nước.Em nay đã là mẹ của ba đứa con, ko còn non trẻ để mà nghe ai xúi giục, anh an tâm.
+ Hai, là chồng em không buôn bán hàng cấm, không trộm cắp, không tham ô lừa lọc ai. Chỉ khác là, chồng em không sống ích kỉ như các anh. Chồng em không phải là người chỉ biết cốt sao lo cho cuộc sống của gia đình mình thôi, còn mặc kệ những chuyện bất công đã có nhà nước lo, như các anh.
Các anh được ăn học, huấn luyện (chống bạo động (?), được lĩnh lương bổng từ tiền thuế của nhân dân. Nhưng các anh có được học phải gần gũi lắng nghe dân, phải vì dân ko? Có tìm hiểu vì sao dân lại phải xuống đường kêu oan ko? Hay các anh bất chấp lương tâm, đạo lý tình nghĩa đồng bào, chỉ vì đồng lương mà "thượng đội hạ đạp" đàn áp những người dân thấp cổ bé họng?
Nhắc lại anh rõ, những người dân đó là người đóng thuế nuôi các anh đấy!
Người đi tưởng niệm Tử sỹ Hoàng Sa, Liệt sỹ Gạc Ma, những đồng bào VN bị chết do quân bành trướng TQ gây ra (2-1979 đến 1989), biểu tình phản đối TQ xâm lược đất đai, biển đảo VN như chồng em lại là phản động hay sao?

Những người phản đối ô nhiễm, đòi bảo vệ môi trường sống như chồng em lại thành phản động sao?
Còn em, em nhỏ bé lắm, chưa làm được gì cho Tổ quốc như chồng em và như nhiều cô bác, anh chị em khác. Nhưng em tin chồng em đã làm những việc chân chính, vì đất nước, vì công lý cho dân oan, vì môi trường sống cho con người…Nhưng cũng vì thế mà anh ấy bị giam giữ oan. Em chỉ còn biết hứa thầm trong lòng với anh ấy là nuôi dậy 3 con thơ chu toàn và thăm nuôi chồng bị giam oan, chắc trong nhà giam anh cũng đoán được mà yên tâm dấn thân cho đất nước, cho công lý. 
Như thế có phải là em cũng đã hi sinh tình riêng vì Tổ quốc không?
Anh cũng nên biết thêm rằng: Em trực tiếp (cùng các con, có con gái út 6 tuổi) chứng kiến cảnh chồng (bố) bị lũ người đông đảo bạo lực hung hãn đánh, bắt trước mặt,(mà không có lệnh bắt người theo đúng thủ tục của luật pháp như Luật sư cho em biết), làm em đến nay vẫn còn phẫn uất, con út 6 tuổi của em còn sợ hãi, buồn bã, lo lắng, bất an, nay nó ngủ còn mơ khóc, nói nhảm…, đi học không còn tập trung được như trước.
Có nỗi khổ nào hơn khi thấy con gái út 6 tuổi bị khủng bố tâm lý khi họ đánh bắt người bố yêu quý của nó trong bữa ăn, ngay trước mắt nó, đó là một đòn đánh dã man vào tâm hồn thơ dại con gái bé nhỏ của em, thế mà anh lại nói: "Em đang được sống trong môi trường Hòa bình, Tự do, Hạnh Phúc" là sao?
Mẹ con em lo lắng cho người thân thì không được phép bày tỏ ra sao? 
Có luật nào cấm người thân, người nhà ruột thịt của người bị đánh, bị bắt, bị giam không được nói ra sự lo lắng buồn phiền trong lòng không?
Nếu cấm, thì còn là xã hội "người với người không", còn có Nhân quyền không?
- Ơ sao tự nhiên em lại nổi nóng với anh? 
- Là từ khi mỗi lần được tiếp xúc bên An ninh các anh là em lại nổi nóng đấy. Em rất cảm ơn sư quan tâm của anh nhưng từ nay nếu điện thoại để khuyên em thì ko cần đâu.
Xin mọi người giải thích giúp tôi như thế nào là phản quốc? 
Chồng tôi, người nói lên sự thật vì đất nước, vì công lý, vì môi trường sống lại đang bị bắt giam với "tội phản quốc", và bị "bạn bè" xa lánh, là vì sao?